Về bản chất của Dư luận xã hội


Mai Quỳnh Nam |


Dư luận xã hội (DLXH) là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội. Bản chất ý kiến của con người được nghiên cứu từ thời cổ đại. “Quan điểm triết học của Parmenid, Empedocl, Democrit đã đối lập khái niệm “ý kiến” và “tri thức”. Các học giả này coi ý kiến là tri thức giả, là cái gì đó không rõ ràng, không bền vững, đối lập với “sự thật hợp lý”. Nhưng ngay sau Platon và Aristot, một quan điểm khác được đề xuất: ý kiến là cái gì đó ở giữa tri thức và niềm tin. Nó dường như là khâu liên kết giữa cảm xúc thực và chân lý”1.

Cuộc đấu tranh của hai khuynh hướng này vẫn tiếp tục ngay cả khi trong lĩnh vực nghiên cứu triết học có hiện tượng được gọi là DLXH. Trong quan điểm của các đại diện triết học cổ điển Đức, chẳng hạn, ở công trình Triết học pháp quyền, Hêghen đã đưa ra một quan niệm tương đối mở rộng của DLXH bao gồm định nghĩa, con đường hình thành và các đặc điểm của nó.

Hêghen xem xét DLXH trong mối tương quan với việc phân tích thể chế nhà nước, nơi ông tách bạch lập pháp và hành pháp. Vai trò cơ bản của yếu tố này là ở chỗ, trong đó, ý thức cộng đồng tồn tại như một tổng thể kinh nghiệm các quan điểm và tư tưởng của nhiều người. Tổng thể này ở dạng “ý nghĩ lành mạnh của con người” gắn với sự phản ánh “tình trạng chung của công việc”. Hêghen tách bạch cái hợp nhất có trong tổng thể các ý kiến cá nhân về công việc chung, nói cách khác, về các vấn đề gây nên mối quan tâm chung. Tư tưởng này được thể hiện rõ hơn trong định nghĩa: Tự do chủ quan, hình thức là ở chỗ những cá nhân có và thể hiện ý kiến riêng của mình, suy luận về các công việc chung và đưa ra lời khuyên về các công việc đó, thể hiện trong cái tập hợp được gọi là DLXH.

Hêghen xác định cơ chế chủ yếu của việc hình thành DLXH là thảo luận. Chính trong thảo luận, trao đổi đã cho phép tách ra: 1) Cái chung có trong từng ý kiến riêng, 2) Thảo luận đã nhân rộng tỉ trọng hợp lý của ý kiến. Chỉ thông qua công luận – theo tác giả Triết học pháp quyền –  DLXH đi đến các tư tưởng chân chính, làm cho có thể suy luận về chúng một cách đúng đắn.

Cùng với việc đề xuất cơ sở hợp lý của DLXH và sức mạnh của nó, Hêghen lại đối lập ý kiến của dân chúng với thể chế nhà nước, ở đó, người thể hiện quyền lực cao nhất là nhà vua. Hêghen cũng chỉ ra rằng trong DLXH “chân lý và những sai lầm vô tận liên kết với nhau”, nó không phải là “chuẩn mực cho cái mà ta cần trên thực tế”, “quần chúng không thể hiểu được” phương pháp hiểu biết, suy luận các hành vi của mình…”2.

Hêghen đã giải thích sự mâu thuẫn hiển nhiên trong suy luận của mình. Theo ông, bản chất của DLXH không thể được nhận thức từ sự thể hiện hiện thực của nó. Trong DLXH có cả cái thật và cái giả, nhưng “tìm ra được chân lý trong nó là công việc của một người vĩ đại”. Vì “thực thể chỉ tồn tại từ mình”, và ông đi đến kết luận như sau: DLXH không có trong mình cả quy mô suy tàn lẫn khả năng nâng khía cạnh thực thể từ bên trong mình lên tầm cao của tri thức nhất định… độc lập với nó là điều kiện hình thức đầu tiên để hoàn thành một cái gì đó vĩ đại và đúng đắn cả trong thực tế lẫn trong khoa học. Tuy tạo ra một bước ngoặt cách mạng trong triết học bởi những đóng góp về phép biện chứng, song Hêghen không vượt qua được tư tưởng bảo thủ bám chặt vào nền quân chủ hùng mạnh.

