Tần Thủy Hoàng: một ông vua nhiều sáng kiến


Bình Nguyên Lộc


Thống nhất Trung Hoa (Công lớn của Tần Thủy Hoàng đối với dân Tàu) riêng lấy nó, không phải là sáng kiến của vua Tần.

Cái thế lớn trong thiên hạ là chia lâu ắt hợp, hợp lâu ắt chia” (Tam Quốc). Khi sự phân chia lãnh thổ đã đến cùng cực thì tự nhiên có người lui cui may vá lại những mảnh đất đã bị xé vụn.

Sáng kiến chính là ở trong việc thực hành sự thống nhất ấy.

Tần Thủy Hoàng đã thống nhất sơn hà bằng máu lửa. Có người cho là không tốt, nhưng đó là câu chuyện khác, không xét đến ở đây. Ở đây chỉ nói đến một Tần Thủy Hoàng có nhiều sáng kiến. Trước hết là tài cải tổ quân đội.

Trước đó Trung Hoa người ta đánh giặc bằng hai binh chủng: xe và bộ binh.

Xe do bốn ngựa kéo và chở ba người: một người đánh xe, một người bắn cung bên trái, một người cầm giáo dài bên mặt.

Bộ binh là những nông dân, khi có việc mới được gọi nhập ngũ, và không được luyện tập.

Vua Tần bỏ binh chủng xe, nặng nề khó day dở và bắt chước các rợ chung quanh Trung Hoa, lập ra đoàn kỵ mã xạ kích. Đoàn này tiến lẹ như vũ bão nhờ khinh khoái hơn; cuộc đất nào chúng lăn xả vào cũng được chớ không phải như xe, chỉ tiện được ở đồng bằng.

Vua Tần lại dựng lên một đạo binh thường trực, luôn luôn có mặt dưới bóng cờ, và được luyện tập thuần thục, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu.

Về ngoại giao, ngoài sự hăm dọa cổ điển, vua Tần biết ly gián các lân quốc, luôn luôn phá rối sự đoàn kết của họ bằng cách gieo nghi ngờ xui phản bội.

Sau khi gồm thâu được sáu nước cuối cùng, Tần Thủy Hoàng lại tỏ ra một nhà cai trị lỗi lạc, đinh thống nhất chánh trị, văn hóa và xã hội.

Trái với mong mỏi của họ, những công thần đã giúp vua Tần dựng nên sự nghiệp, không được cắt đất phong hầu như vào các đời vua trước. Họ chỉ được thăng quan, tăng bổng thôi. Chính sách của Tần Thủy Hoàng là diệt phong kiến; vậy thì phải tập trung chính quyền chớ cắt đất sao được.

Nước tàu chia ra làm 36 quận, một quận do một bộ ba quân-chánh- kiểm cai trị. Bộ ba luôn luôn gồm có ba người nghịch nhau. Họ không làm mưa làm gió một mình được, cũng không đoàn kết được để mưu phản.

Còn mặt chính trị, Tần Thủy Hoàng tiếp tục cuộc cách mạng vĩ đại của mình trong địa hạt văn hóa. Ông khiến Lý Tư quy định văn tự. Văn tự Trung Hoa là một thứ văn tượng hình. Muốn nói cái cây, vẽ hình cái cây. Khổ lắm là mỗi địa phương vẽ mỗi khác, nhất là những tiếng trừu tượng như là: mến, thương, giận, ghét. Lại có thêm phong trào thể thức hóa văn tự (stylisation) nó làm cho sự bất đồng càng bành trướng thêm mãi. Thể thức hóa là vẽ cho giản dị hơn, vuông vức hơn. Nhưng mỗi nơi lại giản dị theo lối riêng của nơi ấy, thành ra hỗn loạn vô cùng.

Lý Tư bắt phải vẽ giống nhau trong toàn quốc. Cái núi, nước Tề vẽ làm sao, đất Sở phải về làm vậy. Phương pháp thể thức hóa cũng phải thống nhất.

Vua Tần lại hạ lệnh cho các nơi làm thước đo và cân giống nhau. Thống nhất đo lường đưa kết quả tốt vào kinh tế không nhỏ vậy.

Trọng lượng 5 – cân với một mô tả từ sắc lệnh của Tần Thủy Hoàng để tiêu chuẩn hóa trọng lượng và các phép đo, 221 TCN

Ngoài ra lại bắt dân chúng khi chế tạo xe, cái ví xe không được dài hơn hai mươi bộ. Số là nhà Tần đã cho đắp đường, một công tác mà từ mấy ngàn năm nay chưa vua nào nghĩ đến. Đường ấy rộng năm mươi bộ, đắp cao lên cho khỏi bị nước ngập, nếu thực hành xong, nước Tàu sẽ phồn thịnh vô kể.

Nếu đã có đường rộng năm mươi bộ thì không thể cho tự do làm xe bao lớn cũng được, xe ấy phải nhỏ hơn phân nửa con đường, để có thể tránh nhau.

Tần Thủy hoàng lại ra lệnh bố ráp tất cả những người hành khất và lưu manh cho đi khai thác các đất mới ở Hoa Nam. Biện pháp ấy vừa giải quyết vấn đề nhân mãn ở thung lũng Hoàng hà, vừa đưa ảnh hưởng Trung Hoa đi xa, hoàn thành một thực dân ở đất mới.

Bao nhiêu sáng kiến tốt đẹp ấy, thế mà một khi Tần Thủy Hoàng chết không còn lại cái gì cả. Hay nói công bình hơn chỉ còn lại việc thống nhất sơn hà và tập trung chánh quyền là hai điểm cải cánh chính trị được tồn tại cho đến ngày nay.

Chỉ vì vua Tần cải cách đột ngột quá mà không có một đạo binh đi giải thích cho dân chúng hiểu sụ ích lợi của những cải cách ấy.

Khi vua còn tại vị người ta ngấm ngầm than van vì run sợ. Hoặc người ta có chống lại cũng thất bại vì chế độ Tần đang vững.

Nhưng một khi người kế nghiệp yếu đuối hơn, tự nhiên người dân đang bị lạc hướng vì chưa làm quen được với mớ cải cách nói trên, nổi lên chống trả.

Một ông vua thông minh và nhiều sáng kiến mà muôn dân đều thán oán chỉ vì ông thiếu lòng Nhân.


Nguồn: Tạp chí Bách Khoa, số 10, 1957


 

để lại phản hồi