Việt Nam Trong Thế Kỷ XIX – Một Cách Nhìn Khác


Đinh Kim Phúc


Khi nhận xét về triều đình nhà Nguyễn, Lê Thành Khôi đã viết: “dửng dưng với nhịp bước của các biến cố quốc tế dù cuộc chiến á phiện đã báo động, triều đình Huế,vì khinh bỉ bọn “bạch quỷ” và nghi ngại những kỹ thuật của họ, vẫn cố giữ đất nước ở trong một trạng huống cô lập huy hoàng”. (1)

Đọc bài viết của Frédéric Mantienne(2) và trong quá trình thu thập tài liệu về mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á trong thế kỷ XIX, chúng tôi đã tình cờ phát hiện ra 1 chi tiết khá lý thú về chuyến “dương trình hiệu lực” của Cao Bá Quát vào năm 1844 đến vùng Hạ Châu thuộc Đông Nam Á. Trong bài viết này, dựa trên những tư liệu của Việt Nam và của nước ngoài, chúng tôi sẽ đưa ra 1 số thông tin nhằm thấy rõ hơn về mục đích của phái bộ Việt Nam đi Hạ Châu và 1 số vấn đề cần trao đổi.

Trước hết, chúng ta cần xác định rõ vị trí của vùng Hạ Châu thuộc khu vực Đông Nam Á mà bài viết này đề cập đến.

Trong bộ Đại cương lịch sử Việt Nam do Trương Hữu Quýnh chủ biên thì thấy địa danh Hạ Châu được đề cập: “Khác với các triều trước, nhà Nguyễn nắm độc quyền ngoại thương khá chặt và trên cơ sở đó, tổ chức các chuyến buôn và công cán ở nước ngoài. Từ năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang Lưu Ba (Indonexia). Sau đó, từ các năm 1831 – 1932 trở đi, việc cử thuyền đi công cán, buôn bán ngày càng nhiều sang Hạ Châu, Giang Lưu Ba, Quảng Đông, Lữ Tống (Luy xông – Philippin), Boocnêô, Băng cốc… Hàng đem bán là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len, dạ, vũ khí, đạn dược. Nhân họat động này, một số thương nhân giàu có cũng lén lút chở gạo, lâm thổ sản qúy sang Hạ Châu hay Quảng Đông buôn bán”.(3)

Đại Nam Thực lục (4) đã viết: “ trước kia, dưới triều Minh Mạng chắc hẳn là chuyến đi vào tháng 11 năm Minh Mạng thứ 21, tức 1840”, Trí Phú đã được phái đi mua tàu hơi nước, đó là các tàu Yên Phi, Vụ Phi, và Hương Phi, … Nhưng những tàu này chỉ thuộc loại cỡ nhỏ. Trong cùng mục tháng 7 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Thực lục cho biết: “Đào Trí Phú về lại từ Tây dương, mua một chiếc tàu hơi nước trị giá hơn 28 vạn quan tiền…”.

Trong thời điểm đó, Siam và Việt Nam là hai nước láng giềng có quan hệ rất xấu. Khi chiến tranh Nha phiến vừa bùng nổ, vì nghe tin đồn là các chiến hạm Anh ở Trung Quốc sẽ tiện đường “ghé viếng thăm Siam ” một khi chiến tranh kết thúc, vua Siam lo sợ nên đã đặt mua nhiều súng ống và một chiếc tàu chạy bằng hơi nước qua công ty của Robert Hunter lo về việc mậu dịch giữa Bangkok với các nước Âu Châu. Vì các mặt hàng vua Siam đặt mua đến chậm, đến lúc sắp sửa giao hàng thì chiến tranh Nha phiến đã kết thúc và nỗi lo sợ của người Siam bị vạ lây với Trung Quốc cũng đã vơi dần. Chính vì vậy, vua Siam eo sách, không chịu mua chiếc tàu chạy bằng hơi nước theo giá hai bên đã thoả thuận lúc ban đầu. Hunter do đó mới đề nghị bán cho người Việt Nam (đối thủ của người Siam). Kết quả là Hunter bị trục xuất ra khỏi Bangkok, tuy sau đó có được phép trở về Siam để thu hồi tài sản. “Trong thời gian ở Singapore, ông ta đã hoàn tất thủ tục bán chiếc tàu chạy bằng hơi nước cho người An Nam”.(5)

