Kinh tế - Kinh doanh

John Locke: người đặt viên gạch triết học đầu tiên cho sở hữu tư nhân


Steven Pressman

Chuỗi bài: 50 nhà kinh tế tiêu biểu


Những đóng góp của John Locke cho kinh tế học trước hết là đóng góp của một nhà triết học. Ông đưa ra những lý lẽ ủng hộ đầu tiên cho sở hữu tư nhân và hạn chế can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế. Điều này đem lại nền tảng triết học cho sự phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản Anh thế kỷ XVII, và giúp nó giành được sự chấp nhận trong một thời đại bị thống trị bởi những niềm tin tôn giáo. Locke cũng có một số đóng góp trong lý thuyết về tiền tệ và lãi suất.

Locke sinh năm 1632, trong một gia đình khá giả ở Somerest, nước Anh. Cha ông là một luật sư sở hữu khá nhiều đất đai. Một trong những khách hàng tốt nhất và là người bạn thân thiết nhất của cha ông là Alexander Popham. Popham trở thành thành viên Nghị viện vào năm 1647 và đã giúp Locke được nhận vào trường Westminster, một trong những trường công tốt nhất và có ảnh hưởng nhất của Anh.

Locke học rất giỏi ở Westminster và vì thế ông được nhận học bổng tới học tại đại học Oxford, và nhập học tại trường Nhà thờ Chua Ky-tô (Christ Church) Oxford năm 1652. Ông nhận bằng cử nhân vào năm 1656 và bằng thạc sĩ năm 1659. Sau đó ông tiếp tục giảng dạy tại trường Oxford và trở thành giảng viên về Hy Lạp vào năm 1660 và giảng viên về tu từ học vào năm 1662.

Ioosng như nhiều người đương thời, Locke bị lôi cuốn bởi khám phá của William Harvey về máu lưu thông trong cơ thể, và ông bắt đầu nghiên cứu y khoa những khi rảnh rỗi. oong trở thành bác sĩ riêng cho bá tước Ashley, bộ trưởng bộ Tài Chính, và nhanh chóng trở thành trợ lý riêng. Từ mối quan hệ với bá tước Ashley, Locke biết thêm về các vấn đề kinh tế quan trọng khi đó, như thương mại với các nước thuộc địa Anh và lãi suất.

Do những hiểu biết chuyên sâu mà ông đã phát triển về các vấn đề thuộc địa, vào năm 1673, Locke được bổ nhiệm làm thư ký hội đồng thương mại và đồn điền. hai năm sau đó ông trở về với cuộc sống riêng tư và có một đam mê khác – đó là triết học. Vài năm sau đó, ông viết tác phẩm Tiểu luận về sự hiểu biết của con người (1690) và hai nghiên cứu về chính phủ (1690). Hai tác phẩm này khiến ông trở nen nổi tiếng như là một nhà triết học vĩ đại. Mặc dù vậy, Locke vẫn quan tâm về các vấn đề kinh tế, đặc biệt là vấn đề tiền tệ, và tiếp tục có những ảnh hưởng chính trị ở Anh cho đến cuối đời.

Locke có năm đóng góp cho kinh tế học, ba đóng góp mang tính triết học và hai đóng góp còn lại mang tính kinh tế nhiều hơn. Ông xây dựng các luận cứ triết học biện hộ cho sở hữ tư nhân và nhà nước, ông phát triển một phương pháp luận giúp kinh tế học trở nên “Khoa học”. Đóng góp này liên quan đén giả định rằng con người hành động một cách duy lý và bị ảnh hưởng bở động cơ tài chính. Các đóng góp vào kinh tế học của Locke liên quan đến lý thuyết tiền tệ và lãi suất. Ông lập luận chống lại các quy định của nhà nước về lãi suất và chống lại kế hoạch giảm giá đồng tiền Anh, vì những hành động đó sẽ mang lại những hậu quả kinh tế tồi tệ.

Có lẽ đóng goáp quan trọng nhất về mặt triết học của Locke là sự biện hộ  cho quyền cá nhân của sở hữu tư nhân. Vào thế kỷ XVII, hoạt động thương mại của Anh phát triển nhanh và trở nên xung đột với các thể chế phong kiến và tôn giáo thống trị. Nhìn chung, người ta đều thừa nhận rằng Thượng đế tạo ra trái đất chung cho loài người. Sở hữu nguồn lực của trái đất có nghĩa là không cho người khác hưởng nguồn lực đó. Điều này làm cho việc biện bộ cho quyền sở hữu tư nhân trở nên rất khó khăn.

