50 nhà kinh tế tiêu biểu: Thomas Mun (1571-1641)


Steven Pressman

Chuỗi bài: 50 nhà kinh tế tiêu biểu


nhatbook-50 nha kinh te tieu bieu-Thomas Mun
Thomas Mun (1571-1641)

Thomas Mun là người nổi tiếng và được kính phục nhất trong hàng ngũ các nhà kinh tế trọng thương Anh thế kỷ XVII. Các nhà kinh tế này cho rằng nước Anh cần có thặng dư thương mại để kinh tế trở nên thịnh vượng. Mun đã viết như sau:

Cách thông thường… để gia tăng của cải và vàng bạc là thông qua ngoại thương, tức là chúng ta phải tuân theo qui tắc này: hàng năm phải bán cho nước ngoài nhiều hơn, về mặt giá trị, số hàng hóa mà chúng ta mua của họ, phần của cải không trở lại cới chúng ta dưới dạng hàng hóa nhất định sẽ quay lại dưới dạng vàng bạc.

Người ta không biết nhiều về cuộc đời của Mun. Ông của Mun làm việc cho sở đúc tiền Hoàng gia còn cha ông là nhà công nghiệp trong ngành dệt. Bản thân Mun đã sớm trở thành một thương nhân, sống ở Italia nhiều năm và nhanh chóng tích lũy được khối lượng tài sản lớn. Sau đó ông tham gia vào công ty Đông Ấn, một công ty cổ phần lớn của Anh buôn bán chủ yếu ở Viễn Đông. Vào năm 1615, ông được đề cử làm Giám đốc Công ty, cương vị mà ông nắm giữ đến hết đời. Sau khi Mun trở nên giàu có và có địa vị xã hội, ông được bổ nhiệm vào một số Hội đồng và Ủy ban của Anh. Hầu hết ác Ủy ban này đều ấn hành các báo cáo trong đó tên ông được đăng cùng một danh sách dài tên các thành viên nhưng bản thân ông chỉ viết có 2 bài khảo luận về kinh tế.

Tác phẩm đầu tiên của ông (1621) bảo vệ công ty Đông Ấn chống lại những chỉ trích cho rằng việc công ty đã xuất vàng bạc sang phương Đông (để đổi lấy các đồ gia vị) và sự mất mát các kim loại quý này làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh teea Anh. Tác phẩm Nghiên cứu về Thương Mại khong nghiên về tính chất trọng thương. Thay vì ủng hộ thặng dư thương mại và tích trữ vàng, Mun đưa ra mọi lập luận mà ông có thể nghĩ ra để ủng hộ công ty Đông Ấn.

Ông tuyên bố rằng các quốc gia trở nên giàu có đều do những nguyên nhân tương tự như các gia đình trở nên giàu có bằng cách tằn tiện và chi tiêu ít hơn so với thu nhập. Tương tự như vậy, quốc gia và gia đình trở nên ngèo đi do chi tiêu quá nhiều. Do vậy, ông lập luận, miễn là công ty Đông Ấn làm ra tiền thì nó sẽ không làm cho nước Anh nghèo đi.

Mun cũng chỉ ra rằng, lương thực, quần áo, và đạn dược là những hàng hóa thiết yếu, nếu nhập khẩu những hàng hóa này sẽ làm tăng phúc lợi của Anh. Tuy nhiên, nhập khẩu những hàng hóa xa xỉ sẽ có hại cho nước Anh. Tiếp đó Mun lập luận rằng công ty Đông Ấn chỉ đang nhập khẩu những hàng thiết yếu cho tiêu dùng.

Bảo vệ theo một cách khac, Mun cũng lập luận rằng thương mại với Ấn Độ sẽ cung cấp thị trường cho hàng xuất khẩu của Anh. Ngoài ra, thương mại với Ấn Độ làm lợi cho Anh vì nó loại bỏ được thương mại với Thổ Nhĩ Kỳ; nếu ngừng nhập hàng từ Thỗ Nhĩ Kỳ để mua hàng của Ấn Độn, như Mun chỉ ra, nước Anh sẽ tiết kiệm được rất nhiều.

