Nhặt lá

Tiểu thuyết hiện đại


Virgina Woolf |


Virgina Woolf (1882-1941) là tiểu thuyết gia, nhà phê bình, lý luận nổi tiếng, đồng thời nhà người đấu tranh cho sự bình đẳng của phụ nữ không biết mệt mỏi. Bà là một trong những cây bút kiệt xuất của văn chương Anh ở thế kỷ XX và là con của nhà phê bình văn học lừng danh thế kỷ XIX, Leslie Stephen. Bà chẳng bao giờ đặt chân vào một trường đại học chính quy nào cả. Song với tài năng, vốn học thức tự học và qua sự giúp đỡ của người cha, bà dễ dàng trở thành thành viên chủ chốt của nhóm Bloomsbury-nhóm các trí thức Anh phát triển trong khoảng những năm 1910-1930. Vào thập kỷ hai mươi của thế kỷ XX, Woolf được thừa nhận như một trong những nhà văn tiêu biểu, thành công trong việc sử dụng “dòng ý thức”. Tác phẩm nổi tiếng của bà gồm có: Bà Dalloway (1925), Đến ngọn hải đăng (1927), Những con sóng (1931)… Vào cuối đờ, do bệnh tật, bà đã trầm mình xuống dòng sông Ouse, gần nhà của bà ở Sussex.


Bất kỳ một khảo sát nào về tiểu thuyết hiện đại, dẫu có sự tự do và lỏng lẻo nhất thì ta cũng khó thể chấp nhận rằng thực tiễn nghệ thuật hiện đại bằng cách nào đó là sự cải tiến dựa trên các sáng tác trước. Thông qua chất liệu nguyên sơ và kỹ thuật đơn giản, người ta có thể phát biểu William G. Fielding viest hay và Jane Austen lại viết hay hơn. Nhưng làm thế nào để so sánh thành quả của họ với những gì đã đạt được trong thời đại của chúng ta! Nhiều kiệt tác của họ chắc chắn sẽ có một không khí cực kỳ đơn giản. Và chưa hết, sự tương đồng giữa văn học và một tiến trình, chẳng hạn như chế tạo ô tô, là ở chỗ nó sẽ chẳng thể nào y hệt như dáng vẻ được dàn dựng bạn đầu. Người ta đã nghi ngờ về quan niệm cho rằng có một thị hiếu hay phong cách nào đó tồn tại hàng bao thế kỷ. Và dẫu cho chúng ta đã nghiên cứu rất nhiều khía cạnh về sáng tác văn chương thì không vì thế mà chúng ta có thể viết tốt hơn. Tất cản những gì văn nghệ sĩ được khuyến khích để hành động là cứ tieeso tục đi lên. Bây giờ có ai đó đi theo hướng này, còn người kia theo lối nọ, song với chiều hướng đường xoắn ốc thì toàn bộ các nhánh nhỏ văn chương ấy đều được quan sát từ một điểm chóp lừng lững. Không cần phải nhắc chúng ta đừng nên phàn nàn (dẫu chỉ một lời) về chỗ đứng trên mặt đất đã bị tước đi biết bao điều thuận lợi của thế kỷ XX này. Giữa thế giới nhạt nhẽo, đông nghẹt, với thị lực nhòa theo đám bụi mù, chúng ta ngoái nhìn trở lại, đầy ghen tỵ tước những chiến binh hạnh phúc hơn tấy. Trận đánh của họ được bao phủ trong bầy không khí viên mãn tĩnh lặng đến nối chúng ta khó có thể kìm lại lời thì thầm rằng cuộc chiến ấy đã hông quá khắc nghiệt đối với họ cũng như đối với cả chúng ta. Tuy nhiên điều ấy phải để cho các chuyên gia văn học sử quyết định. Và họ cũng phải nói rõ bây giờ chúng ta đang đứng ở đầu, ở cuối hay ở đoạn giữa của tiến trình sáng tác những áng văn hư cấu tuyệt diệu cùng với những đáng giá chân thực nhất của họ. Chúng ta chỉ hay: lòng biết ơn, ý thức nổi loạn đang truyền cảm hứng trong ta, và vài con đường nào đó sẽ dẫn dắt ta đến miền đất hứa, còn những nẻo khác sẽ đưa ta vào mê cung hoặc sa mạc khô cằn. Trước thực tế này, bất kỳ một nỗ lực nào để chọn hướng đi cho nghệ sĩ cũng rất có thể mang lại những thành công có giá trị…

