Khoa học xã hội

Tinh thần nghiên cứu sử học


Nguyễn Thế Anh


Nhatbook: bài viết dưới đây được trích từ chương “Tinh thần sử học ngày nay” của sách “Nhập môn phương pháp sử học” (1974), vừa được tái bản lại với tựa đề khác “Phương pháp Sử học: Những nguyên tắc căn bản”. Mặc dầu được viết cách đây hơn 40 năm, nhưng những ý tưởng vẫn còn như mới và lạ lẫm với phần lớn chúng ta. Xin phép trích lại một phần để các bạn tham khảo. Tựa đề và các tô đậm là của Nhatbook. Nếu có điều kiện, mời các bạn mua sách giấy để ủng hộ tác giả và nhà xuất bản.


Một ngành Sử học mở rộng và đào sâu

Quan niệm được chấp nhận cho đến hậu bán thế kỷ XIX là sử học được coi trước hết là một ngành học nghiên cứu các hiện tượng chính trị, ngoại giao và quân sự trong quá khứ. Nhiệm vụ được dành cho sử học là tái lập lại sự diễn biến của các quốc gia và của các chính phủ các quốc gia này, các sự thăng trầm chính trị của chúng, mà sử gia nghiên cứu ở trình độ các nhân vật cao cấp nhất: nhà vua và triều đình, các tổng, bộ trưởng, giai cấp lãnh đạp; gần đây hơn, lại được chú trọng đến vai trò của các cơ quan đại diện dân chúng, với các sự biến đổi qui chế của chúng, các sự bầy cử, các vấn đề thảo luận trong các buổi họp. Sử ngoại giao có lẽ còn được coi là quan trọng hơn nữa: các sự liên minh, các chiến tranh, các sự thương lượng để khởi đầu hay chấm dứt chiến tranh, các sự sáp nhập và nhượng dữ lãnh thổ, đó là những sự kiện đáng được gọi là sự kiện lịch sử.

Sử gia phải trình bày các biến cố nói trên một cách xác đáng và đầy đủ đã đành, mà còn phải cố gắng giải thích nữa. Nhưng sự giải thích này đã chỉ dùng đến những yếu tố tâm lý rất giản lược, sơ sài: hoặc người ta đề cập đến tình hình của một vị vua hay một vị tổng trưởng, tính kiêu hãnh của nhân vật này, tham vọng của nhân vật khác, để coi đó là nguyên nhân chính yếu của các biến cố; hoặc người ta nói đến một khuynh hướng được coi như là tiêu biểu cho một quốc gia, khi mà người ta muốn hệ thống hóa bằng cách xác định thiên mệnh lịch sử của một triều thống hay một dân tộc (chống cự lại kẻ thù truyền thống, cố gắng chiếm cứ các ranh giới thiên nhiên, duy trì thế quân bình lực lượng, tiếp tục việc hình thành sự thống nhất quốc gia, v.v…)

Các sự tiến bộ của sự nghiên cứu sử, không những vì các sự phẩm mà các sự khám phá gia tăng nhiều hơn, nhưng cũng vì phương pháp của sử học và cái nhìn tổng quát của sử học ngày càng thêm hoàn hảo, đã phá vỡ khung cảnh quá chật hẹp mà truyền thống gán cho sử học. René  Grousset đã thốt ra như sau: ”Cái mà ta gọi là lịch sử, tôi muốn nói đến cái sự diễn biến của các đế quốc, của các trận đánh, của các cuộc cách mạng chính trị, của các niên đại phần lớn là đẫm máu, đó có thật là lịch sử không? Tôi xin thú thực là tôi không tin như vậy, và đãn có lần tôi xóa bỏ trong trí óc tôi đến hơn một phần tư các quyển sách giáo khoa sử mà tôi nhìn thấy… Lịch sử thực thụ không phải là lịch sử của sự biển đổi của các biên thùy, mà là lịch sử của văn minh. Và văn minh một mặt là sự tiến bộ của các kỹ thuật, mặt khác là sự tiến bộ của sinh hoạt tinh thần. Ta có thể tự hỏi sử chính trị phần lớn há chẳng phải là một lịch sử ký sinh… Lịch sử thật thụ trên phương diện vật chất, là lịch sử các kỹ thuật, nó bị che lấp bởi sử chính trị đã đè nén nó, tiếm đoạt địa vị của nó và cả danh xưng của nó nữa (L’Homme et son historie).

