Trần Trọng Kim trong góc khuất của lịch sử


Hà Vinh |


Hơn một thập kỷ qua đã có những nhìn nhận, đánh giá một số vấn đề lịch sử khách quan hơn, ít định kiến và bao dung hơn về các thời kỳ, triều đại, khuynh hướng và cá nhân tiêu biểu trước đây. Những Phan Thanh Giản và cựu hoàng Bảo Đại, những Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh và bao người khác.

Nhưng chúng tôi muốn lưu ý đến một trường hợp kiêng cữ, không mấy ai muốn nói đến, tuy trong bụng vẫn bất an: trường hợp Trần Trọng Kim. Suốt đời tận tụy với sự nghiệp sư phạm và nhiều tâm huyết với sự tồn vong của dân tộc theo hoàn cảnh và nhận thức của ông, nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi khi về già, vướng vào vòng xoáy chính trị, ông đã mang trên cổ mình chiếc gông của kẻ tội đồ “Thủ Tướng bù nhìn thân thật”, một tội danh bán nước, và bị giam trong nhà tù lịch sử, bị bỏ quên cho đến ngày nay và nhận sự oán trách của người đời.

Để trả lại sự công bằng lịch sử cho ông như chúng ta đã chiêu tuyết cho nhiều người khác, xin góp thêm những điều mà bản thân thu thập hay hiểu được về ông.

___

Trần Trọng Kim sinh năm 1883 (có tài liệu nói vào năm 1882 còn theo gia phả là năm 1886), thuộc đời thứ 12 của dòng họ Trần, một dòng họ lớn ở xã Đan Phổ (nay là Xuân Phổ), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, chỉ cách làng Tiên Điền-Nguyễn Du một ngôi làng nhỏ, vốn là làng nghèo và người dân nổi tiếng là cần cù.

Ông nội Trần Trọng Kim là cụ Tú Mền (đỗ 3 khoa tú tài) Trần Văn Bính, còn để lại cho hậu thế câu ca ngợi sau đây:

“Nhất cử đăng khoa thiên hạ hữu

Thập trường liên trúng thế gian vô”

Cha Trần Trọng Kim là cụ Trần Bá Huân, con trưởng cụ Tú Mền, tự là Danh Liên, hiệu là Nhạc Sinh, tham gia cuộc khởi nghĩa Cần Vương Phan Đình Phùng, trông nom cả việc tài chính lẫn ngoại giao và qua đời ở tuổi 56.

Cụ Huân có 3 người con: Trần Bá Hoan, Trần Trọng Kim và Trần Thị Liên. Bà Liên là đảng viên đảng Cộng Sản trong cuộc khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh mà làng Đan Phổ là một “làng đỏ” vào năm 1930-1931. Sau này, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc sau năm 1954, tỉnh ủy Nghệ An đã cho xây mộ của bà ở thành phố Vinh.

Hiện nay dòng trực hệ của ông còn lại người con anh ruột, đại tá Trần Trọng Thái, đã nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh, và người con gái độc nhất còn lại, bà Trần Diệu Chương, đang sống lưu lạc tại Paris.

Ông Trần Trọng Kim mất cha khi mới lên 7 tuổi, mất mẹ khi lên 8. Về sau, không rõ là ông lưu lạc, sinh sống và học tập ra sao để trở thành một thức giả hàng đầu của đất nước vào những thập niên đầu của thế kỷ 20. Chỉ riêng việc đó thôi, ông đã là tấm gương sáng về ý chí học hỏi. Không những tinh thông Hán học ông còn thông thạo tiếng Pháp, hiểu rộng về phương Tây cà có nhiều sở đắc khi so sánh hai nền văm minh Đông-Tây, có thể nói là “quán thông Đông-Tây, Kim Cổ”.

Các sách của cụ Trần Trọng Kim trên Nhatbook
Mua sách giấy ủng hộ:
Link Vinabook
Link Tiki

Qua những tài liệu còn sơ sài và tản mác, Trần Trọng Kim đã 31 năm làm nhà giáo: dạy trường Trung học Bảo Hộ (trường Bưởi), trường Hậu Bổ, làm thanh tra Tiểu học Bắc Kỳ, Giám đốc tiểu học Hà Nội. Năm 1942, ông về hưu vò chính quyền Pháp không ưa, sống tại Hà Nội, có chân trong Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Đức và soạn Việt Nam Từ Điển cùng với Dương Bá Trạc.