Trí não con người ghi nhận vô số những ấn tượng từ sự tầm thường, điều tuyệt diệu đến các cảnh vật chóng nhạt nhòa hoặc khắc sâu với những vế hằn vĩnh cửu. Trên các nẻo đường đi đến, chúng hiện diện như cơn mưa rào triền miên của vô khối những sự kiện. Khi chúng rơi, như được định hình trong cuộc sống vào ngày thứ hai hay thứ ba, các tiếng động hôm nay đã khác xa những âm thanh ngày xưa cũ; khoảnh khắc linh thiêng vụt đến không chỉ ở đây mà còn ở kia. Nếu nhà văn là con người tự do, không phải là nô lệ, nếu anh ta có thể viết những gì anh ta chọn, không phải những gì anh ta phải chọn, nếu anh ta xây dựng tác phẩm của mình dựa trên quan điểm riêng, không lệ thuộc vào những gì đã được định hình trong quá khứ thì ngày nay, tác phẩm của y sẽ chẳng còn cốt truyện, cái hài, cái bi, tình yêu hay thảm họa trong lối văn phong đã được định hình. Có lẽ, không như chiếc cúc đơn độc được đính vào áo như gã thợ may trên phố Bond đã từng làm, cuộc sống không là dãy đèn đường được bày bố đúng cự ly, mà là vầng hào quang sáng chói, là môi trường có thể nhìn xuyên thấu bao quanh chúng ta kể từ khi con người biết suy nghĩ, cho đến lúc xuôi tay. Chúng ta không thể đòi hỏi tiểu thuyết gia phải khảo sát tất cả sự đa dạng, sự mơ hồ và linh hồn vô hạn định ấy. Liệu nhiệm vụ của nhà tiểu thuyết là không phải phản ánh sự phong phú, điều chưa biết và dòng tư duy chưa hoàn kết này? và bất kỳ sự rối rắm, phức tạp nào mà tác tả đã ghi nhận với càng ít sự kết hợp giữa các yếu tố xa lạ, tách rời là càng tốt? Chúng ta không chỉ biện minh cho lòng can đảm và sự trung thực mà cũng đang thuyết phục rằng loại tiểu thuyết đích thực ấy chỉ chiếm khối lượng vô cùng bé nhỏ khi so với cả lịch sử tiểu thuyết của chúng ta.

Dựa vào các sáng tác theo mô hình này, chúng ta tìm ra những đặc điểm, tình cảm để dùng nó làm tiêu chí phân biệt tác phẩm của các nhà văn trẻ (mà James Joice là người đáng lưu ý nhất) với tác phẩm của các nhà văn lớp trước. Họ nỗ lực tiếp cận gần cuộc sống hơn, tái hiện trung thực và chính xác hơn những gì khiến họ quan tâm và cảm xúc, dẫu cho để làm được điều đó, họ phải phớt lờ các kỹ thuật truyền thống vốn luôn được vận dụng ở các tiểu thuyết khác. Hãy để chúng tôi ghi lại những sự kiện nhỏ nhặt khi chúng rơi vào tâm trí theo trật tự rơi của chúng, hãy để chúng tôi lần theo mô hình ấy. Dĩ nhiên việc làm đó sẽ mang lại sự thiếu logic và lủng củng cho sự tái hiện bởi ý thức của con người là nơi chất chứa vô số các sự kiện xuất hiện, đan xen ngẫu nhiên. Hãy để cho chúng tôi không phải xem cuộc sống tồn tại ở văn bản nghệ thuật này là phong phú, sâu sắc hơn ở tác phẩm kia theo cách đáng giá thông thường. Bất kỳ ai đã từng đọc Chân dung nghệ sĩ như một người đàn ông trẻ hoặc tác phẩm hứa hẹn sự thú vị hơn nữa, Ulysses, đang được in trên Bình luận Vắn, thì cũng sẽ mạo hiểm đưa ra lý luận nào đó trước hiện tượng ấy cũng như đối với dự định sáng tác của Joyce. Về phần chúng tôi, trước những mẩu vụn vỡ ấy, chúng tôi chỉ mạo hiểm nêu ý kiến hơn là khẳng định.