Nhưng Locke đã làm được điều này. Trước hết, ông bắt đầu với một tiền đề không có gì phải tranh cãi rằng con người ta có quyền đối với lao động của chính họ và thành quả lao động của mình. Con người ta có được đất đai như là tài sản hợp pháp của họ bằng cách kết hợp lao động của họ với đất đai. Điều này là chấp nhận được nếu vẫn còn nhiều đất dư từa cho người khác, và miễn là cái mà người ta thu được từ đất không bị hỏng trước khi nó được tiêu dùng. (Lock, 1943, tr130)

Sau đó Locke đi từ việc bảo vệ quyền sở hữu một cách hạn chế như thế (dựa trên cái có thể tiêu dùng) đến bảo vệ quyền sở hữu tư nhân một cách rộng rãi hơn. Locke nhận thức rằng tiền hay tư bản thật ra là sản phẩm của lao động quá khứ. Do vậy, sở hữu tiền là hợp lý vì người ta lao động để có được nó. Tiền cũng cho phép người ta tích lũy ngày càng nhiều tài sản hơn, vì tiền không bị hỏng trước khi nó được tiêu dùng. Ràng buộc duy nhât đối với sự tích lũy vô hạn đó là quyền của người nghèo với một mức thu nhập cho phép họ tồn tại bất cứ khi nào không còn đất đai hoặc công ăn việc làm, và bất cứ khi nào họ không còn khả năng lao động (Locke, 1690). Ngoài ra, Locke lập luận rằng sở hữu tư nhân có giá trị thực tiễn vì khi con người được phép tích lũy tài sản thì họ sẽ lao động có năng suất hơn.

Đóng góp thứ hai về mặt triết học của Locke là sự biện hộ cho Nhà nước trong nền kinh tế. Với nhiềm tin phổ biến thời đó, Locke cho rằng luật tự nhiên đã phản ánh rõ ngọn nguồn quả quyền lực chính trị là ở cá nhân. Nhà nước chỉ tồn tại khi một nhóm cá nhân đồng ý chuyển giao một vài quyền của họ cho một người lãnh đạo chung. Locke coi nhà nước như một công ty trong đó các cổ đông là những người có tài sản. Con người đặt bản thân họ dưới sự thống trị của nhà nước nhằm bảo vệ cuộc sống, tự do, và đất đai của họ. Do vậy, tất cả các công dân (hay ít nhất là những người có đất đai và tài sản) đều có lợi khi tham gia vào xã hội dân sự; với một tiền đề rằng tất cả công dân đều ngầm định đồng ý với thống trị của nhà nước. Ngược lại, những người cầm quyền phải bảo vệ lợi ích của các công dân của họ, nếu không họ sẽ bị loại khỏi công việc đó và được thay thế bởi người khác, người sẽ duy trì khế ước xã hội đó. Vì nhà nước xuất hiện như là kết quả của các quyết điịnh mang tính cá nhân về luật và nguyên tắc, nên có thể biện hộ cho nhà nước như là kết quả của luật tự nhiên.

Đóng góp cuối cùng về mặt triết học của Locke liên quan đến phương pháp luận kinh tế học, hau việc nghiên cứu kinh tế học nên được thực hiện như thế nào. Locke xem con người như là những cá nhân vị kỷ duy lý, hành động theo động cơ kinh tế. Đoeèi này khác với quan điểm tôn giáo đương thời cho rằng con người có lòng vị tha, hay về cơ bản họ đi theo tiếng gọi của tôn giáo. Vì con người được dự trù sẽ hành động theo những các thức nhất định, nên ta có thể tìm ra các quy luật và nguyên lý kinh tế. Ví dụ, Locke nhận thấy rằng khi giá một số mặt hàng tăng, người ta sẽ thay thế bằng hàng hóa rẻ hơn thay vì những hàng hóa thường tiêu dùng; tương tự như vậy, người bán sẽ phản ứng lại các cơ hộc lợi nhuậ lớn hơn bằng ách sản xuất và bán nhiều hơn. Kết quả là các định luật kinh tế có thể được xây dựng tương tự như định luật của Boyles trong hóa học và các định luật của Newton trong cơ học. Giống như các chất khí tuân theo những diễn giải toán học trong vật lý và hóa học, con người cũng sẽ hành động một cách hợp lý khi đưa ra các quyết định kinh tế (Vaughn, 1980)

Trong lĩnh vực kinh tế học, Locke có những đóng góp vào lý thuyết tiền tệ và lãi suất. Vào giữa thế kỷ XVII, Josiah Chikd cho rằng Nhà nước nên hạn chế lãi suất ở mức 4% (Letwin, 1963, tr157), với lập luận rằng lãi suất thấp hơn sẽ có lợi cho thương nhân và những người muốn vay tiền cho các mục đích hữu ích, và do đó có lợi cho cả quốc gia xét về tổng thể. Theo Child, chỉ duy những người vay với lãi suất cao là bị thiệt hại bởi chính sách này.