Nhiều thế hệ cắp sách đến trường thời nửa đầu thế kỷ 20 hẳn còn lưu giữ trong tâm khảm về những cuốn sách giáo khoa do bản thân ông chủ trì, cùng với Dương Bá Trạc và Phan Kế Bính soạn ra. Qua những cuốn Quốc văn giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư đã đi vào tiềm thức và máu thịt học, giúp họ thành người để sồn xứng đáng, có ích cho nhân quần xã hội, mà cả khi về già nhiều bài còn nhớ thuộc lòng.

Trong buổi sơ khai của chữ Quốc Ngữ (tiếng Việt Latin hóa) ông đã là một kẻ tiên phong với các cuốn Việt Nam Văn Phạm, Grammaire Annamite (tiếng Pháp- công tác với Bùi Kỷ và Phạm Duy Khiêm) và Tiểu học Việt Nam – Văn phạm giáo khoa thư (viết chung với Nguyễn Quang Ánh và Bùi Kỷ).

Trong cương vị và chức trách xây dựng nền giáo dục mới dựa trên chữ Quốc ngữ Trần Trọng Kim, như ông từng thổ lộ trên các trang sách, luôn tâm niệm rằng giáo dục trước hết là dạy làm người, tiếp đến mới là tri thức. Quan những bộ sách giáo khoa, ông đã kiên trì đường lối đó mà tiếc rằng sau này có lúc bị sao nhãng đi nếu ta nhìn vào chỗ hổng đạo đức trong lớp trẻ hiện nay.

Trong trào lưu Âu hóa đầu thế kỷ 20 giới thức giả Việt Nam đã đề xướng chủ trương chấn hưng nền Quốc học. Chủ trương đó đã góp phần bảo tồn bản sắc dân tộc, các giá trị tinh thần và văn hóa truyền thống, làm nền cho sự khởi sắc trong thi ca, văn xuôi, âm nhạc và hội họa… tuy đổi mới về hình thức, thủ pháp những vẫn giữ được bản sắc và hồn dân tộc. Trong cuộc vật lộn giữa đổi mới và kế thừa đó, Trần Trọng Kim sợ sự đứt gãy văn hóa hay mất gốc, đã không quản thị phi, bỏ ra nhiều tâm huyết và công sức để để cho ra đời những cuốn sách khảo cứu về những giá trị, tinh hoa hàng ngàn năm của dân tộc và phương Đông để giữ lấy cái gốc của tâm thức và văn hiến Việt Nam. Đó là bộ sách Nho giáo đồ sộ, 2 cuốn về Phật giáo và 1 cuốn về Lão giáo. Ông đã không quản ngại điều tiếng, bị coi là “thủ cựu” hòng cứu chữa, uốn nắn những nông nổi, mù quáng bỏ mất mình trong cuộc chạy theo phương Tây và  tính hướng ngoại. Để cảnh tỉnh, ông đã viết trong “Lời Phát Đoan” của bộ Nho giáo: “Xét ra cho kỹ, sự bỏ cũ thay mới của ta hiện thời, bây giờ không phải là không cần cấp, nhưng vì người mình nông nổi, không suy nghĩ cho chín, chưa gì đã đem phá hoại cả đi, thành thử cái xấu, cái dở của mình thì vị tất đã bỏ đi được mà lại làm hỏng mất cái phần tinh túy đã giữa cho xã hội ta được vững bền hàng mấy nghìn năm nay” (trang 20, quyển 1, NXB Lê Thăng, Hà Nội, tái bản lần thứ hai).

Hiện nay, khi con thuyền Việt Nam, nhỏ bé và thô sơ hơn thiên hạ, cũng đang giong buồm ra khơi trong cuộc hội nhập với thế giới, những điều ông gợi ra không khỏi làm cho ta phải suy nghĩ.

