Kinh tế - Kinh doanh

50 nhà kinh tế tiêu biểu: William Petty (1623-1687)


Steven Pressman

Chuỗi bài: 50 nhà kinh tế tiêu biểu


50 nha kinh te tieu bieu-William Petty

Wiliam Petty (1623-1687)

William Petty mà một trong những người đầu tiên suy nghĩ và viết ra một cách có hệ thống về kinh tế học, đồng thời là một trong những người đầu tiên áp dụng các nguyên lý kinh tế học vào thực tiễn. Tac phẩm của ông nghiên cứu về batrn chất của địa tô và thuế. Nhưng Petty nổi tiếng nhất về những nỗ lực của ông trong việc làm cho kinh tế học trở thành một khoa học mang tính định lượng và thống kê thông qua cái mà ông gọi là “số học chính trị”

Petty sinh năm 1623, trong một gia đình thợ may nghèo ở một thị trấn yên bình của Hampshire, bên dòng sông Test, miền Nam nước Anh. Việc học của ông về cơ bản chỉ có học thuộc lòng, đó là một kieru giáo dục điển hình đối với trẻ em thuộc tầng lớp xã hội thấp trong thời kỳ đó. Mặc dù vậy, Petty nổi lên trong cách giáo dục đó vì ông có tính rất tò mò và đọc rộng về văn chương và khoa học.

Vào độ tuổi q3 hay 14 gì đó, ông thôi học và tìm việc trên một chiếc tàu thường xuyên qua lại eo biển Măng-sơ. Trong năm đầu làm việc, ông bị gãy chân. Vì không còn có ích đối với người chủ, ông ở lại Pháp. Petty quyết định ở lại Pháp và nhập học trường Jesuit College ở Caen. Ông rời Caen năm 1640, dành 3 năm trong hải quân và sau đó đến Hà Lan để học giải phẫu và y học.

Năm 1646 Petty trở lại nước Anh để học nghề y tại trường Oxford. Sau khi nhận bằng tiến sĩ y học ông được bổ nhiệm làm Giáo sư giải phẫu tại Oxford. Petty trở nên nổi tiếng và được kính trọng vì người ta tưởng ông là kiếp phục sinh từ cái chất của một người đàn bà bị xử treo cổ. (Strauss 1954, chương 3). Nhưng trong những tuần giảng bài đầu tiên, ông đã nhận thấy rằng cuộc sống nghiên cứu không thích hợp đối với ông và ông đã rời Oxford để trở thành một bác sĩ trưởng trong quân đội Ailen. Cùng thời gian đó, Petty trỏe thành người giám sát chính ở Ailen, và ông đã dùng kiến thức có được trong công việc này để tích lũy được nhiều của cải và đất đai. Vào những năm 1660, ông giuso thành lập một Hiệp hội Hoàng gia London về nâng cao hiểu biết Tự nhiên. Cương lĩnh của nó tuân theo phương pháp khoa học của Francis Bacon-sử dụng quan sát và thí nghiệm  để nghiên cứu thế giới tự nhiên và xã hội.

Petty đã phát triển phương pháp số học chính trị nhờ vào kết quả áp dụng chương trình nghiên cứu của Hiệp hội haofng gia vào hiện tượng kinh tế. Trong lời mở đầu cuat cuốn Số học Chính trị (Petty, 1671, trong Hull, 1899), ông tuyên bố rằng mục tiêu của ông là bác bỏ niềm tin phổ biến và chỉ ra rằng nước Anh không phải đang gánh chịu một cuộc suy thoái kinh tế hoặc giảm sút trong thương mại nào cả. Mà ngược lại, ông tuyeen bố rằng nước Anh đang giàu có hơn bao giờ hết. Sau đó ông định bắt tay vào chứng minh luận điểm này. Nhưng không may, vào thế kỷ XVII, nước Anh không có các cơ quan của chính phủ để báo cáo các dữ liệu kinh tế một cách đều đặn. Báo chí cũng không cung cấp mọi thống kê kinh tế và tài chính mà người quan tâm đến muốn biết. Do vậy ông đã tự đảm nhiệm thu thập số liệu cần thiết để chứng minh nhận định của mình.

