Bài báo

Vài nhận xét về thế cờ ngoại giao trong bán đảo Đông Dương đầu thế kỷ XIX

Nguyễn Thế Anh

 

Vào đầu thế kỷ thứ XIX, nếu bản đồ chính trị của bán đảo Đông Dương đã có vẻ được xác định rõ rệt với sự thành lập ba vương quốc hùng mạnh, Đại Nam ở phía đông, Xiêm La trong lưu vực con song Menam, Miến Điện ở phía tây, mà người Âu châu quen gọi là vương quốc Ava, hình như người ta vẫ chưa đạt tới được một thế quân bình lực lượng trong bán đảo này.

Thât vậy, các vị vua cai trị các vương quốc nói trên đều thuộc những dòng họ tương đối mới mẻ và tuy chỉ mới ổn định xong tình hình nội bộn, đã muốn tìm cách bành trướng thế lực ở bên ngoài. Sự giao hảo ngoài mặt giữa vua Gia Long của nước Đại Nam với các vua Xiêm La Rama I (1782-1809) và Rama II (1809-1824) vẫn không che daasu được sự tranh giành ảnh hưởng của hai vương quốc này trên đất Chân Lạp. Bên phía tây bán đảo, chính sách hiếu chiến của vua Miến Điện Bodawpaya (1782-1819) đã đưa đến nhiều sự xung đột với Xiêm La, kể từ khi Bodawpaya tấn công nước này lần đầu tiên vào năm 1786; hòa ước ký kết giữa Xiêm La và Miến Điện năm 1793, theo đó miền duyên hải Tenasserim được sáp nhập vào Miến Điện cũng chỉ xoa dịu mối bang giao giữa hai nước trong một thời gian ngắn ngủi. Ngoài ra, kể từ khi chiếm được xứ Arakan năm 1784, Bodawpaya cũng đã trở thành một mối đe dọa đối với Đông Ấn Công Ty Anh, vốn đã bắt đầu làm chủ một phần lớn bán đảo Ấn Độ. Mối đe dọa này trở nên trực tiếp vào năm 1817, sau khi quân Miến Điện xâm lăng xứ Assam, và nhất là vào đầu năm 1822, khi quân đội của tướng Miến Điện Maha Bandula lăm le tràn từ Assam vào miền Bengale. Đồng thời, các biến cố cũng xảy ra bên trong bán ddarp mã Lai, tại đó Đông Ấn Công Ty Anh đã lập được một căn cứ ở Penang cũng khiến người Anh bận tâm không ít; năm 1821, quân Xiêm La, đặt dưới sự điều khiển của vị Rajah xứ Ligore, tấn công lãnh thổ Kedah, mà vị Rajah hai năm về trước đã theo phe Miến Điện; sự tấn công này có thể gây thiệt hại cho căn cứ của Đông Ấn Công Ty Anh, nằm sát cạnh.

Các biến cố quân sự nói trên khiến các lực lượng đối diện nhau phải có những cố gắng về mặt ngoại giao, để tự tìm cho mình đồng minh. Điều này giải thích phái bộ John Crawfurd mà Thống Đốc Ấn Độ phái tới Xiêm La và Đại Nam năm 1821-1822, và sứ bộ mà vua Miến Điện Magyidaw (1819-1838) phái tới Đại Nam năm 1823.

Việc Miến Điện phái sứ bộ tới Đại Nam không phải hoàn toàn là một việc làm đơn phương của vua Miến Điện bị thúc đẩy bở long lo ngại trước một liên minh gồm nhiều kẻ thù đáng sợ, mà cũng đã được phát khởi do một sang kiến của Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Về điểm nàu, tài liệu sử của nhà Nguyễn chứa đựng một số sự kiện mâu thuẫn với nhau