Những tư tưởng của Hêghen gắn với việc công nhận sức mạnh của trí tuệ tập thể đã được tiếp tục nghiên cứu rộng rãi trong các công trình của những nhà luật học, trước tiên là ở châu Âu giữa thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, mà đại diện là luật gia người Đức Holcendorff, nhà tội phạm học và xã hội học người Pháp Tard, giáo sư luật đại học người Nga Chvostov. Họ đều công nhận “sức mạnh tinh thần” của DLXH, mặc dù trong nhiều điều, họ không thể giải thích được nguồn gốc của nó.

Bản chất của DLXH không thể được khám phá từ chính nó. Để giải quyết vấn đề tương đối riêng của DLXH cần thiết phải khám phá những quy luật chung của xã hội loài người, của các quy luật nhận thức. Trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác và Ăng ghen đã khám phá ra những quy luật này, điều đó cho phép mở đầu những nghiên cứu bản chất của DLXH từ những quan điểm thực chất khoa học.

Cụ thể hóa câu hỏi chủ yếu của triết học ứng dụng trong xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nhận thấy rằng: ý thức xã hội chính là sự phản ánh tồn tại xã hội, Mác và Ăngghen cho rằng: chúng ta nâng từ mặt đất lên bầu trời, nghĩa là chúng ta xuất phát không phải từ những gì người ta nói, tưởng tượng, hình dung,… đối với chúng ta, điểm xuất phát là chính những người đang hoạt động và từ quá trình sống thực của họ, chúng ta rút ra cả sự phát triển những phản ánh tư tưởng của quá trình sống đó. Như vậy, người ta đã xác nhận rằng bất cứ sự xuất hiện nào của ý thức xã hội (bao gồm cả DLXH) là “sự bay hơi theo cách của mình” trong quá trình sống vật chất.

Lời giải này cho câu hỏi chính của triết học, như ta biết có hai mặt: ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội và tồn tại xã hội xác định ý thức xã hội. Do đó, DLXH có thể được phân tích về mặt nhận thức luận và cả về mặt xã hội học. Cả hai cách đề cập này đã được các nhà xã hội học sử dụng tích cực khi nghiên cứu DLXH và đã đặt nền móng vững chắc để giải quyết nhiệm vụ phức tạp này. Chẳng hạn, khi nghiên cứu khía cạnh nhận thức luận của DLXH, người ta đã nhấn mạnh ít nhất 3 điểm quan trọng của DLXH: 1) phản ánh thực tế, 2) “ đi vào” mỗi dạng ý thức xã hội, và 3) bao gồm cả nhận thức thông thường lẫn nhận thức lý thuyết. Sự tương tác của các hình thức nhận thức xã hội và DLXH phụ thuộc trực tiếp vào các yếu tố xã hội, vào trình độ phát triển của xã hội. Người ta biết rằng DLXH là một trong những biểu hiện sớm nhất của ý thức xã hội. Ăngghen, trong tác phẩm Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước đã viết : “Chế độ thị tộc lớn lên từ xã hội không biết đến những mâu thuẫn bên trong và chỉ thích nghi với xã hội đó. Chế độ này không có một phương tiện cưỡng bức nào khác ngoài DLXH”.

DLXH phát triển tương đối độc lập với các hình thức ý thức xã hội. Việc nó “đi vào” mỗi dạng ý thức xã hội mang tính lịch sử cụ thể. Điều đó có nghĩa là việc xâm nhập của DLXH vào các dạng ý thức xã hội khác nhau ở giai đoạn phát triển hiện nay là kết quả tác động cả yếu tố xã hội lẫn yếu tố nhận thức.