Trong khi đó, nhìn lại mậu dịch giữa Việt Nam với các thuộc địa Anh thuộc vùng Hạ Châu chỉ bắt đầu sau khi tân cảng Singapore trở thành thuộc địa của người Anh (1819). Trước đó hầu như không có dấu vết gì về mậu dịch giữa Campuchia và Cochin-China với các thuộc địa Anh ở trên eo biển.

Theo số liệu thống kê của Toàn quyền Anh ở Singapore, John Crawfurd, năm 1821, số thuyền mành đến Singapore từ hai nước này và Siam là 21 chiếc, và 3 năm sau (1824) số thuyền đến Singapore tăng lên thành 70 chiếc mỗi năm. Mậu dịch với Singapore rất bị hạn chế vào thập niên 1820, bởi lẽ phần lớn những sản phẩm của Cochin-China chỉ thích hợp với thị trường Trung Quốc, và chỉ có giai cấp thượng lưu ở Cochin-China và quân đội của nhà vua mới có nhu cầu về những hàng bông và hàng nỉ của Anh. Hàng nỉ của Anh dùng may trang phục cho quân đội của nhà vua hầu hết được đặt mua từ Quảng Đông. Mậu dịch giữa An Nam và Singapore do người Hoa trong nước đảm nhiệm.

Báo cáo của toàn quyền Anh ở Singapore John Crawfurd về London cho biết là năm 1825 đánh dấu một mốc quan trọng trong việc mậu dịch giữa Cochin-China và Singapore. Vào năm ấy, “nhà vua [vua Minh Mạng] gửi hai thuyền mành có trang bị vũ khí cùng quan viên sang Singapore để mua hàng nỉ và hàng thuỷ tinh”. Sau đó, nhà đương cuộc Anh đã “khám phá là những quan viên này đến Singapore có nhiệm vụ nghiên cứu nhằm báo cáo về tình hình trên những thuộc địa của người Âu Châu ở eo biển Malacca”. Tuy người ta không biết trong báo cáo đó đã ghi những gì, nhưng sau lần thăm viếng đó, triều đình “đã giành độc quyền mậu dịch với Singapore”. (6)

Báo cáo trên đã cho chúng ta thấy rằng nếu như khả năng xuất khẩu của Việt Nam bị giới hạn trong thập niên 1810, khi nó vẫn còn phải phấn đấu để phục hồi từ sự tổn hại của các cuộc nội chiến hồi cuối thế kỷ thứ XVIII.  Tổng số trọng tải đầu thập niên 1820 chắc chắn ít hơn 30.000 tấn mỗi năm, phán đoán theo sự ước lượng của Crawfurd trong năm 1823 (7). Song vận tải đường biển đã gia tăng một cách rõ rệt trong các thập niên sau đó.  Mậu dịch của Việt Nam với Singapore vào khoảng 4.000 tấn trong năm 1823 (8).  Con số này đã tăng hơn gấp hai lần vào khoảng 10.000 tấn trong năm 1839, và vào năm 1857 nó lên tới 31.000 tấn, hay một sự tăng trưởng gấp 7 lần (9)

Từ những cứ liệu trên chúng tôi không chia sẻ lối khẳng định phiến diện của Lê Thành Khôi khi ông viết về triều Nguyễn.

Và nó hoàn toàn phù hợp với nhận định của Frédéric Mantienne: “Thời kì 1790-1802 đánh dấu sự chuyển đổi trong thái độ của người Việt đối với đại dương và các nước khác. Trong vòng 12 năm, dân tộc Việt Nam, những người trước đó bị cho là không hợp với các chuyến hải hành đường dài, đã học được các kỹ thuật nước ngoài, áp dụng chúng trong hoàn cảnh địa phương để xây dựng một hạm đội mạnh. Một ví dụ mang tính biểu tượng cho sự mở cửa của Việt Nam ra với biển: đoàn sứ thần do nhà Nguyễn gửi đến Trung Quốc để xin hoàng đế nhà Thanh công nhận triều Nguyễn đã đi bằng đường biển thay vì đi qua biên giới phía Bắc như hàng thế kỷ trước đó.