Bỏ công sức để viết ra bộ Bách khoa toàn thư về Nho giáo, qua đó Trần Trọng Kim đã phê phán nền Nho học Việt Nam “Xưa nay thường hay coi trọng cái hình thức bên ngoài thái quá để đến nỗi cái tinh thần sai lầm đi mất nhiều. Cách học tập của người mình lại chỉ vụ lấy từ chương, chuyên về khoa cử để làm cái thang lợi danh. Vậy nên cái học thuyết của Khổng – Mạnh ngày càng hư hỏng, thành ra chỉ có danh mà không có thực. Những người học thức trong nước mà trí lực hẹp hòi, tinh thần kém cỏi, thì nhân chúng tiến hóa làm sao được?” (!) ” … có lắm người vọng tưởng rằng mình bắt chước người ngoài là làm điều có ích cho sự tiến hóa của nòi giống mình. Không ngờ rằng sự bắt chước quá vội vàng, không nghĩ cho chín, lại thành cái độc gây ra các thứ bệnh cho xã hội mình vậy…”. “ Mỗi một dân tộc có một cái tinh thần riêng, cũng như môi cây có cội rễ ăn sâu xa xuống dưới đất. Hễ cây nào rễ tốt, hút được nhiều khí chất thì cành lá rườm rà. Dân tộc nào cường thịnh là vì đã biết giữ cái tinh thần của mình được tươi tốt luôn” (trang 14, 22, sách đã dẫn).

Do chính tâm ông đã tìm đến tinh thần cốt lõi của Nho giáo là thuận theo thiên lý mà biến đổi và nhân cách ông đã thể hiện ra khi tranh luận với ông Phan Khôi, không cầu thắng, không sĩ diện, nhận những điều mình đã sai trong mưu cầu tìm chân lý, và rất mực tôn trọng kẻ đối thoại.

Một tác phẩm có giá trị khác của ông là bộ Việt Nam Sử Lược. Đay là bộ sử được nhiều thế hệ ưa thích vì nó vừa cô đọng, vừa cụ thể, hấp hẫn và có tính phê phán. Trước Cách mạng tháng Tám 1945 và những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ sách này từng là cẩm nang của các nhà giáo dạy sử. Có người trong giới sử học còn cho biết rằng khi Bác Hồ về nước, Người muốn đọc lại lịch sử nước nhà đã đọc cuốn sách này và còn muốn biết Trần Trọng Kim lúc bấy giờ ở đâu, ra sao. Về mặt này, ông Hoàng Xuân hãn nhận xét: “Cụ có thể nói rằng ở Việt Nam thời kỳ ấy không mấy người có mức học cao như cụ về đường sử học. Cái ấy thì chắc chắn.” (Hợp Lưu, tr.88, 1996).

Nhưng thật trớ trêu, vì uy tín của ông nên ông đã bị sập bẫy chính trị mà trở thành tội đồ của lịch sử. theo Võ An Thái, dựa trên tư liệu từ hồ sơ tình báo Nhật, nói về “Vụ bắt cóc và dựng thủ tướng bù nhìn Trần Trọng Kim” thì Urabe, trùm tình báo Nhật ở Đông Dương, đã có kế hoạch sắp xếp chính quyền thân Nhật khi chuẩn bị đảo chính lật đổ thực dân Pháp (An Ninh Thế Giới số 90-91/ 1988).

Về nhân sự, phương án của Nhật là “người được lựa chọn phải là trí thức có tên tuổi, uy tín và ít tham vọng chính trị”. Urabe nhận định nhóm Trần Trọng Kim – Dương Bá Trạc là “ôn hòa, gỏi Hán học, nhưng nhược điểm là ít thủ đoạn chống Việt Minh” so với nhóm Ngô Đình Diệm, và nhóm Trần Văn Ân – Đặng Văn Ký, “nhưng lại có uy tín lớn trong giới trí thức và dân chúng”. Lợi dụng sự “ngây thơ về chính trị” mà chính ông Hoàng Xuân Hãn cũng nhận xét là “người thật thà”, làm “chính trị cái lối quân tử đời xưa, còn ngây thơ là chuyện khác nữa”, họ đã hù dọa về nguy cơ mưu sát ông của thực dân Pháp, lừa ong vào cơ sở Nhật và đưa ông đi “an trí” ở đảo Chiêu Nam (Singapore) sau đó đưa ông về gặp Bảo Đại để dựng nội các.

Cũng theo ông Hoàng Xuân Hãn, lúc đầu Trần Trọng Kim không chịu gặp Bảo Đại, nhưng do nhiều người khuyên, ông đã gặp, và hiểu ra khi tình thế tiến thoái lưỡng nan trước lời nói của Bảo Đại: “Từ trước đến giờ, các anh muốn nước Việt Nam độc lập, bây giờ có cơ hội thì lại chối, mình không chịu độc lập, thế rồi sau này nói thế nào?” Ông đành chịu nhận đứng ra lập chính phủ mới dù biết mình chỉ nhận trách nhiệm mấy tháng mà thôi vì thế Nào Nhật cũng thua.