Cần phải tính đến phương diện xã hội khi giải quyết vấn đề nhận thức luận về quan hệ giữa cái thực và cái giả trong DLXH. Vấn đề không chỉ ở chỗ trong DLXH cái thực và cái giả xen kẽ nhau, mà cả ở chỗ quan hệ giữa chúng như thế nào? khuynh hướng thay đổi của nó, các yếu tố ảnh hưởng đến nó ra sao? Người ta nhận thấy rằng không nên chỉ giới hạn ở việc đối lập nó với ý thức khoa học (chẳng hạn, trong khoa học có thể có những quan điểm, lý thuyết sai trái,…). Sự phê phán đó còn cần phải bao gồm những giải thích căn nguyên của DLXH trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định vì, những điều kiện xã hội có tác động quyết định lên mức độ tương ứng của sự phản ánh thực tế trong DLXH.

Một vấn đề khác hết sức quan trọng là cần phải giải thích DLXH tác động lên hoạt động thực tiễn của con người như thế nào? bằng cách nào? với những đặc điểm nào?

Sự phát triển của DLXH trong thời gian gần đây trực tiếp gắn liền với nhu cầu thực tế, đã dẫn đến việc tích lũy những số liệu thực nghiệm rất lớn và việc đưa ra hàng loạt luận điểm lý thuyết. Tuy vậy, sự gia tăng tri thức này mang tính thất thường và liên quan đến từng mặt riêng biệt về bản chất của DLXH, và đến cả quá trình hình thành DLXH. Song song với quá trình này, người ta lại phát hiện một khuynh hướng chung thể hiện ở chỗ sao cho một mặt, làm bộc lộ chính đặc thù của DLXH một cách rõ nét hơn, và mặt khác – xác định mối quan hệ giữa DLXH với những hiện tượng hay quá trình khác một cách cụ thể hơn. Trong bối cảnh đó, rõ ràng là lại một lần nữa cần làm rõ bản chất của DLXH.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, các nhà xã hội học đã coi DLXH chủ yếu như một trạng thái của ý thức và do đó đã phân tích nó trong cấu trúc của ý thức xã hội. Cách tiếp cận ấy tìm được sự phản ánh tương ứng trong những định nghĩa của DLXH ở hàng loạt ấn phẩm của thời kỳ này.

Phân tích DLXH trong khuôn khổ cấu trúc ý thức xã hội dứt khoát dẫn đến chủ yếu là nghiên cứu phương pháp và hình thức phản ánh hiện thực trong các tranh luận tập thể của con người. Rõ ràng là hướng này rất có hiệu quả và cần thiết, nhưng nó vẫn chưa đủ khi xuất hiện vấn đề về tác động thực tế của DLXH lên thực tiễn và về năng lực cải tạo thực tiễn.

Mặc dù các nhà xã hội học coi DLXH không phải là cái gì đó thuần túy tinh thần, mà là một cấu tạo tinh thần – thực tế, người ta vẫn rất ít chú ý đến việc khám phá “khía cạnh thực tế”, khía cạnh này thực ra chỉ được nhắc đến xuất phát từ những quan sát thực nghiệm. Tuy nhiên, người ta biết rằng, DLXH luôn luôn và trước hết gắn với việc con người đánh giá một hiện tượng, một quá trình nào đó. DLXH gắn với việc thể hiện lợi ích của các nhóm xã hội lớn. Như vậy, DLXH gắn với các quan hệ xã hội. Điều này là cơ sở để xem xét DLXH không chỉ trong cấu trúc ý thức xã hội mà cả trong cấu trúc quan hệ xã hội. Và khi đó, bản chất của DLXH có thể định nghĩa như là sự tương tác, mối quan hệ của con người trên cơ sở sự thống nhất hoặc sự khác biệt trong đánh giá của họ về những hiện tượng cấp bách của thực tiễn, có ý nghĩa xã hội.

Rõ ràng, sự chuyển DLXH từ trạng thái phản ánh đến trạng thái cải tạo thực tế (từ lời nói đến việc làm) gắn liền với quá trình khách thể hóa nó trong hệ thống các quan hệ xã hội, có cơ sở chuẩn mực vào thời điểm đánh giá.