Trong thời hậu chiến, các con tàu kiểu châu Âu cũng được dùng cho việc buôn bán. Chúng không chỉ chở gạo từ miền nam ra miền trung Việt Nam, mà còn dùng cho các hành trình ra nước ngoài. Gia Long năm 1802 chấm dứt việc gửi phái đoàn thương mại ra nước ngoài để mua súng đạn, nhưng Minh Mạng sau đó lặp lại lề thói này. Các chuyến hải hành thương mại cũng đem lại cơ hội cho thủy thủ đoàn Việt Nam tập ra biển lớn, và sử dụng kỹ thuật phương Tây. Năm 1823, Minh Mạng ra lệnh cho thủy thủ đoàn học sử dụng các dụng cụ đi biển, học xác định phương hướng. Năm 1835, các chỉ thị tương tự ban hành xoay quay việc nhập khẩu các kỹ thuật hải trình; năm 1842, đến lượt người kế vị Minh Mạng, Thiệu Trị, ra các chỉ thị như vậy.

Ý chí chính trị học hỏi các kỹ thuật nước ngoài đạt đỉnh cao trong cuối thập niên 1830 khi Minh Mạng ra lệnh mua tàu chạy bằng hơi nước. Phan Huy Chú năm 1833 lần đầu tiên nhìn thấy tàu hơi nước ở Batavia, và Lý Văn Phức mô tả một tàu khác trong chuyến đi đến Calcutta. Năm 1839, Việt Nam mua con tàu hơi nước đầu tiên, sau đó là ba thuyền khác – có tên Yên Phi, Vũ Phi và Hương Phi. Năm 1844, một con tàu lớn hơn được mua, với tên Diễn Phi.

Đáng lưu ý là ngay cả người Pháp, cho đến trước năm 1816-1818, còn chưa dùng tàu hơi nước cho các sứ mạng thương mại. Đến cuối thập niên 1820, các hạm đội Anh và Pháp mới đặt hàng các tàu hơi nước đầu tiên. Tại châu Á, người Hà Lan đặt hàng con tàu hơi nước đầu tiên cho hạm đội của họ năm 1837, và một hai năm sau mới có con tàu thương mại đầu tiên.

Trong khi đó mãi đến thập niên 1830, vua Rama III của Thái Lan mới quyết định chỉ dùng toàn mô hình châu Âu cho hạm đội nhà nước Thái. Tức là trong khi người Thái mới bắt đầu nói về tàu kiểu Tây phương, thì Việt Nam đã mua tàu chạy bằng hơi nước. Có vẻ như trong nửa đầu thế kỷ 19, tại châu Á, Việt Nam thuộc một vài nước đầu tiên quan tâm kỹ thuật hàng hải châu Âu” (10).

Như vậy chúng ta thấy rằng 3 vị vua đầu tiên của triều Nguyễn không phải là những người đã theo đuổi chính sách bế quan tỏa cảng, mà ngược lai, là những nhà lãnh đạo đã thực hành chính sách mở cửa để tiếp thu và thích nghi các khoa hoc, kỹ nghệ mới lạ từ bên ngoài có lợi cho quyền lợi của quốc gia.

Với ý chí tiến thủ như thế của triều đình Nhà Nguyễn nhưng tại sao 20 năm sau đó khát vọng canh tân nước nhà và những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ lại bị thất bại? Hay chỉ vì Nguyễn Trường Tộ là người Thiên Chúa giáo?