Nhưng nhìn tổng thể, sẽ còn lại gì? Ngoại trừ lối sáng tác đó gần như là cách viết chân thực và hiệu quả, mà chúng ta có thể phát xét là khó hiểu hay chẳng dễ chịu, song đó là điều quan trọng không thể phủ nhận. Khác với những nhà văn này là các nghệ sĩ theo khuynh hướng chủ nghĩa vật chất. trong khi đó Joyce lại lấy tinh thần con người làm đối tượng để tái hiện. Bằng mọi cách, ông đã ghi nhận lại những tia sáng lóe lên từ ngọn lửa tận thăm sâu của tâm hồn. Những chớp lóe mang theo các thông điệp của chúng bất chợt hiện diện trong đầu chúng ta. Để ghi nhận được điều đó, với thái độ can đảm lạ thường, Joyce đã quảng bỏ hết các kỹ thuật truyền thống để hướng theo những phiêu lưu bất tận của mình. Hoặc giả nó mạch lạc, có thể tiếp nhận; hoặc giả đây chỉ là những tín hiệu khác mà suốt hàng bao thế hệ, nghệ sĩ dùng nó để gợi lên các hình tượng trong hồn độc giả mà ý thức độc giả chưa bao giờ chạm đến hoặc thấu hiểu. Chẳng hạn như đoạn miêu tả nghĩa địa với các đường nét, cảnh quan lụp xụp, sự thiếu rõ ràng của nó cùng với những chi tiết chuyển tải nghĩa bất chợt lóe sáng đã là bằng chứng để ta không thể không thốt lên đấy là một kiệt tác thực sự. Nếu chúng ta muốn cuộc sống được tái hiện y bản thân nó, thì ở đấy niềm mong ước của chúng ta được thực hiện. Còn nếu chúng ta cố gắng nói khác đi những gì mình khao khát, thì nó chỉ làm ta cảm nhận được sự vụng về kỳ quặc của chính bản thân mình. Với các sáng tác có nguồn gốc nghệ thuật như trên (cuộc sống như chính cuộc sống) thì việc so sánh giữa chúng với Tuổi Hoa NiênThị trưởng Casterbride sẽ thất bạn bởi lẽ nếu muốn đối chiếu, thì chúng ta phải chọn những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao hơn. Nó thất bại bởi lẽ sự nghèo nàn trong tâm thức nhà văn được đem ra so sánh, còn câu chuyện thì độc giả có thể dễ dàng kể lại, và thấu hiểu ngay. Những vẫn còn đó khả năng để suy ngẫm thêm nữa và tự vấn xem liệu chúng ta không thể viện dẫn việc ý thức về sự tồn tại của mình trong một không gian hẹp, tối, tù túng, và bị đóng kín hơn là tồn tại ở một nơi thoáng mát, tự do, để ám chỉ hạn chế nào đó do phương pháp cũng như dự định sáng tác của tác giả mang lại? Có phải phương pháp ấy ẩn chứa sức mạnh sáng tạo? hay bởi vì nó mà chúng ta chẳng thể cảm nhận được cả niềm vui lẫn sự độ lượng đang lưu tồn trong cá thể mà bất chấp sự rung động tình cảm, nó chẳng bao giờ chuyển tải hoặc sáng tạo ra những gì bên ngoài hay vượt quá những chuyển vận của tư duy. Sự nhấn mạnh, có lẽ khá nghiêm ngặt, được đặt trên các hành vi thiếu đứng đắn, có làm tăng thêm ảnh hưởng của các phần tử đồi bại và ly cách? Hoặc giả nó chỉ nhằm chỉ ra rằng, bất kỳ một nỗ lực nào từ xuất phát điểm nghệ thuật như thế sẽ mang lại các điều kiện thuận lợi, đặc biệt đối với các nhà đương đại, để họ cảm nhận được sự nông cạn của những gì ẩn nấp dưới những tên gọi được can đảm đưa ra? Dẫu sao đấy chỉ là lỗi lầm khi đứng bên ngoài để phán xét “phương pháp”. bất kỳ phương pháp nào cũng đúng, mỗi một phương pháp đều đúng. Phương pháp là con đường để bộc lộ những gì chúng ta mong ước, nếu chúng ta là nhà văn; và khi chúng ta là độc giả, phương pháp này chie là giá trị đưa chúng ta đến gần hơn những gì chúng ta được chuẩn bị để gọi tên chính bản thân cuộc sống. Chẳng có bất kỳ cách đọc Ulysses nào lại có thể tính được bao nhiêu bị phớt lờ, bỏ qua. Bản thân phương pháp sẽ chẳng gây ra cú sốc cho độc giả khi họ lần mở những dòng của Tristram Shandy (của Lawrance Stern 1713-1768) hay thậm chí Pendennis, song sẽ bị thuyết phục bởi chúng rằng ở đấy không chỉ có các phương diện khác của cuộc sống mà còn có cả những khía cạnh quan trọng hơn đã được tính toán.