  • Trước hết, các nhà chép sử của Quốc sử quán ghi lại sứ bộ Miến Điện đã chỉ là kết quả của một sự tình cờ:” Khi trước Tổng trấn Gia DDijnhlaf Lê Văn Duyệt sai thuộc hạ là Nguyễn Văn Độ đi thuyền buôn sang các nước bên ngoài nước Hồng mao tìm mua đồ binh dụng, bí gió bạt đến trấn Đào Quai nước Miến Điện. Quan trấn ấy bắt ĐỘ đưa về thành An Hòa. Vua nước ấy ngờ Độ là gián điệp của nước Xiêm, xét hỏi nghiêm ngặt. Đến lúc biết là người nước ta, bèn hậu đãi đưa về…”
  • Năm 1835, khi liệt kê các tình tội của Lê Văn Duyệt, các quan Nội các là Hà Tôn Quyền, Nguyễn Tri Phương, và Hoàng Quýnh lại trình với vua Minh Mạng là: “năm Minh Mạng thứ tư, Duyệt tự tiện sai bịn Phan Đồng Đạt là người của hắn, mượn tiếng đi dò thám, đáp thuyền riêng đi Miến Điện; trong việc này văn thư hẳn có sự thông chiêu nộp…”

Sự thật, trong bức quốc thư sứ bộ Miến Điện mang theo, mà bản dịch ra Pháp ngữ còn được lưu trữ tại văn khố của India Office tại Luân Đôn, được ghi rõ những sự kiện xảy ra trước khi sứ bộ này được cửa đi. Theo bức thư này, có hai phái viên người Việt là Ong Doi Lam va Thu Hap Vinh, đã đến Penang và gặp tại đây một Hoa kiều lập cư tại Miến Điện và là chủ “chủ nhân các đảo và núi sản xuất yến sào”. Sau khi đã thông báo cho nhân vật này sứ mạng của họ, họ được dẫn đén kinh đô Miến Điện; tại đây, các phái viên đã dâng lễ vật gồm những khí giới và lụa là lên vua Miến Điện, nhưng nhà vua đã mất, và phải đợi hai năm sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, dự định này mới được thực hiện. Ong Doi Lam cũng them là người Việt đã gặp khó khan với người Xiêm về vấn đề Chân Lạp, và nếu hai nước Đại Nam và Miến Điện liên minh với nhau, sẽ không khó gì mà thắng Xiêm La để sau đó có thể thiết lập những sự giao thông dễ dàng giữa hai nước.

Có thể bạn quan tâm:   ANH EM NHÀ CARAMAZOV

Sau sự tiếp xúc với các phái viên nói trên của Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, một sứ bộ được vua Miến Điện phái sang Đại Nam đầu năm 1823, mang theo một số phẩm vật và được giao phó toàn quyền thương lượng về các điều kiện liên minh giữa hai nước. Sứ bộ gồm một Chánh sứ, ba Phó sứ, ba Bồi tụng và bốn mươi người đi theo. Bức thư vua Bagyidaw gửi vua Minh Mạng ghi rõ danh tính của các sứ giả này:

  • Nemis Siri Sura Noratha
  • Nemis Fazaon
  • Nemis Siri Raja Gounarat
  • Nemis Tederat Kio
  • Seidi Noratha
  • Nemi Siri Kiojna
  • Siri Chienda Noratha

Vị Chánh sứ, Nemis Siri Sura Noratha, là một nhân vật đáng được chúng ta chú ý đến. Đây là danh xưng Miến Điện củ George Gibson, một người lai Cha Anh mẹ Nam Ấn Độ, sinh trưởng tại Madras, nhưng đã sống lâu năm tại Miến Điện và giữ nhiều chức vụ quan trọng tại đây; ông nói thông thạo tiếng Miến Điện và hiểu rõ các phong tục tập quán của người Miến Điện; ngoài ra, ông cũng đã tới Việt Nam một lần vào năm 1798, trên một chiếc thuyền Đan Mạch.