Về bản chất, phương pháp số học chính trị này là “nhằm diễn tả dưới dạng con số, trọng lượng hoặ thước đo, chỉ sử dụng những lập luận của các giác quan, và chỉ xem xét những nguyên nhân khi thực sự có cơ sở hữu hình, còn những thứ phụ thuộc vào trí tuệ, quan điểm, mong muốn và đam mêm của con người cụ thể mà không diễn tả được bằng lời thì để xem xét những vấn đề khác (Hull, 1899, tr244). Số học chính trị tận dụng phương pháp định lượng để phân tích các hiện tượng kinh tế và xã hội. Một khía cạnh của phương pháp mới này là sử dụng các on số và các phép đo để miêu tả thực tại. Một khía cạnh khác nữa là dùng những con số này để suy luận về cách thức thế giới vận hành. Ví dụ như bằng cách  chỉ ra rằng A và B cùng tăng, và để tăng B thì cần phải tăng A. Điểm chính cuối cùng của số học chính trị là nó cố gắng tách phân tích kinh tế ra khỏi vấn đề đạo đức hay niềm tin của các cá nhân, do vậy làm cho bất cứ nghiên cứu nào về nền kinh tế cũng trở nên khách quan hơn.

Ai cũng biết rằng phương pháp thực nghiệm hoặc khoa học tự nhiên khó áp dụng được vào kinh tế học. Một cuộc thí nghiệm có kiểm soát đúng sẽ đòi hỏi chúng ta phải bắt đầu với hai nền kinh tế giống nhau, hoặc hai nhóm người giống nhau, được đặt chính xác trong cùng tình huống. Khi đó chúng ta thay đổi một điều kiện chỉ đối với một trong hai nhóm này. Sau đó chúng ta sẽ quan sát xem một sự thay ddoooir này tác động như thế nào đến mỗi nhóm. Tiếc thay, trong thực tế không thể nào tạo ra hoặc tìm ra một môi trường như thế. Số học chính trị cố gắng thay thế phân tích thống kê cho phương pháp thí nghiệm, với hy vọng rằng đây là cách tốt nhất chúng ta có thể làm trong kinh tế học. Phương pháp thống kê này tiếp tục được dùng trong kinh tế học trở nên có tính ”khoa học tự nhiên” hơn bằng cách tìm ra làm thế nào để tiến hành các cuộc thí nghiệm kiểm soát được.

Để chúng minh rằng London giàu có và đang tăng trưởng kinh tế. petty bắt đầu chỉ ra rằng London có nhiều người và nhà cửa hơn Paris. Petty trước hêt xem xét số trung vị của số đám tang ở London và ở Paris trong giai đoạn 3 năm (1683-1685, London và 1682-1684, Paris), phát hiện thấy rằng số dáng tang ơt Long don (22.337) nhiều hơn ở Paris (19.887). giả thiết rằng tỉ lệ chết bằng nhauowr cả hai thành phố, ông kết luận rằng dân số London nhiều hơn Paris và London giàu có hơn Paris.

Một giả thiết quan trọng trong phân tích này là sự giàu có của một quốc gia phụ thuộc vào dân số của quốc gia đó. Trong khi giả thiết này có vẻ kỳ quặc trong thời đại mà các nước nghèo có xu hướng đông dân nhất và dân số tăng ở tỷ lệ cao hơn, thì đây lại là một giả thiết hợp lý vào thời kỳ Petty viết về vấn đề này. Nước Anh thế kỷ XVII không có cách trực tiếp để đo lường của cải nên một vài cách đo lường gián tiếp là cần thiết. Và Petty đã chojnc ách đo gián tiếp hợp lý. Trước khi các biện pháp kiểm soát mức sinh hiện đại xuất hiện thì dân số và tăng trưởng dân số về cơ bản phụ thuộc vào khả năng sống sót của trẻ em. Đến lượt nó, điều này lại đòi hỏi mức sống cao hơn hoặc sự giàu có hơn của quốc gia. Giàu có hơn thực sự dẫn đến mức tăng trưởng dân số nhanh hơn; do vậy, phân tích của Petty có thể là cách khả thi nhất thời đó.