Locke (1691) bác bỏ quan điểm trên, và đưa ra một trường hợp chống lại quy định của chính phủ về lãi suất. Ông lập luận rằng luật về cho vay nặng lãi chỉ đơn thuần phân phối lại lợi ích từ thương mại giữa thương nhân và người cho vay, chúng không làm lợi cho toàn bộ quốc gia vì chúng không làm tăng mức vay và đầu tư. Ví dụ, nếu một thương nhân có thể trả 10% cho khoản tiền vay và lãi suất hiện hành là 5%, người cho vay và thương nhân sẽ chia nhau phần lợi từ thương mại là 50-50. Nhưng nếu chính phủ cấm các khoản vay có lãi suất cao hơn 4%, thì 60% phần lời từ thương mại sẽ thuộc về thương nhân và 40% còn lại thuộc về người cho vay. Trong trường hợp này, không có thêm đầu tư và cũng không có thêm lợi ích ròng của quốc gia. Trên thực tế, quốc gia sẽ bị lỗ ròng nếu một số người không bằng lòng cho vay ở mức lãi suấtt 4%. Locke kết luận, sẽ tốt hơn nếu để lãi suát tiến tới mức tự nhiên của nó, chứ không phải áp đặt lãi suất bằng sắc lệnh của nhà nước.

Lãi suât tự nhiên đối với Locke là lãi suất thị trường tự do, lãi suất được quyết định bởi quy luận cung cầu. Khi cung tiền thiếu, giá cả của nó (hay lãi suất) sẽ tăng vì người cho vay biết rằng học có thể đặt giá cao hơn. Một cách duy lý, người cho vay sẽ đặt lãi suất cao hơn và kiếm được thêm tiền. Ngược lại, khi có nhiều tiền để cho vay hơn người đi vay muốn vay, lãi suất tự nhiên sẽ giảm. Người đi vay duy lý sẽ tìm đến một cuộc trao đổi hợp lý và chỉ những người cho vay giảm lãi suất mới tìm thấy người bằng lòng vay. (Locke, 1968, tr9-11).

Locke cũng là một nhân vật quan trọng trong vấn đề đúc tiền. Nước Anh vào thế kỷ XVII, tất cả các đồng tiền đều được làm bằng kim loại quí. Vì những kim loại này có giá tị nên người ta bắt đầu đẽo gọt mép đồng tiền. Những mảnh vụn này sau đó sẽ được đúc lại và bán làm vàng hoặc bạc. Do vậy, những người đẽo gọt tiền tích lũy được của cải, trong khi những đồng tiền bị đẽo gọt vẫn tiếp tục được lưu thông để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ. Hành vi này làm cho Thomas Gresham xây dựng nên một trong những nguyên lý kinh tế đầu tiên. Quy luật Gresham đơn giản nói lên rằng “tiền xấu loại bỏ tiền tốt”. Gresham muốn nói rằng con người duy lý sẽ năm giữ những đồng tiền tốt nhất (ít bị đẽo gọt nhất) và tiêu dùng những đồng tiền bị đẽo gọt nhiều nhất vì chúng chứa lượng bạc ít nhất.

Vào đầu năm 1690, chính phủ Anh đề xuất giải quyết vấn đề này bằng cách giảm trọng lượng của kim loại quí trong tất cả các đồng tiền, hay về thực chất là giảm giá trị đồng tiền quốc gia. Locke phản đối giải pháp này, và ông lập luận chống lại việc giảm giá trị đồng tiền và ủng hộ đúc lại tiền với khối lượng kim loại quí quen thuộc. Ông nghĩ rằng giảm lượng kim loại quí trong tất cả các đồng tiền sẽ không giải quyết được vấn đề vì giá hay sức mua của đồng tiền được quyết định bởi hàm lượng bạc trong đó. Giá trị tự nhiên của tiền không thể được áp đặt bởi chính quyền hay pháp luật của nhà nước.. Giảm chất lượng của đồng tiền chỉ đơn thuần làm cho các thương nhân yêu cầu tiền hơn (để duy trì cùng lượng bạc trước đó) trong trao đổi hàng hóa. Mặc dù ông tham gia vào cuộc tranh luận này khá muộn, ông đã giúp thuyết phục được chính quyền không giảm giá trị đồng tiền Anh và tiến hành đúc lại tiền với hàm lượng bạc như cũ.

Lập luận cho rằng giảm hàm lượng bạc của mỗi đồng tiền (và tạo ra nhiều đồng tiền hơn) sẽ làm cho giá cả tăng, khiến Locke trở thành vị tiền bối quan trọng của lý thuyết số lượng tiền tệ. Tuy nhiên, Locke vẫn là một nhân vật quan trọng trong kinh tế học chủ yếu vì những đóng góp mang tính triết học quan trọng cho kinh tế học. Những biện hộ của ông về quyền sở hữu tư nhân, về việc để hoạt động kinh tế không nằm ngoài sự can thiệp của chính phủ, được hầu hết các nhà kinh tế chấp nhận trong suốt quá trình lịch sử – thậm chí cho tới ngày nay.


Nguồn: 50 nhà kinh tế tiêu biểu,

Steven Pressman, nxb Lao Động, 2003


 

Advertisements

Gửi phản hồi