Khoa học xã hội

Về việc đi tìm lại cách viết chữ Việt cổ


Tạ Chí Đại Trường


nhatbook-ve viec di tim lai chu Viet co-Ta chi dai truong-2012

Trong Xưa và Nay, số 407, 408 tháng 7-2012, có đăng bài viết của ông Nguyễn Đại Việt (NĐV) đã được đẳng tải trên internet, nhan đề là “Tìm lại chữ Việt trong văn tự Việt cổ” và “Một đề xuất viết lại chữ “Việt” bằng Hán ngữ”, bàn chuyện xác định gốc gác chữ Việt Hán tự được Tư Mã Thiên (TMT) dùng liên hệ đến quốc danh Việt nam ngày nay. Phần đầu tuy còn cố sát các chứng cớ lịch sử được tác giả cho là có liên hệ đến lập luận đưa ra, nhưng cũng hé lộ được duyên cớ tình cảm thúc đẩy tác giả nghiên cứu như sẽ được bày tỏ rõ rệt trong bài sau.

Trong phần đầu, tác giả dùng những khám phá về cổ tự Hán thấy ở giáp cốt văn, chung đỉnh văn để chứng minh rằng chữ ‘v/Việt’ (ta viết theo chữ quốc ngữ ngày nay – sau đây cũng vậy) được sử dụng cho cả một tập đoàn lớn phía Nam Trường Giang ngày xưa, là từ ngữ sáng tạo có dụng ý của TMT, tác giả bộ Sử ký. Nó bao gồm hai thành phần: “tẩu” và “việt” mà phần sau có thể tìm thấy trong cổ tự, trong đó một dạng được xác nhận là chỉ nước Việt với vị vua Câu Tiễn của thế kỷ V TCN. Từ chữ ‘v/Việt’ này, tác giả tách ra các thành phần để chỉ nó cũng là được ghép từ một chữ “Việt nguyên thủy”, gồm phần chữ “ấp” )có nghĩa là nước/ quốc gia) và phần ‘người chim cầm (vũ khí) qua”. Lại từ sự phân tích này trên chữ “Việt nguyên thủy” thấy ở thanh kiếm của Việt Vương Câu Tiễn, tác giả cho đây mới đúng là chữ chỉ tên tập đoàn Bách Việt mà TMT vì mang tâm tình Đại hán, đã viết ra dạng “Việt bộ tẩu: ta thường thấy ngày nay.

Ở phần thứ hai, tác giả cũng theo lối phân tích chữ Hán qua các cách thức hội ý, hài thanh… chẻ chữ kiểu “chiết tự” để đi sâu vào ý nghĩa chữ “Việt” thấy trên thanh kiếm của Câu Tiễn. Theo ông, chữ “ấp” chiết từ chữ “Việt” Câu Tiễn kia lại có thể tách ra hai thành phần có ý nghĩa mặt trời và rồng. Nghĩa là đến giai đoạn phân tích này thì chữ ‘việt’ đó lại bao gồm đến ba thành phần:các chữ “mặt trời”, “rồng” và “người chim”. Như thế là đủ cho ông liên kết về nước Việt của Câu Tiễn (Bách Việt nói chung) với các truyền thuyết cùng chứng thực khảo cổ gần đây về người Việt (Nam) ngày nay: huyền sử con Rồng cháu Tiên và hoa văn người chim, hình mặt trời trên trống đồng, “một quyển chính sử của BÁch Việt”. Và như thế cũng là đủ cho tác giả xác định lại một nhận định không co gì là xuất sắc lắm mà hợp với nhiều người Việt thời nay:”Bách Việt mà hai bộ Sử Ký và Hán Thư đề cập đén chính là chủ nhân của vùng đất rộng lớn, bao trùm toàn cõi Hoa Nam và miền Bắc Việt Nam ngày nay; ngoại trừ Lạc Việt (Việt nam), các thị tộc Bách Việt khác đều bị Hán tộc tiêu diệt, đồng hóa và chiếm đoạt hết lãnh thổ”. Hình như đến đây là tóm gọn tạm vừa đủ ý kiến của tác giả.

