Khoa học xã hội

Địa danh Đồng Nai: nguồn gốc, ý nghĩa và quá trình phát triển


Lê Trung Hoa


1. Theo sử liệu Việt Nam, năm 1658, nhân việc vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân “xâm phạm biên cảnh”, quân chúa Nguyễn đã vào đánh chiếm Moi Xoai, nay thuộc tỉnh Đồng Nai. Như vậy, địa danh Đồng Nai có lẽ đã ra đời gần thời điểm vừa nêu.

Theo tài liệu chúng tôi hiện có, địa danh Đồng Nai xuất hiện bằng chữ Quốc Ngữ lần đầu tiên trong một báo cáo của giáo hội Thiên Chúa về tình hình giáo dân ở Nam Bộ năm 1747: Doũ – nai. Sau đó, địa danh Đồng Nai xuất hiện, vừa bằng chữ Nôm vừa bằng Quốc Ngữ vào năm 1772, trong Dictionarium annamitico – latinum (từ điển An Nam- La Tinh) của Pigneau de Béhaine.

Hai chữ Hán và Nôm mà tác giả dùng để phiên âm địa danh Đồng Nai là 仝 狔 . Hai chữ này về sau, Lê Quý Đôn, Trịnh Hoài ĐỨc, Taberd, Huỳnh Tịnh Của, Génibrel cũng viết như thế. Như vậy, tất cả các từ điển và sách sử địa đều nhất rí về cách viết bằng chữ Nôm địa danh Đông Nai.

2. Về nghĩa hai chữ trên, ta thấy các tác giả đều hiểu là “cánh đồng có những con nai”. Génibrel ghi rõ ý này” “la plaine aux cerfs”. Khi cần dịch địa danh này sang chữ Hán, các nhà nho đã fudng hai từ Lộc Dã. Lộc là con Nai; Dã là cánh đồng. Vậy, các nhà Hán học cũng hiểu chữ ghép Đồng Nai vốn có nghĩa trên.

3. Một số khác thay vì dùng Lộc Dã, lại dùng Lộc ĐỘng. ở đây phải chăng là dịch nghĩa? Theo nghĩa đen, Lộc Động là “hang nai”, rõ ràng không khớp nghĩa với Đồng Nai, và thực tế cho biết nai không ở trong hang. Theo chúng tôi hiểu, đây là một ừ ghép vừa dịch nghĩa vừa phiên âm. Lộc để dịch nai, Động để phiên âm Đồng. Hiện tượng tương tự đã được sử dụng. Người ta đã dùng từ ngữ Nghi Giang để chỉ Rạch Thị Nghè. (Thị) Nghè được phiên thành Nghi và rạch được dịch thành Giang. Mặt khác, để phiên âm địa danh Đồng Hới (Quảng Bình), người xưa đã dùng hai từ Hán Việt Động Hải. Động Hán Việt đã được dùng để phiên âm Đồng thuần Việt.

4. Ngoài hai trường hợp dịch nghĩa và dịch nghĩa-phiên âm nêu trên, còn có một trường hợp phiêm âm thuần túy: Nông Nại. Đồng được phiên âm thành Nông là có thể chấp nhận vì hai phụ âm đầu “đ” và “n” cùng là phụ âm đầu lưỡi, đã có nhiều tiền lệ chuyển đổi như: (tấm) đệm – nệm, (đến) đỗi – nỗi, độc (tiếng Mường)- nọc (tiếng Việt)… Còn từ Nai, trong tiếng Hán – Việt không có, nên phải dùng Nại là tiếng gần âm để phiên.