Đi đến trang bán sách: LINK

Sự phát triển của sử văn minh, Kulturgeschichte, trong lâu năm được coi là phụ thuộc đối với sử chính trị và quân sự, đã dần dần đưa đến một quan niệm mới, quan niệm sử học “vừa mở rộng và vừa đào sâu” theo lời của Marc Bloch.

Đào sâu: Sử học không còn vừa lòng với sự tường thuật các biến cố suông, mà còn cố gắng tìm hiểu các sự thật về mặt đoàn thể: các lực lượng xã hội, các tổ chức kinh tế, v.v… Đi tìm những yếu tố giải thích vững chắc hơn, sử học đã khám phá ra dần dần bề dày của các cơ cấu xã hội, ị che đậy dưới lớp vỏ mỏng của các hành động, các cử chỉ và các lời nói. Sự nghiên cứu còn đi xa hơn nữa: sử gia vượt quá các động cơ hiển nhiên để đi tìm những động lực bí mật đã thúc đẩy các nhân vật lịch sử, nhất là những thực thể mà các nhận vật lịch sử là phát ngôn viên, là nhân chứng và đôi khi là những đồ chơi nữa: sức mạnh xã hội, cơ cấu kinh tế, v.v.. Vid dụ: để giải thích sự thất bại của Robespierre, sử gia Albert mathiez đã nhấn mạnh lên chính sách kinh tế của Quốc ước hội (convention), đặc biệt là biện pháp hạn định tiền lương để chống lại sự gia tăng vật giá và đời sống đắt đỏ, đã làm cho giới thợ thuyền ở Paris bất mãn và lãnh đạm trước các sự tranh chấp chính trị, và cuối cùng không còn ủng hộ Robespierre nữa. Sử gia Jean Chesneaux cũng đã muốn nối liền cuộc khởi nghĩa của nhà Tây Sơn với tình trạng xã hội của nước Việt Nam vào cuối thể kỷ 18.

Sự nghiên cứu sử hướng về phí hạ tầng cơ sở của các biến cố bắt buộc phải chú ý đến địa vị quan trọng của các hiện tượng kinh tế, và xã hội, mà trong lâu năm không ai để ý tới. Về phương diện này, học thuyết Mác-xít đã có nhiều ảnh hưởng đối với sử học: trước khi trở thành một ý thức hệ, tư tưởng Karl Marx đã giữ một vai trò phong phú, bằng cách làm cho các nhà nghiên cứu sử phải chú trọng đến tính chất quan trọng của các hiện tượng kinh tế và xã hội.

Cùng một lúc, sử học đã mở rộng: Sự nghiên cứu sử văn minh phát triển đã đưa đến những ngành đặc biệt, mỗi ngành chuyên môn tìm hiểu một lãnh vực riêng, của hoạt động của con người. Với sử gia ngày nay, con người không còn chỉ là một con vật chính trị mà thôi; ngày nay ta có sử nghiên cứu các thể chế chính trị đã đành, nhưng ta còn có sử nghiên cứu pháp luật, kinh tế, các tổ chức điền thổ, các tổ chức xã hội, các phong tục tập quá, các tư tưởng, các khoa học, các nghệ thuật, v.v… Mỗi ngành nghiên cứu chuyên môn ấy không đóng chặt, nhưng trong lãnh vực chuyên môn của nó tạo nên những hiểu biết sẽ được phối hợp với các hiểu biết khác để lập nên một lịch sử tổng quát các nền văn minh. Ví dụ: sự hiểu biết của chúng ta về các gióng Đức-man đã đạp đổ đế quốc La Mã Tây phương đã trở nên phong phú hơn kể từ khi các sự hiểu biết về kỹ thuật luyện kim cho phép chúng ta lường được tài năng của các giống dân này trong việc luyện nên và sử dụng các loại thép khác nhau.