Sứ bộ cầm đầu bởi George Gibson rời Rangon vào đầu tháng Giêng 1823 và tới Penang ngày 26 tháng 2, sau khi đã ngừng lại tại Tavoy vài ngày. Sứ bộ đương chuẩn bị lên đường qua Đại Nam thì tai nạn xảy ra: thuyền của sứ bộ phát lửa cháy và bị thiêu hủy hoàn toàn. Vị đại diện của Đông Ấn Công ty Anh ở Penang phải cho sứ bộ vay một số tiền là 4.000 dollars và can thiệp để sứ bộ đáp một chiếc thuyền Bồ Đào Nha đương sửa soạn đi Macao. Để đổi lại sự giúp đỡ này, George Gibson hứa sẽ ghi lại trong một quyển nhật ký tất cả những sự việc xảy ra trong khi ông hoành thành sứ mạng của ông. Bản thảo quyển  nhật ký này sẽ được trao cho vị công sứ Anh, John Crawfurd, ở Singapore năm 1824, khi George Gibson trỏe về từ Gia Định. Tài liệu này cho chúng ta đầy đủ chi tiết về hoạt động của sứ bộ trong thời gian ở Đại Nam.

Tới Vũng Tàu ngày 1-6-1823, sứ bộ Gibson vào đến Cần Giờ ngày 3-6-1823; từ đây, sứ bộ được hộ tống ddeeesn Sài Gòn (Chợ Lớn_ trên bốn chiếc thuyền do Tổng trấn Gia Định phái tới. George Gibson và phái đoàn của ông là khách của thành Gia Định ròng rã 10 tháng trời, đến ngày 14-3-1824, sứ bộ mới rời Sài Gòn. Thủ tục ngoại giao rườm rà của nước Đại Nam (văn thư phải dịch đi dịch lại nhiều lần và chuyển về kinh để nhà vua quyết định), tính chất mới mẻ của sự giao thiệp giữa hai nước Đại Nam và Miến Điện đòi hỏi nơi triều đình Đại Nam một sự cân nhắc kỹ lưỡng, đó là những nguyên nhân giải thích sự đắn đo của vua Minh Mạng trong việc trả lời cho sứ bộ Miến Điện: nhà vua có chỉ dụ là “… người nước Miến Điện từ xa xôi vượt biển mà đến chưa nên vội khiến họ đi…”. Trong suốt thời gian lưu lại tại trấn Gia Định này, sứ bộ được khoản đãi nồng hậu: quan Tổng trấn Gia Định dành cho sứ bộ một sở công quán và một sự cung cấp tiền bạc và thực phẩm đầy đủ: kể từ tháng 8 năm 1823 trở đi, theo lệnh của nhà vua, mỗi tháng sứ bộ được cấp đều đều 172 quan tiền và 47 vuông gạo trắng. Ngoài ra, nhiều cuộc giải trí được tổ chức cho sứ bộ.

Có thể bạn quan tâm:   I. A. BUNHIN TUYỂN TẬP TÁC PHẨM

Các buổi tiếp kiến của George Gibson với tả quân Lê Văn Duyệt và các viên chức của ông cho thấy rằng các nhân vật này am tiểu tường tận tình hình quốc tế, có lẽ nhờ ở vai trò của thành Gia Định như là trung tâm, tại đó đã thực hiện nhiều cuộc tiếp xúc với thế giới bên ngoài nước Đại Nam. Vài thắc mắc được đặt ra về tính chất thiết thực của một sự liên minh giữa Đại Nam và Miến Điện, nhất là vì hai nước ở quá xa nhau, khó long mà có được một hành động chung trong việc hiệp kích Xiêm La; cũng có những câu hỏi về lực lượng thực thụ của Miến Điện, vì xứ này đã bao lần tấn công mà không thể đè bẹp Xiêm La. Tả quan Lê Văn Duyệt còn tỏ cho thấy ông theo dõi sát sao các biến cố đang diễn ra trong bán đảo Mã Lai: ông cho rằng chiến tranh có thể xảy ra giữa bên người Anh và người Xiêm vì vấn đề Kedah, và người Anh sẽ nhòm ngó Junk-Ceylon, Pulo Lada, Kedah và Perak vì những lãnh thổ này cần thiết để khiến Penang trở thành một đại trung tâm thương mãi.