Tác giả được giới thiệu là nhà khoa bảng thuộc lĩnh vực khoa học hàng đầu của thời đại, nên bài viết mới nhìn qua thật dễ có tính thuyết phục , cả khi chưa cần đến sự đồng cảm thời đại đã nhắc tới ở trên. Tuy nhiên cũng bởi vì kiến thức của nhân loại càng lúc càng nhiều, sự phân hóa chuyên môn càng lúc càng tách biệt nên các lập luận của tác giả đã để lộ những sơ hở nhiều cấp độ, giống như tác giả đã lạc đường vào lịch sử với cái PC tân kỳ nhất trong tay. Hãy bắt đầu bằng những chuyện bình thường, lẻ tẻ.

Chữ có nghĩa của nó nên “tự” có khác với “ngữ”, không thể lẫn lộn. Chớ coi đó là chuyện lặt vặt, bởi vì từ sự coi thường này mà tác giả đã dùng chữ “thời đại đồ đồng” vốn là một thuật ngữ chuyên ngành khảo cổ học thế giới: broze age, để chỉ loại văn tự khắc trên vật dụng bằng đồng, dùng vào việc tế tự thười Thương, Chu” “chung đỉnh văn”. Chỉ biết sử Hán qua sách dịch Việt và sách/ tác giả Anh Mỹ nên ông đem tên một nước ‘Chu” lạ hoắc vào trong bộ ba nước được cho là “khác” Trung Hoa: Sở, Việt, Chu. Thật ra, trước khi Trung QUốc phổ biến các danh từ riêng của nước mình bằng lối ghi chữ latinh được học giả thế giới bây giờ sử dụng thì học giả Âu Mỹ đã có phiên âm riêng, nay còn thấy trên các sách cũ, như Ts’in (tần), Ching hat Ts’ing (Thanh), Tch’ou (Chu)… Theo đó với nước Thục (vùng đất có lúc được ông Lưu Bị chiếm) thì họ ghi là “Chu”. Và được ông NĐV đưa vào bài nghiên cứu của ông để người ta dễ lẫn vào với nước Chu của thế giới Phong Thần, Đông Chu Liệt Quốc. Ông kể một loại Ư Việt, Dương Việt, Mân Việt, Nam Việt, Lạc Việt… cho là tên các thị tộc của Bách Việt mà không thấy trong đó Nam Việt là tên nước của Triệu Đà, người thường được cho là đã chiếm nước Âu lạc gồm hai nhóm Âu Việt và Lạc Việt được An Dương Vương gộp làm một. Cứ thấy ở đâu có chữ “Việt” là nhận bà con thôi.

Vì “đi đường tắt” nên ông NĐV mới ngạc nhiên “không hiểu vì sao sử gia Lê Văn Hưu thời nhà Trần… và sử gia Ngô Sĩ Liên triều vua Lê Thánh Tông… vẫn sử dụng chữ ‘Việt bộ tẩu’ của nhà Tiền Hán”. Cái “không hiểu” của ông NĐV không cần phải lôi cả vấn đề phương pháp luận sử học ra bàn, mà bằng vào suy nghĩ bình thơ]fng cũng thấy được ngay. Các sử quan kia sống ở thế kỷ XIII, XV thì làm sao biết được phát kiến của ông NĐV ở thế kỷ XXI? Họ viết sử phải dựa vào các chứng cớ họ nắm trong tay, trong trường hợp này là kiểu chữ Việt cuat TMT đến lúc này không phải chỉ là của TMT nữa. Ít ra học cũng phải theo các nguyên tắc viết sử được học để không rành rang vẽ ra các chữ Hán biểu thị âm “việt” chưa từng có trong chữ Hán như ông NĐV đã làm ở trang 14, số 406, ở hình 8 số 408 tạp chí Xưa và Nay. Các học giả Trung QUốc hoặc Trung Quốc học không ai để thì giờ làm công việc vô ích đó. Có tinh thần dân tộc như Lê Văn Hưu đã chứng tỏ cũng không dám đọc trên thanh kiếm của Câu Tiễn ra được chữ “gươm” không có trong tiếng Hán như ông đã tán thưởng.