Nhân các tên gọi Lộc Dã, Lộc Động, Nông Nại, chúng tôi xin được phép lưu ý các nhà sử học: đây không phải là những địa danh thực thụ mà chủ là tên dịch, tên phiêm âm hoặc tên vừa dịch vừa phiên âm của địa danh Đồng Nai mà thôi. Chính vì lẽ đó, những tên vừa nêu không ba giờ được các từ điển Quốc ngữ ghi lại như Đồng Nai. Tương tự, thực sự không có các địa danh Sài Côn, Nghi Giang, Đại Phong Giang, Tiểu Phong Giang, Sa Giang, Thuyền Úc… mà chỉ có Sài Gòn, rạch Thị Nghè, rạch Ong Lớn, rạch Ông Bé, rạch Cát, Vũng Tàu…

5. Mặt khác, cấu trúc “từ chỉ địa hình+ tên thú” rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở Nam Bộ: rạch Bến Trâu, Gò Công, Hố Bò, cầu rạch Đỉa, ấp bàu Trăn,… Còn yếu tố nai hay hươu xuất hiện trong địa danh cũng khá nhiều: Hố Nai, Đồng Hươu (Biên Hòa), rạch Nai, ấp Bàu Nai, sông Mũi Nai, Hóc Hươu (TpHCM).

6. Cho đến nay, địa danh Đồng Nai đã chỉ ít nhất 8 đối tượng, tứ là có 8 địa danh Đồng Nai theo trình tự phát triển như sau:

Địa danh Đồng Nai đầu tiên là tên một cánh đồng có nhiều nai, một vùng trong lãnh thổ thỉnh Đồng Nai hiện nay.

Địa danh Đồng Nai kế tieeso chỉ cái chợ hạ lưu sông Đồng Nai vào thế kỷ XIX, cách thị xã Biên Hòa độ 5 dặm. Câu ca dao sau đây có nhắc đến tên này:

Chị Hươu đi chợ Đồng nai
Ghé qua Bến Nghé, ngồi nhai thịt bò

Địa danh ĐỒng Nai thứ ba chỉ cả vùng miền Đông Nam Bộ. câu ca dao sau đây nhắc đến địa danh này:

Hết gạo thì có Đồng Nai
Hét củi thì có Tân Sài chở vô

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

Địa danh tiếp theo là tên sông. Vì chảy qua miền Đông Nam Bộ nên sông mang tên Đồng Nai. Câu tục ngữ “gạo Cần Đước, nước Đồng nai” nói về giá trị của gạo ở cần Đước và tính trong lành của nước ở dòng sông này.

Địa danh Đồng nai thứ năm chỉ cả Nam Bộ Đồng nai trong bài “Chạt Tây” của Nguyễn Đình Chiểu và trong hai câu ca dao khá phổ biến ở miền trung sau đây chỉ vùng đất này:

Bến nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây

Đồng Nai gạo trắng như cò
Trốn cha, trốn mẹ xuống đò theo anh

Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng

Địa danh Đồng nai trong câu “Nhất Đồng Nai, nhì Hai Huyện” cũng chỉ cả Nam Bộ.

Mặt khác, chiếc cầu trên xa lộ Hà Nội bắc qua sông Đồng Nai được xây trong thời gian 1957-1961, cũng mang tên Đồng Nai.

Đầu năm 1976, ba tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy đã được sáp nhập thành tỉnh Đồng Nai.

Ngoài ra, còn có địa danh Đồng nai Thượng. Đây là tên một tỉnh ở thượng nguồn sông Đồng Nai, lấy Đà Lạt làm tỉnh lỵ, lặp năm 1899 và giải thể năm 1901.

7. Đối với tên nước Thù Nại, chúng tôi thấy không có quan hệ gì với địa danh Đồng Nai vì mấy lý do. Trước hết, các nhà sử học chưa nhất trí về tên gọi nước này (Thù Nại, Thù Cấm hay Chu nại?). Kế đến, nước này nằm ở địa phận vào (Nam Bộ hay nơi khác?). Mặt khác, Nai có thể có quan hệ về ngữ âm với Nại, chứ Cấm thì không. Còn Thù và Chu hoàn toàn không có quan hệ gì về âm và nghĩa với Đồng. Sau cùng, tên nước này vốn là một từ cổ được hán Việt hóa, còn Đồng Nai là một từ thuần Việt và xuất hiện trong thời ký cận đại.

.■


Nguồn: Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và Tiếng Việt văn học.
PGS.TS. Lê Trung Hoa, nxb Khoa Học Xã Hội, 2005

Để xem chi tiết các chú thích, có thể tải bản scan tại đây: <LINK>


 

Advertisements

Gửi phản hồi