Nghiên cứu một thời đại lịch sử nào cũng là sự nghiên cứu hiện sử  

Benedetto Croce, một sử gia kiêm triết gia người Ý của đầu thế kỷ thứ XX đã nói: “lịch sử nào cũng là hiện sử”. Thật vậy, thời đại lịch sử nào cũng có thể được xem như là sử hiện tại vì, kể cả khi sử gia nghiên cứu một vấn đề xa xôi trong thời gian và trong không gian, kiến thức lập nên bởi sử gia chỉ đáng được coi và kiến thức sử nếu nó giúp vào sự giải thích các vấn đề được gây nên bởi môi trường chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa của thời đại trong đó sử gia tự đặt mình vào.

Phải hiểu quan niệm hiện sử này theo nghĩa rộng. Muốn tìm lại các biến cố của thời đại đã được họn lựa để nghiên cứu, sử gia không bao giờ tự ngăn cấm đi sâu vào trong thời gian và đi xa trong không gian, nếu thấy cần để hiểu rõ vấn đề nghiên cứu hơn. Sử học như vậy có mục đích là tìm hiểu và giải thích, cố tình khám phá ra nguyên nhân đầu tiên của các sự kiện, và những sự liên hệ, những mối dính dáng giữa các hoạt động của con người trong các thời đại khác nhau của quá khứ. Sự tìm hiểu này là một sự tìm hiểu thực nghiệm, nghĩa là sử gia phải sử dụng mọi ý thức, mọi quan niệm của mình về con người và về sự sống. Nhắc lại quá khứ, sử gia phải làm thế nào để quá khứ ây được rõ ràng và dễ hiểu cho thời đại hiện tại: đấy là mục đích chính của sử học; sử học không thể là một sự tường thuật lại từng biến cố một của quá khứ, sử học thật thụ không phải là biên niên sử.

Đi tìm hiểu sự thật, sử gia phải có những tài liệu làm bằng chứng đích xác: đây là một khía cạnh tối cần thiết của nghiên cứu sử. Bên cạnh việc tìm hiểu và giải thích, còn phải cần cù thu góp, phê bình các tài liệu để khảo chứng, nghĩa là những vậy liệu sẽ được dùng để đi đến sự tổng hợp. Sự tổng hợp này chỉ có giá trị nếu có được những phương pháp phê khảo tài liệu vững chắc. Sự nghiên cứu sử đòi hỏi phải giả quyết một số những điều kiện kỹ thuật, để có được những tài liệu sử chính xác. Song le, không phải chỉ cần có những tài liệu đã được chọn lựa cẩn thận là đủ, mà lại còn cần phải có khả năng để sử dụng các tafilieeju ấy, phải biết moi ra từ các tài liệu ấy tất cả những gì mà tài liệu có thể cho ta biết.

Vì thế sử gia phải hiểu những vấn đề nào cần giải quyết, phải thấu rõ những câu hỏi nào cần được đặt. Và muốn bày tỏ các vấn đề một cách hữu ích, không phải chỉ có kiến thức rộng và hiểu biết kỹ thuật là đủ, mà cần phải có một kiến thức nhân bản, nghĩa là có thể hiểu, cảm thấy và tìm thấy tất cả bản chất phong phú và tất ả sinh khí của một quá khứ đã là hiện tại của một số người cũng đã là những người sống. Quá khứ ấy aarrn trốn sau những di tích được giữ lại trong các tài liệu sử. Trong khi ấy, với quan niệm mở rộng và đào sâu của nó, sử học lại đòi hỏi và cần dùng rất nhiều phương tiện. Tài liệu sử dụng bởi sử học không phải chỉ là những văn bản, những tài liệu út lý nữa, mà là tất cả những vết tích của quá khứ dính dáng đến sự sinh hoạt của con người.

Song, cùng một lúc quan niệm của sử học mở rộng, sử học vấp phải nhiều khó khăn kx thuật hơn, nên đã phải nhờ đén sự cộng tác của các ngành học nhân văn khác liên hệ đến các hoạt động của con người. Nếu thực tế của sử học ngày nay phong phú hơn trước, sự phát triển ấy đã chỉ có được với sự phát triển của các khoa học nhân văn khác, như kinh tế học, xã hội học, địa lý, taal lý học, v.v… Sử học đã lợi dụng được những hiểu biết về thực tại của con người mà các ngành học ấy đã cống hiến cho ta.


Mời các bạn mua sách tại đây: <LINK>


 

 

Advertisements

Gửi phản hồi