Cuối cùng Mun lập luận rằng không phải tất cả hàng nhập khẩu xa xỉ đều cóa hại; một vài hàng nhập khẩu được cải tiến, tinh chế, bởi các công ty Anh và xuất khẩu trở lại, do vậy dẫn đến luồng kim loại quý ròng sẽ đổ vào nước Anh. Mun tuyên bố, hàng hóa nhập khẩu bởi công ty Đông Ấn nhìn chung là càn cho các nhà xuất khẩu Anh.

Nếu Nghiên cứu về Thương Mại làm Mun trở thành người biện hộc cho công ty Đông Ấn, thì cuốn sách thứ hai của ông (1664) được xuất bản sau kho ông qua đời, đã làm ông trở thành một vị tiền bối quan trọng trong lịch sử tư tưởng kinh tế. Điều đáng lưu ý nhất đối với tác phẩm Của cải của nước Anh có nhờ ngoại thương là nhãn quan rộng hơn. Ông không cố bảo vệ công ty Đông Ấn nữa, thay vào đó ông đứng tren quan điểm tổng thể quốc gia. Ông nhìn nhận thương mại nói chung, chứ không chỉ là thương mại của công ty Đông Ấn, và ông chỉ ra rằng ngoại thương làm một quốc gia trở nên giàu có hễ khi nào nó dẫn đến thặng dư thương mại. Ông cũng xem xét các yếu tố làm cho một nước có thặng dư thương mại. Cuối cùng, ông đưa ra một loạt các đề xuất mà các nhà lãnh đạo Anh có thể thực thi nếu họ muốn cải thiện vị trí thương mại của nước này.

Cán cân thương mại chỉ đơn thuần là phàn chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia. Khi một quốc gia có thặng dư thương mại thì xuất khẩu vượt nhập khẩu. Doanh thu từ việc bán hàng ở nước ngoài mà lớn hơn phần dùng để mua hàng từ nước ngoài sẽ được người nước ngoài trả. Trong thế kỷ XVII, những khoản thanh toán này được thực hiện bằng kim loại quý – vàng và bạc. Do vậy, thặng dư thương mại làm cho một quốc gia có thể tích lũy của cải và làm cho nước đó giàu lên. Ngược lại, thương mại trong nước không ther làm cho nước Anh giàu lên vì phần thu được của một công đan sẽ là phần mất đi của một cong dân khác. Ông cho rằng, để tạo ra thặng dư thương mại, nước Anh phải tự chủ và giảm nhu cầu hàng hóa nước ngoài. Người Anh cũng phải tằn tiện để có nhiều hàng hóa cho xuất khẩu hơn. Ông đặc biết coi thường và không khuyến khich tiêu dùng hàng xa xỉ.

Khi cung tiền trong nước tăng do thặng dư thương mại, xuât hiện một nguy cơ tiềm ẩn là người ta có thể cố gắng mua nhiều hàng hóa hơn. Điều này làm cho giá trong nước tăng và cuối cùng gây ra thua lỗ xuất khẩu do hàng sản xuất trong nước trở nên đắt đỏ hơn khi bán ở nước ngoài. Nhưng ông lưu ý rằng, kết quả này có thể dễ dàng tránh được. Để bảo đảm luồng tiền vào từ nước ngoài thật suwj làm lợi cho quốc gia thì tất cả tiền mới phải được tái đầu tư. Tái đầu tư cũng sẽ tạo ra nhiều hàng hóa hơn cho xuất khẩu trong tương lai. ở đây, Mun thừa nhận tầm quan trọng của đầu tư tư bản, và ông xem các cân thương mại dường như là một cách để tích lũy tư bản sản xuất.