DLXH không phải là một kiểu hoặc một loại quan hệ xã hội đặc biệt, mà chỉ là một yếu tố, một thời điểm, một mặt của các quan hệ đó. DLXH xuất hiện như một phản ánh quá trình sống vật chất và thông qua ý thức con người và tác động vào hệ thống các quan hệ thượng tầng, tư tưởng trong những điều kiện nhất định. Nội dung của DLXH như một yếu tố, một mặt của các quan hệ thượng tầng, tư tưởng, là sự tác động của con người với mục đích tạo ra sự nhất trí trong đánh giá một hiện tượng, một quá trình xã hội cấp bách và cả thái độ tương ứng với sự đánh giá đó trong hoàn cảnh xã hội cụ thể.

Cơ sở của việc xuất hiện DLXH như một mặt của các quan hệ xã hội trước hết xuất phát từ nhu cầu thể hiện lợi ích xã hội. Trong xã hội học, người ta chia ra những lợi ích gần nhất, lợi ích từng phần, tạm thời và những lợi ích cơ bản, lâu dài. DLXH gắn với cả loại lợi ích thứ nhất lẫn thứ hai. Tuy nhiên, mối liên hệ với loại lợi ích thứ nhất rõ ràng hơn, nhìn thấy được, cảm thấy được. Động thái của DLXH thường xuất hiện trên cơ sở hiện thực hóa những lợi ích cấp bách nhất.

DLXH phản ánh và thể hiện các quan hệ xã hội. Quá trình này có thể chia thành: 1) không hình thức và 2) hình thức. Ở phương diện không hình thức có thể là “những quy tắc không được viết ra”, nhưng phương tiện thứ hai là những cấu trúc hình thức chính thức (cơ quan, tổ chức,…) thể hiện DLXH ở mức độ chính thức.

Thực tế cho thấy DLXH có tiềm năng nhận thức to lớn, nghĩa là có khả năng phản ánh trung thực bản chất của hiện tượng xung quanh. Kinh nghiệm đã được nhiều lần kiểm chứng của quần chúng, thể hiện ở ý kiến tập thể của họ luôn luôn cố định chính xác hiện tượng hay quá trình này hoặc hiện tượng hay quá trình khác của thực tiễn. Chính vì vậy, nghiên cứu DLXH, trong ý nghĩa nhất định, là nghiên cứu hiện thực tồn tại.

Trên cơ sở phản ánh nhận thức, DLXH còn cho thấy khả năng đánh giá thực tế.

Nhờ có DLXH mà một trong những chức năng của ý thức xã hội trở thành hiện thực, cụ thể là chức năng tiền đề, chức năng này xác định cách đánh giá tình hình và xác định sự lựa chọn hành vi của con người. Sự đánh giá trong DLXH không phải là trừu tượng, nó phản ánh quan điểm của các nhóm xã hội khác nhau3.

Như vậy, tính đặc thù của DLXH là ở chỗ nó không chỉ là sự tồn tại có ý thức, mà còn là sự tồn tại có đánh giá. Dựa trên những lập luận này, có thể xác nhận rằng DLXH là sự thể hiện (trạng thái) của ý thức xã hội trong đó phản ánh trước hết là sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng, các sự kiện đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại. Tính đặc thù của bản chất DLXH thể hiện, như đã nói ở trên, nó không chỉ thuần túy tinh thần mà là một cấu trúc tinh thần – thực tế. Trong DLXH, giống như trong một số hình thức thể hiện của ý thức, có hai mặt của một bản chất, một mặt, DLXH là sự thể hiện ý thức, mặt khác, bản chất xã hội của DLXH thể hiện ở hoạt động thực tế của con người. Điều này phụ thuộc vào đặc trưng của các phương pháp nhận thức (khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và tinh thần – thực tế) để hiểu được thế giới. DLXH rõ ràng là gắn với phương pháp sau cùng.