Mặc dù Petty được liệt vào nhà trọng thương (xem thêm Mun) vì ông thường kêu gọi nước Anh phải có thặng dư thương mại, nhưng Petty ủng hộ thặng dư thương mại để tăng công ăn việc làm hơn là để tích lũy của cải. Ngoài ra không như các tác giả của trường phái trọng thương, Petty nhận thấy nhiều lợi ích từ tự do thương mại quốc tế. Cuối cùng, không như các nhà trọng thương, petty không scng vào thương mại quốc tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước Anh. Thay vào đó, ông nghĩ rằng tài chính công, hay chi tiêu của chính phủ và chính sách thuế mang yếu tố quyết định quan trọng trong sự thịnh vượng về kinh tế hơn là chính sách thues hay tích lũy được thặng dư thương mại lớn.

Trên thực tế, Petty trở thành người chỉ trích mạnh mẽ tài chính công của nước Anh, ông lập luận rằng hệ thống thuế của nước Anh là lực cản trở chính đối với tăng trưởng kinh tế. Tại nước Anh ở thế kỷ XVII, chi phí thu thuế rất cao, và số thuế người dân nợ chính phủ là không kiểm soát được, và sự bất công trong thu thuế là phổ biến. Tất cả những điều này làm giảm động lực làm việc và làm giáu của dân chúng. Và khi người ta thiết động lực đó, nền kinh tế trở nên đình đốn.

Nhưng Petty không phản đối tất cả các loại thuế. Ông cũng không cho rằng thuế lúc nào cũng xấu và làm hại đất nước. Vấn đề là với chính sách thuế thực tế của Anh, Petty (Hull, 1899, tr64) chỉ trích thuế thân của Anh vì nó thực chất là thuế lũy thoái. Ông cũng chỉ trích xổ số nhà nước như là một phương tiện để tăng doanh thu., ông coi đó như là “thuế đánh vào những thằng ngu tự phụ không may” Hull, 1899, tr64). Thay vào đó, ông ủng hộ thuế lũy tiến mà theo đó người ta trả theo “quyền lợi của học trong nền Hòa Bình Công cộng, theo tài sản hay sự giàu có”. Đôi kho ông xung ủng hộ thuế tỷ lệ đối với người tiêu dùn (Hull, 1899, tr91)

Tuy nhiên, việc thu được tiền từ thuế không quan trọng bằng việc số tiền đó được chi tiêu như thế nào. Theo Petty, việc thu thuế chỉ bị ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế nếu tiền thu từ thuế bị loại khỏi lưu thông. Nếu phần thuế thu được được tiêu dùng thì chũng sẽ có ít ảnh hưởng xấu hơn. Chi tiêu của chính phủ sẽ đưa tiền trở lại lưu thông và làm cho người ta trở lại làm việc. Điều này sẽ bù đắp cho mất mát tiền trong lưu thông và hiện tượng mất việc làm do tác động đánh thuế.

Hơn thế nữa, Petty nhận ra khả năng thuế có tác dộng tích cực. Petty đã nhận thấy một điều trước Nicolas Kaldor khi ông cho rằng nếu thuế khóa và tiêu dùng khuyến khích tiêu dùng và sản xuất năng suất cao, thì chúng sẽ làm tăng sản lượng quốc gia. Ngoài ra tiền thu thuế được tiêu dùng nhằm đảm bảo cho nền kinh tế vận hành một cách quy củ sẽ thúc đẩy sự giàu coscuar quốc gia. Do vậy, petty xem đó như là trách nhiệm của chính phủ trong việc tiêu dùng tieefn vào những việc như quốc phòng, tòa án, trường học, cứu giuso người nghèo và các công trình công cộng bao gồm đường sá, cầu cảng *Hull 1899, tr20). Cuối cùng, Petty lưu ý đến tầm quan trọng của chi tiêu chính phủ, thậm chí vào những khoản vô ích, nahwfm để tạo công ăn việc làm và loại bỏ những sự nhà rỗi. Tiên đoán trước cả Keynes, Petty viết về chi tiêu chính phủ như sau: “không có vấn đề gì nếu thuế được tiêu dùng cho việc xây dựng một kim tự tháp vô dụng trên cao nguyên Salisbury, hoặc mang đá từ Stinehenge lên đồi Tower, hay những việc tương tự” (Hull, 1899, tr31). Điều thực sự quan trọng ở đây là cần phải tiến hành một sự chi tiêu nào đó.