Dĩ nhiên, ở hiện tại cũng như trong quá khứ mà chúng ta từng biết, vấn đề đặt ra cho các tiểu thuyết gia là phương phương pháp có thể mang lại cho họ nhiều thuận lợi để tự do tái hiện lại những gì mình chọn lựa. Y phải đủ can đảm để nói rằng điều khiến y quan tâm không còn phù hợp nữa. Bây giờ nó không phải “phương pháp này” mà là “phương pháp kia”; chỉ với phương thức ấy y mới sáng tạo được sản phẩm. Đối với các nhà hiện đại “cái kia” (điểm được quan tâm) nằm đúng ngay trong những vùng tối của trạng thái tâm lý. Chính vì thế, ngay lập tức nhiều tiếng nói được phát ra đã khá khác nhau; sự nhấn mạnh các phạm vi đạo đực đã bị tẩy chay; các khía cạnh bị xem là thứ yếu ngay bây giờ đẫ trở nên thiết yếu, thật khó cho các bậc tiền bối thấu hiểu và tán thành chúng ta. Chẳng một ai ngoại trừ các nhà tiểu thuyết hiện đại, không một ai ngoại trừ một tác giả Nga là Chekhov mới có thể đảm nhận được sức hấp dẫn của tình huống mà ông dã đưa vào truyện ngắn có tên gọi là Gusev. Vài binh sĩ Nga nằm chết trên boong của một con tàu đang trên đường đưa họ quay về nước Nga. Tác giả phác họa vài mẩu đối thoại của họ, sau đó một người qua đời rồi được mang đi, cuộc đối thoại vẫn được tiếp tục thêm lát nữa cho đến lúc Gusev chết và nằm trông “giống như một củ cà rốt hay một củ cải” bị quẳng lên boong. Trọng tâm của câu chuyện được đặt trên những chi tiết bất ngờ. Thoạt nhiên câu chuyện như thể chẳng tập trung vào bất cứ điều gì, rồi sau đó khi mắt đã quen dần với bóng tối và phân biệt được các vật thể trong không gian, chúng ta mới thấu hiểu độ uyên bác, phức tạp của câu chuyện cũng như toàn bộ ý nghĩa toát lên từ điểm nhìn tác giả. Chekhov chọn lựa các chi tiết, rồi kết hợp chúng lại với nhau để sáng tạo nên điều mới lạ thần kỳ. Song thật khó có thể cho rằng “điều này khôi hài” hoặc ” điều kia bi đát” như chúng ta đã từng được dạy để đánh giá, kể từ khi truyện ngắn được yêu cầu viết ngắn và có đoạn kết. Còn với Gusev, cốt truyện thì mơ hồ và chẳng có kết, thì có nên gọi là truyện ngắn hay không?