Bên cạnh việc giải thích lợi ích của thặng dư thương mại, Mun cũng giải thích phải làm thế nào để làm tăng thặng dư đó. Trước hết, phải có chính sách giá. Mun muống hàng xuất khẩu phải được bán với giá “tốt nhất”, nghĩa là giá trị mạng lại doanh thu và của cải nhiều nhất. Nơi nước Anh có vị trí độc quyền trong thương mại thế giới, hoặc gần với độc quyền thì hàng hóa phải được bán với giá cao. Nhưng khi cạnh tranh nước ngoài lớn thì hàng hóa của Anh cần phải được bán với giá càng thấp càng tốt. Điều này sẽ làm cho doanh thu của Anh tăng và giúp đánh bại đượng các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Khi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài biến mất, Mun gợi ý nên tăng giá cả, nhưng không cao đến mức lại hấp dẫn đối thủ cạnh tranh đó quay lại thị trường.

Thứ hai, Mun giải thích rằng hàng hóa chất lượng tốt hơn sx có nhu cầu cao hơn trên thế giới và cũng sẽ làm cho nước Anh xuất khẩu được nhiều hơn. Sau đó ông giải thích làm sao chính phủ Anh có thể cải thiện chất lượng sản phẩm. Mun muốn chính phủ đặt ra quy định đối với các nhà sản xuất và thiết lập một hội đồng thương mại (tương tự như chức năng hiện nay của phòng Thơng mại Hoa kỳ), nó sẽ cố vấn cho chính phủ trong các vấn đề liên quan đến quy định hoạt động công nghiệp và thương mại. Những quy định này đối với các nhà sản xuất Anh phải khá chặt chẽ để bảo đảm rằng nước Anh sản xuất ra hàng hóa chất lượng cao.

Cuối cùng, Mun giải thích chính sách thuế quốc gia có thể giúp tạo ra thặng dư thương mại như thế nào. Ông nhận thấy rằng (đối lập với lợi ích quốc gia) một số công ty có thể muốn nhập khẩu hàng xa xỉ. Trong trường hợp đó, chính sách của chính phủ phải điều chỉnh lợi ích của cá nhân và quốc gia một cách hài hòa. Mun trông cậy vào thuế để đạt được mục đích này. Thuế xuất khẩu không được khuyến khích vì nó gây ra chi phí đối với hàng bán của Anh ở nước ngoài. Thuế nhập khẩu nên thấp đối với hàng hóa sau đó được xuất khẩu và cao đối với hàng hóa có xu hướng được công dân Anh tiêu dùng. Mun lập luận rằng thuế tiêu thụ đặc biệt hay thuế doanh thu chỉ có tác hại rất nhỏ. Mặc dù nó làm tăng giá lương thực và quần áo, nhưng ông tin rằng những loại thuế này sẽ dẫn đến tiền công cao hơn và do vậy sẽ chuyển sang người chủ. Mặc dù ông không đưa ra bất cứ lời giải thích nào cho điều này, một khả năng ông đã có ý tưởng về Lý thuyết tiền công vừa đủ. Khi giá cả của hàng hóa cần thiết cao hơn sẽ làm cho tiền công cao hơn, mức sống của người lao động nước Anh vẫn như cũ và thuế tiêu thụ đặc biệt thì do người giàu trả. Để tránh phải trả thuế này, người giàu chỉ còn hai lựa chọn: họ phải làm việc nhiều hơn và chăm chỉ hơn, hoặc họ có thể giảm tiêu dùng hàng xa xỉ. Mun lập luận trong trường hợp nào thì quốc gia cũng được lợi.

Tuy nhiên Mun không muốn nhà nước thu được thuế rồi sau đó lại chi tiêu xa xỉ hoặc lãng phí. Tiền thu được từ thuế phải được tiết kiệm nhằm để dành cho những lúc có tình trạng khản cấp, ví dụ như chiến tranh. Đồng thời, nhà nước cũng không nên tích lũy quá nhiều tiền thu từ thuế, đến nỗi nguồn tạo ra tư bản quốc gia bị giảm sút. Để trung hòa, Mun đề xuất mỗi năm Nhà nước nên tích lũy một lượng thặng du thuế so với chi tiêu để nó bằng với thặng dư thương mại hàng năm.