Hai mặt nói trên trong DLXH được sử dụng trong phân tích thực nghiệm xã hội trên mức độ lời nói và mức độ hành vi. Sự khám phá bản chất DLXH mở ra con đường để nhận thức nội dung của nó. Nội dung này bao gồm tập hợp các yếu tố khác nhau, thường là mâu thuẫn nhau, nói chung là có đặc điểm cảm xúc, hợp lý và ý chí. Cốt lõi trung tâm của DLXH là sự đánh giá xã hội. Sự đánh giá xã hội là sự thể hiện một trong các kiểu quan hệ của chủ thể với khách thể, mối quan hệ thể hiện ở chỗ, chủ thể xác định những tương ứng của khách thể hoặc các tính chất hay các mặt riêng biệt của nó bằng những tiêu chuẩn do chủ thể đặt ra. Sự đánh giá xã hội của các hiện tượng khác nhau có mức độ hợp lý khác nhau. Những sự đánh giá này có thể là tích cực (khuyến khích), tiêu cực (phê phán), trung tính (những đánh giá trong hàng loạt trường hợp có thể là những đánh giá cân bằng). Thông thường, hoạt động đánh giá đi cùng với những cảm xúc (sung sướng, thân thiện, thù địch…). Tuy nhiên, theo thời gian cảm xúc yếu đi và quan hệ với hiện tượng, sự kiện được thể hiện chủ yếu nhờ sự đánh giá lý tính.

Một trong những đặc điểm quan trọng trong sự đánh giá của DLXH là cường độ của nó. Cường độ này cho thấy độ bền vững về sức mạnh của việc thể hiện quan hệ giữa con người với các sự kiện hoặc hiện tượng. Thang cường độ có thể chi tiết khác nhau (phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu), nhưng những nấc giới hạn của nó luôn là đồng tình (hoặc phê phán) hoàn toàn.

Sự đánh giá xã hội thể hiện mối quan hệ ở dạng khuyến khích hay phê phán, ở những mức độ khác nhau đều tạo ra áp lực cho hành động thực tế. Nhà nghiên cứu người Nga Korobeinhicov cho rằng: “Khi có nhu cầu và hoàn cảnh thỏa mãn nhu cầu đó, trong chủ thể xuất hiện một trạng thái đặc thù có thể định nghĩa như sự sẵn sàng, như phương châm thực hiện một hoạt động nào đó để thỏa mãn nhu cầu cấp bách của nó”4.

DLXH không chỉ là suy luận của con người về các sự kiện, các hiện tượng xã hội tạo nên mối quan tâm chung có tính chất cấp bách, mà còn là một cơ chế lịch sử cụ thể của mối quan hệ giữa suy luận và hành động của con người, là trạng thái “làm việc” của ý thức. Định hướng con người làm họ thể hiện ý kiến của mình trong các hành vi. Bởi vậy, không có định hướng thì không thể xem xét hiện tượng DLXH trong các quá trình tâm lí của nhóm lớn.

Từ những kiểu định hướng khác nhau, DLXH gắn bó chặt chẽ nhất với cái gọi là những định hướng xã hội mà con người thường nhận thức được và là định hướng chung cho cá nhân trong quan hệ với những khách thể xã hội. Các định hướng xã hội xuất hiện trên cơ sở tác động của thực tế xã hội và của những người khác lên con người. Trong sự tương tác đó, những định hướng giá trị của các cá nhân như những thành viên của các nhóm và của xã hội nói chung được phản ánh. Có hai loại giá trị: các giá trị được phê chuẩn và nuôi dưỡng bởi hệ thống phương tiện của các thể chế chính thức và cả các giá trị ở mức độ ý thức thông thường. Trong DLXH, cả hai loại giá trị này cùng tồn tại và tác động lẫn nhau. Những định hướng có giá trị thay đổi dưới tác động của những điều kiện khách quan và những yếu tố chủ quan đều được phản ánh trong trạng thái DLXH.