Trong một chỉ dụ của vua Tự Đức vào năm 1874 có đoạn viết: “Khi kế vị ngai vàng, Trẫm đã kính cẩn tuân theo các cách thức của tiền nhân anh minh của Trẫm, và Trẫm đã nghĩ về các người dân ngu dốt sinh ra trong xứ sở của chúng ta nhưng lại không tuân theo các sự dậy dỗ của đất nước chúng ta.  Các sự giáo huấn của xứ sở chúng ta về sự ngay thắng và lòng nhân đạo trong khi các sự giảng dạy của họ và Thiên Đàng và nước màu nhiệm; các giáo huấn của chúng ta là các sự giảng dạy của đức Khổng Tử, trong khi của họ là về Chúa Jesus và về Thượng Đế.(11)

Một chỉ dụ khác vào năm 1875 cho thấy quan điểm của Tự Đức đối với những người Việt Nam theo đạo Thiên Chúa: “Mặc dù các người đi theo một sự giảng dạy khác, bản tính các người không khác biệt với bản tính của các thần dân khác của Trẫm trong khả năng duy trì Đạo làm người. Nếu trong một lúc nào đó các người không giữ được sự cư xử thích đáng, khi đó làm sao các người lại có thể thực hiện được nhân tính của các người?…Tại sao các người phải tìm kiếm lợi thế và che dấu các tham vọng không có thể thực hiện được? Đây chỉ là kết quả của sự việc rằng các người đã đi theo một cách ngu xuẩn các sự giảng dạy về tôn giáo này; chính vì thế các người không có ý muốn để suy ngẫm. Một cách khách quan và không oán hận, Trẫm  muốn ngăn cản bất kỳ thần dân nào của Trẫm khỏi ngã vào sự lầm lạc. Chính bởi thế, Trẫm giáo dục mọi người, không trừ ngoại lệ nào. Nếu các người không hối cải về các sự sai lầm của các người, ngay cả viên Phủ Sứ cũng sẽ đâm ra chán nản về các người.  Điều này xảy ra bởi vì những kẻ thiếu lòng trung thành và sự ngay thẳng đối với xứ sở của chính mình sẽ không được tuyển dụng ngay dù họ có đi đến đất nước khác”.(12)

Phải chăng vua Tự Đức với cái nhìn của Khổng học đối với “tà đạo” Thiên Chúa giáo vốn đã thúc đẩy các phe chủ chiến chống lại đạo Thiên Chúa trong thời kỳ này đã là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tiếng nói của Nguyễn Trường Tộ rơi vào quên lãng?


 

CHÚ THÍCH

(1) Yoshiharu Tsuboi. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa.Ban KHXH Thành ủy Tp. HCM 1990.

(2) Xem “ The Transfer of Western Military Technology to VietNam in the late 18th and early 19th Centuries: The case of the Nguyễn”. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á. Đại học quốc gia Singapore, số tháng 10 năm 2003.

(3) Trương Hữu Quýnh chủ biên. Đại cương Lịch sử Việt Nam. Tập 1. NXB Giáo dục, 1998.

(4) Quốc Sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục (nhiều tập).Bản dịch tiếng Việt của Trịnh Đình Rư-Trần Duy Hân Hoa Bằng hiệu đính).NXB KHXH,HN, 1971.

(5) Anthony Reid, “A New Phase of Commercial Expansion”, New York: MacMillan Press, 1997, trang 70.

(6) Vĩnh Sính.Thử tìm hiểu thêm về chuyến đi công vụ ở Hạ Châu của Cao Bá Quát. Tạp chí DĐĐT Paris 2004.

(7) (8) Crawfurd, Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochinchina, Oxford University Press, 1987, trang 513.

(9) Wong Linken, “Singapore: Its Growth as an Entrepot Port, 1819-1941, Journal of Southeast Asian Studies, no. 9, 1978, trang 61.

(10) Xem “The Transfer of Western Military Technology to VietNam in the late 18th and early 19th Centuries: The case of the Nguyễn”. Sđd.

(11) Chu Thiên, Đặng Huy Văn, đồng chủ biên, Hợp tuyển thơ văn yêu nước: thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX , Nhà Xuất bản Văn Học, Hà Nội,1970, trang 416.

(12) Bài dụ: khiên trách viện thương bạc và viện Thừa Thiên Phủ trong tập Tự Đức thánh chế văn tam tập,bản dịch của Bùi Tấn Niên và Trần Tuấn Khải, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa xuất bản, Sài Gòn, 1973, trang 45-46.


Nguồn: Văn Chương Việt


 

để lại phản hồi