Mun và các nhà trọng thương bị các nhà kinh tế trong thế kỷ XVIII và XIX chỉ trích nặng nề. David Hume lý giải làm thế nào mà cán cân thương mại mất cân bằng có thể tự động điều chỉnh. Francois Quesnay và Adam Smith cả hai đều chỉ trích mạnh mẽ các nhà trọng thương, và lập luận rằng quy định của chính phủ ít khắt khe hơn đối với các công ty sẽ làm cho sản xuất trong nước mở rộng. Cuối cùng David Ricado đưa ra một cơ sở cho tự do thương mại. Tất cả các quan điểm choosgn tường phái trọng thương này nhanh chóng lôi kéo được các nhà kinh tế.

Tuy vậy, tư tưởng của phái trọng thương cũng đã có khi trỗi dậy tong thế kỷ XX. John Maynard Keynes ca ngợi trường phái trọng thương vì hj nhận ra rằng cầu do thặng due thương mại tạo ra sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chương 23 trong Lý thuyết tổng quát (Keynes, 1936), nhan đề “ghi chú về phái trọng thương”, ghi nhận công lao của phái trọng thương trên khía cạnh cho rằng các nước có thể tạo ra công ăn việc làm và thu nhập co công dân của nước học bằng cách tạo ra thựng dư thương mại, trong khi đó luồng tiền vào sẽ làm tăng đầu tư kinh doanh.

Nhưng có lẽ ủng hộ mạnh mẽ nhất cho học thuyết của trường phái trọng thơpng là ở Châu Á. Sự thành công của kinh tế Nhật Bản trong nửa sau thế kỷ XX đạt được là nhờ có các chính sách kinh tế mang tinh thần của trường phái trọng thương, thậm chí không có chủ đích. Chính phủ Nhật đặt ra các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cao, mà nó giúp Nhật trở thành nhà sản xuất hàng tiêu dùng chất lượng cao. Đạt được thành công về kinh tế cũng nhờ vào sử dụng thuế quan và bảo hộ để hạn chế nhập khẩu, trong khi đó khuyến khích các công ty trong nước xuất khẩu (xem Johnson, 1982).

Mặc dù Mun không được ác nhà kinh tế ngày nay đánh giá cao, và mặc dù ông không có những khám phá mở đường, nhưng ông thực sự đã để lại dấu ấn trong  lịch sử kinh tế học. Ý tưởng về chính sách kinh tế của chính phủ nên được sử dụng để tạo ra thặng dư thương mại và về phương cách đạt đợpc tăng trưởng kinh tế thông qua tăng trưởng xuất khẩu là hai đóng góp quan trọng có ý nghĩa lâu dài của ông.

Những tác phẩm của Mun:

  • A discourse of Trade from Englanf unto the East-Indies (1621) in Early Tracts on Commerce, ed. John R, McCulloch, Cambridge, Cambridge University Press, 1954.
  • England’s Treasure by Foreign Trade (1664) in in Early Tracts on Commerce, ed. John R, McCulloch, Cambridge, Cambridge University Press, 1954

Những tác phẩm viết về Mun

  • Buck, Philip W., The politics of Mercantilism, New York, Octagon Books, 1964
  • Johnson E.A.J., Predecessors of Adam Smith: The growth of British Economics Thought, New York, Augustus M. Kelly, 1965
  • Magnusson, Lars, Mercantilism: The shaping of an economic language, New York and London, Routledge, 1994

Tài liệu tham khảo khác:

  • Jonson, Chalmers, MITI and the Japanese Miracle: the growth of industry policy, Standford University Press, 1982
  • Keynes, John Maynard, The General Theory of employment, interest and Money (1936), New York, Harcourt Brace & World, 1964.

Nguồn: 50 nhà kinh tế tiêu biểu,

Steven Pressman, nxb Lao Động, 2003


 

để lại phản hồi