Không phải bởi thành kiến, nhưng với những lỗi lầm sơ đẳng như đã chỉ ra thì bất cứ người đọc thừa thì giờ nào cũng không thể bàn thêm về bất cứ luận điểm nào trên bài viết cho là có nhiều công phu của ông NĐV được. Có quá nhiều “bằng chứng”, giả định được xáo trộn dạng hình, vị trí để cố chen vào sử học, để đặt thành vấn đề có dáng nghiêm túc, nhưng chính vì tính cách “lạc đường” của người khởi xướng mà nó phải đỗ vỡ ngay từ những kết tập văn từ được đưa ra trình bày để mong thuyết phục người khác. Hãy lấy chứng dẫn ở một câu không ai hiểu nổi:”Hán sử không trung thực khi ghi chép về Việt tộc, đó là sự thật, và điều đáng tiếc là Tư MÃ Thiên, dù với bất kỳ lý do nào, đã xem nhẹ kiến thức và uy tín của tác giả bộ Sử ký nổi tiếng khi dịch sai tên một chủng tộc…” (Chúng tôi nhấn mạnh. Bài chắc được gởi đến bằng file nên hẳn không thể có sai lầm đến từ tòa soạn).

Tuy nhiên tác giả đã bỏ công viết, chữ và ý đã được phô bày thì tât có tác động đến người đọc nên ta cũng phải ráng đi vào chính đề để may ra có thể loại trừ những tác hại cho sử học.

Trong thắc mắc kể trên về chuyện Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, ghép với việc giảng giải: “tẩu” có nghĩa là “chạy”, ta thấy ông NĐV đã lộ ra một khía cạnh khác ở chủ ý bài bác chữ Việt TMT: ông không chấp nhận việc Bách Việt mang thành phần tên của dân, nước mình lại có ý nghĩa trốn chạy!- đám dân đó có huyền sử Rồng Tiên, có trống đồng mà người Hán không có, có thị tộc LẠc Việt hiên ngang đương cự với người HÁn, toát cảnh bị tiêu diệt đồng hóa để trở thành người Việt của ông ngày nay… Có lữ đâu đó trong đầu óc, ông nhớ đến thuyết của L. Auroisseau về sự trốn chạy của đám Bách Việt trước đà lấn lướt của người Hán, hay nỗi ám ảnh về một cách nhìn khác của chữ Việt TMT, trong đó bộ phận “việt” (cái búa lớn) bên phải đã được thêm một nét thành chữ “tuất” để toàn bộ Việt TMT có nghĩa là “chó chạy” (tẩu + tuất). Không phải là bịa đặt, gắn thêm chuyện cho ông NĐV đâu. Phía dưới nền kiến thức về sử Việt của ông là các chuyện bàn sử tân thời kiểu Phù Đổng đáng giặc Ân, là dạng hình “điểu tự” nhảy qua người Chim trên trống đồng, “chính sử Bách Việt”… Và những chuyện này thì cũng không phải là phát hiện mới của ông NĐV. Đó là phát hiện của một người nổi tiếng, nếu xét về mặt có nhiều người theo, có nhiều tín đồ đủ cung bực từ thấp đến cao, đang cố công cùng sức làm việc sử học, cố chứng minh rằng quá khứ dân tộc Việt là đầy rạng rỡ, có vẻ như không có dân tộc nào trên trái đất này bì kịp. Ông Lương Kim Định.

Hãy chép lại một đoạn của ông NĐV để thấy ý và lời của Kim Định: “Lịch sử Bách Việt chứng tỏ không kém phần phong phú khi được hé lộ qua kỹ thuật đúc gươm, trống đồng cùng những di tích và cổ vật khác được khai quật trong vài thế kỷ qua, đấng tiếc là nền văn minh và văn hóa ấy đã liên tục bị tiêu diệt trong suốt hơn ngàn năm, lãnh thổ thì mất tất cả chỉ còn lại một dải nhỏ hẹp. Bị gián đoạn hơn 10 thế kỷ khiến sử Việt thiếu hẳn phần đầu, có chăng thì cũng mù mờ đầy bí ẩn; phần sau của lịch sử cũng chỉ mới bắt đầu kho người anh hùng xứ Đường Lâm…”  Rồi thử giwor sách ông thầy nói về điểu tự, về “ba/bốn chặng huyền sử của nước nam (Việt Điểu, Việt Hùng, Việt Ngô / Việt Chiết Giang, Nam Việt)” về “sứ mệnh trống đồng”… thì thấy ngay kiến thức của đồ đệ. Có điều đáng trách là dồ đề sinh sống vào giai đoạn sau của đất nước mở rộng , trên một xứ sở văn minh tột cùng, với phương tiện tiếp xúc kiến thức lớn rộng trong tay, như đã được sử dụng, vậy mà nói chuyện tình hình trống đồng theo hiểu biết của ông thầy.