Nếu Tả quân Lê Văn Duyệt nghiêng về việc thực hiện liên minh Đại Nam-Miến Điện, ông không thể quyết định trái với ý vua Minh Mạng. Nhiều dấu hiệu cho thấy nhà vua và một số đại thần tại triều đình đã bắt đầu nghi ngờ vị Tổng trấn Gia Định: đầu tháng 7-1823, Lê Văn Duyệt nhận được một bức thư do viên Tổng đốc Anh ở Penang gửi cho ông, nhưng không dán mở ra xem và phải chuyển đệ về triều, vì sợ rằng nhà vua đã ngờ vực ông bí mật liên lạc với người Anh. Lê Văn Duyệt đã chỉ có thể trấn an nhiều lần với George Gibson bằng cách nói rằng ông sẽ cố gắng hết sức để giúp sứ bộ Miến Điện đạt được kết quả mong muốn.

Tổng trấn Gia Định nhận được lệnh nhà vua triệu ông về kinh ngày 4-8-1823, nhưng phải đến ngày 19-11-1823, ông mới lên đường. Song mãi đến đầu năm 1824, George Gibson mới được thông báo kết quả của các cuộc bàn cãi tại triều đình về việc liên minh giữa Đại Nam và Miến Điện.

Tại triều, Tả quân Lê Văn Duyệt đã cố gắng biện hộ cho việc liên minh với Miến Điện; ông viện lẽ rằng nhờ người Miến là kẻ thù thâm niên của người Xiêm mà Đại Nam có thể làm chủ được cả Chân Lạp và sau đó có thể thiết lập một sự mậu dịch với Miến Điện có lợi cho cả hai bên. Trong số các đại thần, nếu có người không muốn tách rakhor đường lối ngoại giao cố hữu, thì cũng có người tỏ ý không muốn khươc từ đề nghị của vua Miến Điện: “… Bọn Nguyễn Đức Huyên, Trần Văn Tinh cho là nước Miến Điện cùng nước Xiêm thù nhau lâu đời, nay đến thông hiếu, mà lại giao thông với nước Diến Điện thì người Xiêm chưa chắc khong ngờ, không bằng hậu tứ mà bảo về. Bọn Nguyễn Hữu Thận, Nguyễn Văn Hưng cho rằng dắt díu người phương xa đến, đời xưa lấy làm răn; nhưng kẻ mến nghĩa mà đến, cũng không nên cự. Huống chi Diến Điện thù với Xiêm, không can thiệp gì đến ta, ta khước từ Diến Điện, người Xiêm chưa chắc cám ơn ta. Xon cứ nhận lấy”.

Nhưng vua Minh Mạng nghĩ rằng không lợi đổi sự giao hảo sẵn có với nước Xiêm La kế cận, lấy sự bang giao với Miến Điện mà người ta chưa biết rõ lắm. Cái nhìn chính trị thực tế của nhà vua không hoàn toàn bị che đậy bởi các sáo ngữ trong lời dụ sau: “Trẫm nghĩ Hoàng khảo thế tổ Cao hoàng đế ta sang Chiêm, vua trước nước ấy đã sai quân giúp một lần, nhưng sai tướng không được người khá, đến đâu cũng cướp bóc, làm mất lòng dân, nhân đó bị giặc đánh tan phải chạy, từ đó về sau sợ oai giặc, không dám hé rang nói đến việc xuất binh nữa, cho nên Hoàng khảo ta, không ngoan tính trời, biết cơ đã đến, không cần phải mượn quân của họ mà bị kiềm chế, bèn tự quyết định, liền đêm đi đường biển về nước, từ đấy chiêu tập những người cữu thuộc, rộng nộp những người mới đến, oai trời đến đâu, giặc đều tan vỡ, rồi lấy cả nước, thống nhất giang sơn, có them nhờ một mũi tên, một tấc gươm của nước Xiêm đâu… nhưng hoàng khảo ta tại nghĩ tấm long tốt buổi đầu của người Xiêm, họ lại là láng giềng, nên từ trước đến giờ vẫn giao hiếu. Trẫm noi theo phép cũ, há lại nghe lời nói ngoài mà tự mình khước bỏ nghĩa láng giềng. Nếu ngày khác nước Xiêm mưu điều không tốt mà gây hấn ở ngoài biên, thì đã có lẽ phải trái, bên nào phải thì khỏe, trời sẽ giúp cho, mà việc làm một nửa thu công gấp đôi. Nay tự trẫm xem ra thì quyết không lẽ bỏ giao hiếu gây hiềm thù để nhọc quân lính. Vậy lời xin của nước Diến Điện không cho thi hành…”