Đấy là cái bi kịch chính trị của Trần Trọng Kim. Qua những hồi ký của các ông Phạm Khắc Hòe, Phan Anh, cùng những hồi ức của ông Hoàng Xuân Hãn trong bài phỏng vấn dài đăng trên Hợp Lưu số 29 (1996) thì Trần Trọng Kim nhận đứng ra lập nội các chỉ là một việc bất đắc dĩ không thể thoái thác, và sau đó ông nằng nặc xin thôi (nhưng không kịp). Ngườu ta còn nhớ trong chính phủ Trần Trọng Kim thời đó còn có ông Phan anh (Bộ trưởng Thanh Niên), Hoàng Xuân Hãn (Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật), Trịnh Đình Thảo (Bộ trưởng Tư pháp). Rồi cả phong trào Thanh Niên Phan Anh đã khơi dậy lòng yêu nước và bầu nhiệt huyết trong giới trẻ, tạo thành một đội ngũ hăng hái tham gia cuộc tổng khởi nghĩa mùa thu năm 1945. Còn rất nhiều tư liệu nói lên dụng ý tốt của ông và nhiều người khác khi tham gia “nội các bù nhìn” đó.

Sau khi Bảo Đại thoái vị, vào tháng 11 năm đó Trần Trọng Kim quay về Hà Nội, định “vui thú điền viên”. Nhưng năm 1946 Quốc Dân Đảng lôi kéo ông gặp lại Bảo Đại. Do tâm chí bất đồng, ông trở về Sài Gòn, đứng ngoài vòng xoáy chính trị thời Ngô Đình Diệm. Sau đó ông về ở ẩn tại Đà Lạt và mất tại đó vào năm 1953, thọ 72 tuổi. Sau này hài cốt của ông được mang về chùa Vĩnh Nghiêm ở Sài Gòn, núp bóng từ bi cửa Phật.

Thời gian bị an trí ở đảo Chiêu Nam cùng với Dương Bá Trạc (ông Trạc bị ung thư chết tại đó) Trần Trọng Kim ngồi dịch thơ Đường (được 120 bài, sau bổ sung thành 336 bài, in ra thành tập Đường Thi (NXB Tân Việt, Hà Nội, 1950). Trong lời tựa, tác giả thổ lộ:

“Bình nhật tôi hay xem thơ mà ít khi làm thơ. Tôi cho làm thơ cũng như đánh đàn, không có cảm khái, không có cao hứng, thì dù đánh đúng cung đúng điệu đàn vẫn không hay. Chỉ khi gặp bước gian nam, tôi ra ở Chiêu Nam đảo, đứng trong cái hoàn cảnh éo le, tâm tình sầu muộn, lại bị những nỗi đoạn trường chua xót, tôi mới lấy thi văn cổ của cổ nhân ra xem và chọn lấy những bài có tình tứ hay dịch ra các lối thơ Việt để làm chỗ tiêu khiển, và cũng nhờ việc làm ấy mà tôi khuây khỏa được bao nhiêu nỗi đau buồn khổ não”.

Về văn học, ngoài ngôn ngữ tiếng Việt và tập Đường Thi, ông còn có cuốn Việt Thi, cuốn sách biên khảo truyện Thúy Kiều (cộng tác với Bùi Kỷ). Vào cuối đời ông viết cuốn hồi ký “Một cơn gió bụi”, trong cuốn hồi ký đó, ông nói về thời kỳ dấn thân vào chính trị để mang hận ngàn thu.

Tìm lại những tài liệu, tác phẩm, những hành xử và cố gắng lớn lao của ông thuở bình sinh  để vun đắp cho nền văn hóa nước nhà, khó mà phủ nhận lương tâm và phẩm cách của một kẻ sĩ – học giả như ông, từng là  bạn bè thâm giao với cụ Bùi Kỷ (ông lấy em gái Bùi Kỷ), Phạm Duy Tốn và nhiều chí sĩ tâm huyết khác.


Nguồn: Tạp Chí Xưa&Nay, số 212, tháng 05, 2004 (trang 11, 12, 13)


 

để lại phản hồi