Mặc dù Petty có xu hướng thiên về thực nghiệm và thực tế nhưng ông đã thực sự đóng góp về lý thuyết cho kinh tế học. Ông là nhà kinh tế đầu tiên đưa ra ý niệm về thặng dư và cũng là nhà kinh tế đầu tiên giải thích địa tô trên cơ sở ý niệm này (Roncaglia 1985, chương 7). Mặc dù quan điểm địa tô là một phần thặng dư sau này được biết đến như là Lý thuyaast địa tô của phái trọng nông, nhưng lý thuyết thực tế là phát kiến của Petty chuứ không phải của Quesnay.

Để năm ss]jc ý tưởng về thặng dư, hacy nghĩ về một nền kinh tế nông nghiệp giản đơn chỉ trồng ngũ cốc. Trong cả năm, ngô vừa là đầu vào của quá trình sản xuát vừa là sản lượng đầu ra. Là đầu vào, ngô sẽ đc dùng làm hạt giống và để nuôi người lao động. Vào cuối năm ngô được thu hoạch và được dùng làm lương thực và hạt giống trong năm tới. Petty định nghĩa thặng dư như là chênh lệch giữa tổng sản lượng ngô đầu ra (thu hoạch hàng năm) và đầu vào của ngô cần có để làm ra sản lượng đầu ra đó. Petty nghĩ rằng địa chủ có xu hướng nhận tiền địa tô bằng phần thặng dư được tạo ra trên phần đất của họ. KHông ai trả tiền thuê đất nhiều hơn phần thặng dư có thể có được từ mảnh đất đó, vì người đi thuê khi đó sẽ bị thua lỗ. mặt khác cạnh trạnh giữa những người thuê đất sẽ đẩy tiền thuê đất lên mức thặng dư.

Mặt dù Petty có những đóng góp vào nghiên cứu về tài chính công, và tác phẩm của ông điịnh nghĩa và giải thích về ý thưởng thặng dư, nhưng ông có vai trò quan trọng chủ yếu do ông đã nhấn mạnh đến việc dùng con số hoặc dữ liệu để hiểu và giải thích nền kinh tế thực tế vận hành ra sao. Mặc dù ông cũng rất tích cực để phát triển thống kê kinh tế tốt hơn nhằm hỗ trợ cho những cố gắng phân tích trên (xem Hull, 1899, trang lxvi, chú thích 4), nhưng phải mất đến 250 năm sau mới có được dữ liệu đáng tin cậy. Hutchison (1988, tr37) chắc chắn đúng khi cho rằng Petty đã quá tự tin về việc chính phủ có thể thu thập được thống kế đáng tin cậy trong thế kỷ XVII nhưng Petty cũng đúng ki nghĩ rằng nếu không có thống kê thì hầu như không thể hiểu được nền kinh tế thay đổi như thế nào qua thời gian. Petty đã cố gắng tiến hành công việc đo lường đó và ông đã sử dụng chúng để cố gắn tìm hiểu nền kinh tế Anh. Điều này tạo nên đóng góp quan trọng nhất của ông về kinh tế và làm cho ông trở thành nhân vật kinh tế quan trọng nhất của thế kỷ XVII.


Những tác phẩm của Petty

  • The economics Writings of Sir William Petty, ed C.H. Hull, Cambridge, Cambridge University Press, 1899

Những tác phẩm viết về Petty

  • Hutchison, Terence, before Adam Smith: the Emerge of politial Economy, 1662-1776. Oxford, basil Balckwell, 1988
  • Letwin, William, The Origin of scientific Economics: English Economics thought 1660-1776, Londaon, Methuen & Co., 1963
  • Roncaglie, Alessandro, Petty, Armonk, New York, M.E. Sharpe, 1985.
  • Strauss, Erich, Sir William Petty: Portrait of a Genius, London, Bodley Head, 1954.

Tài liệu tham khảo khác.

  • Burtless, Gary, ‘The Case for Randomized Field Trials in Economic and Policy research”, Journal of economic Perspectives 9, 2 (spring 1995), pp. 63-84
  • Smith, Vernon L. “Experimental Methods in economics”, in the New Palgrave: A dictionary of economics, ed. John Eatwell, Murray Milgate and Peter K, Newman, New York, Stockton Press, 1987, 2, pp241-9
  • Smith, Vernon L, (ed), Experimental Economics, Aldershot, Edward Elgar, 1990.

Nguồn: 50 nhà kinh tế tiêu biểu,

Steven Pressman, nxb Lao Động, 2003


 

Advertisements

Gửi phản hồi