Trong số những yếu tố tâm lý – xã hội của DLXH, định hướng xã hội được hiểu như một tâm trạng cảm xúc ủng hộ hoặc phê phán. Cả hai trạng thái này đều có vị trí quan trọng. Mặc dù rất linh hoạt và năng động, tâm trạng này có độ ổn định nhất định. Hoạt động đánh giá của con người là cơ sở hình thành và hoạt động của DLXH không chỉ gắn với những đặc tính tâm lý xã hội của con người mà còn gắn với khả năng nhận thức của họ. Đã có sự đối lập ý kiến với tri thức trên cơ sở là tri thức cho phép khám phá ra chân lý khách quan, còn ý kiến thể hiện quan hệ chủ quan của con người. Cách giải thích này là sự tuyệt đối hóa về mặt nhận thức luận. Ở đây cần tính đến đặc thù của ý kiến được thể hiện ở chỗ ý kiến là khâu cần thiết trong quan hệ giữa chủ thể và khách thể hoạt động, trong quan hệ của con người trong nhóm xã hội đối với hiện thực khách quan. Con người không chỉ nhận thức thế giới xung quanh mà còn biến đổi nó. Trong quá trình này con người sử dụng những sự đánh giá bao gồm không chỉ cảm xúc mà còn cả tri thức về khách thể của ý kiến. Bởi vậy, DLXH không thể tồn tại mà không có những yếu tố của cả tri thức đời sống lẫn tri thức lý thuyết và khoa học – thực nghiệm.

Ý kiến được hình thành trên cơ sở tri thức về sự vật. Sự hình thành DLXH do vậy, khác với quá trình nhận thức. Bởi vì mục đích của ý kiến không phải là nhận thức toàn diện sự vật, nhận ra chân lý khách quan, mà là sử dụng tri thức có được để hình thành sự đánh giá, để tạo ra quan hệ khuyến khích hay phê phán khách thể của ý kiến. Vì thế, tri thức có trong DLXH khác hẳn về thể tích lẫn mức độ bởi tính đặc thù của hiện tượng DLXH. Việc đưa tri thức vào cấu trúc DLXH gắn với một đặc điểm quan trọng của nó là tính thẩm quyền.

Ở đây có sự tương tác giữa ý kiến và tri thức. Những nghiên cứu thực nghiệm của các nhà xã hội học Mỹ cho thấy trong sự đánh giá luôn có tri thức, nhưng có tri thức không phải lúc nào cũng dẫn đến việc xuất hiện sự đánh giá hay ý kiến. Ngoài những yếu tố của tri thức đúng đắn, trong cấu trúc của DLXH còn có cả khái niệm – hình ảnh khái quát của nhiều ấn tượng cảm xúc, tri thức nhìn thấy được thường vẫn xuất hiện do tưởng tượng. Con người hiện đại gắn kết với mạng lưới các quan hệ rất phức tạp. Sự phát triển của công nghệ điện tử tạo nên hệ thống Internet liên kết toàn cầu cùng với sự ra đời của các phương tiện truyền thông đại chúng đa chức năng, hình thành nên không gian xã hội rất rộng lớn, quá trình này làm cho cơ chế các quan hệ này phong phú và phức tạp hơn. “Việc Internet tiến hóa thành phương tiện truyền thông đại chúng cho phép những người sử dụng nó vượt qua vai trò truyền thống của họ chỉ đơn thuần là người nhận và trở thành người tham gia tích cực trong việc tiếp nhận, lưu trữ và phổ biến tin tức”.

Kinh nghiệm cá nhân của con người rất hạn chế, còn nhu cầu định hướng trong thực tế xã hội đầy biến động lại đòi hỏi hình thành một bức tranh chung của hiện tượng hoặc quá trình này hay hiện tượng hoặc quá trình khác. Chính ở đây, những tri thức cảm nhận trực diện đã có, thường làm đầy những “điểm trắng” trong bức tranh chung được sử dụng nhờ có sự tưởng tượng. Chẳng hạn, các nhà xã hội học đã nhận thấy rằng những người chưa bao giờ đến các nước lớn trên thế giới lại có khái niệm tương đối chính xác về phong cảnh của những nước này. Trong quá trình tưởng tượng đó ngầm chứa cả sức mạnh và cả cái yếu của DLXH, thực tế này gắn với khả năng hình thành DLXH với sự tác động từ những mảnh riêng của thực tế. Vì DLXH là hình thể tinh thần – thực tế nên nó phải có những yếu tố của tinh thần làm tiền đề cho sự xuất hiện hành vi.