Những thành tố đầu tiên đã để lại dấu ấn trên thể loại hư cấu Anh hiện đại sẽ khó tránh khỏi sự ảnh hưởng của Chekhov. Và nếu người Nga được lưu ý cho biết có một ai đó đang mạo hiểm viết theo phong cách mới thì người ấy hẳn sẽ cứu được cuộc sống của tiểu thuyết Nga. Nếu chúng ta muốn hiểu linh hồn và tình cảm ở một xứ sở nào khác thì liệu chúng ta có tìm thấy nó ở độ uyên thâm kia không? Nếu chúng ta ngột thở trong thế giới vật chất này thì chí ít đã có một đội ngũ triết gia khá đông đảo có quyền khai sinh ra thể loại tiểu thuyết biết trân trọng một cách tự nhiên đối với đời sống tinh thần của con người…Nhưng hãy đặt niềm cảm thông ấy ra khỏi suy nghĩ (vì nó dễ dàng xuất hiện trong ý tưởng), mà phải để nó đi với trái tim cùng tình yêu hướng đến nhân loại. trong mỗi một nhà văn Nga vĩ đại, chúng ta dường như đang nghe lời nhắc nhủ của một vị thánh, nếu sự cảm thông dành cho nỗi đau của những người khác, tình yêu cũng dành cho họ, sự gắng sức vươn đến mục đích giá trị nào đó của những yêu cầu xác đáng nhất của tinh thần thánh thiện cũng hướng về họ. Có một vị thánh trong tâm hồn các nhà văn ấy. Đức tin đó làm chúng ta kinh ngạc trước những cảm xúc tầm thường vô tín ngưỡng của chúng ta. Nó biến rất nhiều các nhà văn nổi tiếng của chúng ta thành kẻ khoác lác và giả dối. Những kết luận của lối tư duy Nga, chính vì thế dễ hiểu và đầy cảm xúc, có lẽ sẽ không tránh khỏi một nỗi buồn day dứt. Thực ra, chính xác hơn, chúng ta có thể đề cập đến sự chưa hoàn kết của cách tư duy Nga. Đấy là cảm giác mà chẳng có câu trả lời và nếu cuộc sống được quan sát trung thực thì các câu hỏi sẽ được tái hiện lần lượt tiếp theo nhau. Những vấn đề ấy được tiếp tục truyền đi sau khi câu chuyện đã kết thúc trong sự thăm dò vô vọng và dần đẩy tâm hồn ta đến một nỗi niềm vô cùng tận, để cuối cùng nó có thể chấm dứt với sự phẫn nộ hay tuyệt vọng. Không nghi ngờ gì nữa, chắc hẳn các nhà văn đã đúng. Họ có thể nhìn xa hơn chúng ta mà không có những khuyết tật thiếu đúng đắn trong cách nhìn của chúng ta. Song có lẽ chúng ta cũng hiểu được điều gì đó khác xa từ họ, hoặc giả tại sao giọng diệu phản đối ấy, lại tự trộn lẫn với nỗi chán chường của chúng ta?

Giọng điệu phản đối là giọng của một thế lực khác, của một nền văn minh cổ xưa mà dường như đã truyền thừa lại trong ta bản năng để tận hưởng, gây gổ hơn là chịu đựng và tìm hiểu. Thể loại hư cấu Anh, từ Sterne (1713-1768) đến Meredith (1828-1909), đã làm nhân chứng cho bản chất khoái cảm của chúng ta trong humour và hài kịch, trong vẻ đẹp của mặt đất, hoạt động của trí tuệ và sự duyên dáng, cường tráng của cơ thể. Nhưng bất kỳ một kết luận nào mà chúng ta đưa ra từ sự so sánh quá chia tách giữa hai loại tiểu thuyết cũng chỉ là vô dụng khi chúng truyền cho ta cái nhìn về các khả năng nghệ thuật vô hạn định và nhắc nhở chúng ta rằng sẽ chẳng có giới hạn nào ở đường chân trời và rằng chẳng có gì -không “phương pháp”, không kinh nghiệm, thậm chí những lối viết hoang dại nhất bị ngăn cấm, loại trừ sự giả dối và lỗi lầm. “Loại tiểu thuyết chân chính” không tồn tại, mọi tác phẩm đều là loại hư cấu chân chính; mọi cảm xúc, mọi ý tưởng và tinh thần đã được ghi nhận, chẳng có điều gì sai trái cả. Và nếu ta có thể tưởng tượng nghệ thuật hư cấu vẫn sống và tồn tại giữa thế giới nhân quần thì nó sẽ không do dự gì khi để ta đập tung ra, chà xát, cũng như tôn trọng và mến yêu nó. Bởi làm như thế sắc xuân của nghệ thuật mới được phục hồi và mãi mãi sức sống của nó sẽ được thừa nhận.


(Lược dịch từ nguyên bản tiếng Anh Modern Fiction, in trong the Idea of Literature Moscow, Progress Publishers, 1979)


Nguồn: Phê bình-lý luận văn học Anh-Mỹ, tập 1

Lê Huy Bắc sưu tập, dịch và giới thiệu

nxb Giáo Dục 2004


 

Advertisements

Gửi phản hồi