Ông thầy (không được trưng bày) quả quyết “Việt vào Tàu trước” thì người học trò không nhận tông phái lấy hình ảnh trên mạng-toàn-cầu để “tìm lại chữ VIệt trong văn tự Việt cổ”, cái chữ “việt” có các hình thức kia lại được xác nhận là nằm trên các vật dụng đời Thương Chu, những triều đại của tộc Hoa Hán! Nếu không tự mâu thuẫn thì ông NĐV đã đảo ngược kết luận của hầu hết các học giả trên thế giới để vơ vinh quang về cho dân Việt (?) của ông. Cái dân Việt lộn xộn đó được ông ghép vào với tên nước của Triệu Đà cũng từng ôm trọn dân (Lạc Việt) của ông. Cách thế ghép đồng thời (dân) Lạc Việt, Âu Việt với (nước) Nam Việt cũng được thấy trong một nghiên cứu mới nhất trong nước (Nguyễn Ngọc Thơ  , “Nhận diện văn hóa Lạc Việt” trong Di sản lịch sử và những cách tiếp cận mới, nxb Thế giới, 2011, tr87-137) chứng tỏ ông không cô độc trong việc xiển dương một lý thuyết tân kì mà một đồ đệ Kim ĐỊnh khác đã than vãn là bị dòng học thuật chính thống chèn ép! Năm nào, một/ hai nhóm học giả Việt kiều bênh vực truyền thuyết tiên rồng, đã lấy từ các thành quả DNA đâu đó, chứng minh rằng vài mươi ngàn năm trước có một dòng di chuyển người ĐÔng Nam Á lên phía Bắc, khiến cho đồ đệ hùa theo: “Đấy, Việt vào Tàu trước đấy!”. Ông ta nhiệt thành viết sách tán dương ông thầy Copenic tân thời mà quên rằng mươi/ vài mươi ngàn năm trước đã có cái dân tộc nào mang tên “Việt” (viết kiểu nào cũng được) chưa? Thời mới cũng thật dễ dàng tìm trên mạng toàn cầu những lập luận đại loại như thế để cho lí thuyết Kim Định (có xê xích, xuê xoa cải biến) có thật nhiều quần chúng. Ông NĐV đem thiện ý vào lịch sử, cho là đã khám phá được một dụng ý mang tinh thần Đại Hán củ Tư Mã Thiên, của cả một âm mưu tiêu diệt Bách Việt của người thời đại Tiền Hán khi sửa đổi chữ cổ. Ông đã chứng minh thêm được quá khứ huy hoàng của tổ tiên người Việt của ông, trong đó có phần “cảm nhận cá nhân” với nhiệt tình về vua Việt Câu Tiễn qua thanh kiếm tìm thấy nhưng những điều đó, như đã nói, thật không đủ cho một kết luận sử học nghiêm túc. Điều đáng nói, là trong khi dựa trên một định đề sử học của một người cũng ngoại đạo như ông mà gặp thời thế đẩy đưa, được nấp lén hay công khai tâng bốc quả khả năng thật có, ông NĐV tuy chỉ dừng lại ở một tâm tình yêu dân tộc vương víu, lại sử dụng những thành quả để nâng uy tín cho một loại luận đề về sử học Việt Nam, có thể nói là đáng lẽ chỉ nên “lâu lâu nói chơi cho vui”, như chính tác giả nó đã thừa nhận. Và cũng đáng nói thêm, là đã xảy ra tình trạng nhiều người dùng những thành quả khoa học kỹ thuật mới đem vào “nghiên cứu”, “phát triển” thuyết Kim Định, tha hồ vùng vẫy sinh học phân tử, chữ anh u, tây tà, hán nôm, cut and paste phỉnh phờ người cả tin, hù dọa kẻ yếu bóng vía, bắt bẻ với những ai dám bài bác… Tất cả đã có đang kết thành một “học phái” sử học khoa bảng mà cơ sở là một tinh thần dân tộc chủ nghĩa mù quáng lúc khởi đầu. Và vì thế đã khiến cho tình hình sử học Việt Nam đến bây giờ vẫn còn thấy bi quan nhiều.■


Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay, số 416, 2012

Tải file gốc tại đây: <LINK>


 

Advertisements

Gửi phản hồi