Chính những yếu tố ý chí này gắn với mức độ nhất trí giữa các thành viên của cộng đồng xã hội, với ý thức tập hợp những giá trị xã hội được họ lựa chọn. Ăngghen đã viết rằng “Trong từng con người, muốn làm cho anh ta hành động, tất cả mọi động lực gây ra hành động của anh ta đều phải đi qua cái đầu, đều phải biến thành động lực của ý chí…”. Ý chí trong DLXH thể hiện ở việc động viên cá nhân như một đại diện của một nhóm xã hội nhất định đưa ra hành động tương ứng với những “chỉ thị”, “hướng dẫn” của ý kiến. Mệnh lệnh cần thiết để tập trung ý nghĩ và năng lượng của quần chúng vào một hướng thống nhất. Nếu quá trình hình thành ý chí và suy luận trùng lặp thì ý chí vốn rất bền vững sẽ làm cho những suy luận cũng ổn định theo. Ý chí hình thành những suy luận này có thể được lan truyền và trở thành hiện thực.

Cấu phần ý chí thường ít được các nhà nghiên cứu DLXH quan tâm đầy đủ. Tuy vậy, cấu phần này lại có ý nghĩa to lớn đối với cả lý thuyết lẫn thực tiễn. Nghiên cứu DLXH thực tế là sự thể hiện hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng. Sự thể hiện những đánh giá và hành vi được tuyên truyền không thể có kết quả nếu không có trạng thái ý chí tương ứng của quần chúng.

Lập luận trên cho thấy những điều kiện và những yếu tố nhất định buộc DLXH đứng ở mức độ phản ánh hiện thực (ý chí, lời nói) hoặc làm nó chuyển sang mức độ khác – mức độ tác động lên thực tế và cải tạo nó (đi vào hệ thống các quan hệ xã hội, các thể chế). Như vậy, trong DLXH có thể tách ra những tập hợp các yếu tố, dù ở mức độ này hay mức độ khác, tác động đến tính tích cực của con người, hướng đến việc thể hiện lợi ích xã hội một cách khách quan trong sự đánh giá của DLXH.


Tài liệu tham khảo

  1. Mai Quỳnh Nam (1995), “Dư luận xã hội: mấy vấn đề về lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Xã hội học, Số 1.
  2. Gorskov.M.K (1998), Dư luận xã hội: lịch sử và hiện đại, Nxb. Tri thức, Moscow (tiếng Nga).
  3. Hans L Zetterberg (2003), “Social Science Theories and the Study of Public Opinion”, Paper prepared for WAPOR (World Association of Public Opinion Researchers) annual meeting in Prague, Czech Republic, September 17-19.
  4. Korobeinhikov V.S. (1988), Bản chất và chức năng của dư luận xã hội, Nxb. Khoa học, Moscow (tiếng Nga).
  5. Eds. Wolfgang Donsbach & Michael W. Traugott, The SAGE Handbook of PublicOpinion Research (2008), www.sagepublications.com.

 


1 Gorskov. M.K (1988), Dư luận xã hội: Lịch sử và hiện đại, Mockva, Nxb. Tri thức, Tr.72.

Sđd, Tr. 76.

3 Về vấn đề này có thể xem thêm: Mai Quỳnh Nam (1995), “Dư luận xã hội – mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Xã hội học, Số 1.

4 Korobeinhikov.V.S (1988), Bản chất và chức năng của dư luận xã hội, Mockva, Nxb. Khoa học, Tr. 122.


Nguồn: Viện Nghiên Cứu Con Người


 

để lại phản hồi