Có thể bạn quan tâm:   TỪ ĐIỂN MINH HỌA ANH-PHÁP-VIỆT

Vì vậy, Gibson được thông báo là ông đã thất bại trong sứ mạng của ông. Các lễ phẩm sứ bộ Miến Điện mang đến được hoàn trả, ngoại trừ một cái nhẫn vàng khảm hồng bảo thạch; một số tặng phẩm được trao cho sứ bộ, cùng với 516 quan tiền và 141 thúng gạo làm lộ phí ba tháng. Mặt khác, vua Minh Mạng ra ệnh phái Quản cơ Nguyễn Văn uẩn, Chánh tuần Hải đô dinh Hoàng Trung Toàn và Lâm Định Trực đem ninh thuyền hộ tống sứ thần Miến Điện về nước. Đồng thời, nhà vua cũng cho phái viên sang Xiêm La thông báo về việc nhà vua khước từ đề nghị liên minh của Miến Điện.

Rời Sài Gòn ngày 14-3-1824, mãi đến ngày 30-3-2824, thuyền của sứ bộ Gibson mới nhổ neo khỏi Vũng Tàu. Thuyền cập bến Singapore ngày 9-4-1824; vào lúc này, chiến tranh đã bùng nổ giữa người Anh và người Miến, thuyền của sứ bộ được người Anh hộ tống trên đường từ Penang đến Tavoy. Vì vào đầu tháng 5-1824, quân Anh chiếm được một phần miền Nam Miến Điện, các sứ giả Miến Điện mới từ Đại Nam về đã trở thành tù binh của người Anh, trong khi các phái viên của vua Minh Mạng được trả tự do. George tình nguyện làm thông ngôn cho bộ chỉ huy của quân đội Anh, nhưng chết vì dịch tả vài tháng sau, khi quân Anh tiến chiếm Prome.

Những biến cố quân sự xảy ra ở Miến Điện trong năm 1824, có vẻ chúng minh là vua Minh Mạng đã có lý trong việc từ chối những sự liên hệ với quốc gia này. Thế nhưng, thời gian cho thấy là Tả quân Lê Văn Duyệt đã nìn xa hơn trong việc tìm kiếm đồng minh để đối phó với Xiêm La: trong những năm tới, Xiêm La sẽ gây nhiều khó khan cho Đại Nam, nhất là từ năm 1833 trở đi. Rieng đối với cá nhân Lê Văn Duyệt, sứ bộ vua Miến Điện phái đến Đại Nam năm 1823 chứa đựng những hậu quả lâu dài và bất ngờ: sau loạn Lê VĂn Khôi, vua Minh Mạng sẽ dựa vào đây để truy tội vị cố Tổng trấn Gia Định, kết án ông dự mưu làm phản: ”…Sứ Diến Điện đến thành Gia Định, bấy giờ mới đem việc tâu lên. Việc đã được dụ bảo phải xử đoán theo đại nghĩa, không nên nhẹ dạ nghe người ngoài nói mà bỏ giao hiếu, gây cừu thù, thế mà Duyệt còn cố xin dung nạp. May mà trả lại những đồ công phẩm, cho sứ giả về nước, danh nghĩa nướ lớn được sang tỏ với thiên hạ. Thế là Duyệt chẳng những vụng tính việc nước, mà lại cố muốn giữ kiến riêng để bào chữa cho điều đã sai trái…”


Nguồn: Triều Nguyễn và lịch sử của chúng ta. nxb Hồng Đức 2013

Nhatbook: Bài này được admin đánh máy lại với thời gian gấp gáp nên không thể đính kèm những chú thích của tác giả. Nếu các bạn muốn tìm hiểu thêm thì vui lòng tham khảo file scan bài viết tại đây.

Advertisements

Gửi phản hồi