Nguyên tắc và nghệ thuật dùng người [Những nghịch lý trong lịch sử Trung Hoa]


02. NGUYÊN TẮC VÀ NGHỆ THUẬT DÙNG NGƯỜI

Phản kinh cho rằng, việc dùng người vừa là nguyên tắc, vừa là nghệ thuật, biết người và giỏi dùng người thì sự nghiệp thành công.

nhatbook-Nguyen tac va nghe thuat dung nguoi

1. Đặc điểm :

Y Doãn, khi xây dựng một công trình, ông dùng những người cường tráng, cao to để vác gỗ, gánh đất; dùng những người khuyết tật một mắt để đẩy xe, người bị gù lưng thì phụ trách việc sơn quét.

Tức là Y Doãn dựa vào đặc điểm của từng người để giao công việc.

2. Đúng sở trường :

Quản Trọng nói với Tề Hoàn Công :

– Không phải sức một cây gỗ mà làm nên một cái nhà lớn, không phải sức của một dòng nước mà làm nên một cái bể lớn, nếu chúa công có chí làm nghiệp bá, thì nên dùng năm người kiệt sĩ.

Tề Hoàn công hỏi :

– Năm kiệt sĩ là ai ?

Quản Trọng đáp :

– Có tài giao thiệp, biết giữ lễ phép, tôi không bằng Thấp Bằng, xin cho Thấp Bằng làm Đại tư hanh.

Có tài khai khẩn, biết cách trồng trọt, tôi không bằng Ninh Việt, xin cho Ninh Việt làm Đại tư điền.

Có tài luyện tập quân sĩ, khiến cho người ta quên chết, tôi không bằng Thành Phủ, xin cho Thành Phủ làm Đại tư mã.

Có tài xử đoán hình ngục, khiến cho người ta khỏi oan, tôi không bằng Tân Tu Nô, xin cho Tân Tu Nô làm Đại tư lí.

Có tính cương trực, thấy điều gì trái tất nói ngay, không sợ những người quyền quý, tôi không bằng Đông Quách Nha, xin cho Đông Quách Nha làm Đại gián quan.

Chúa công muốn nước cường thịnh thì dùng năm người ấy.

Tề Hoàn công nghe theo. Sau này, Tề Hoàn công thành nghiệp bá.

3. Tính tình :

Hoàng Thạch Công cho rằng, người giỏi dùng người, không chỉ biết dùng người mưu trí, người có dũng khí, mà kể cả những người tham lam và những kẻ ngu đần.

Khiến cho những người có mưu trí ra sức lập công, khiến cho những người có dũng khí toại chí, làm cho những người có tính tham làm trở nên giàu có, làm cho những kẻ ngu đần hi sinh mà không tiếc thân.

Căn cứ vào tính tình của mỗi người mà sử dụng, đó chính là vi diệu của người quyền mưu.

4. Sự thích hợp :

Sách Hoài Nam tử viết : Trong thiên hạ có nhiều cây cỏ có chất độc, nhiều cây thuốc độc. Nhưng người thầy thuốc lỗi lạc biết hái cây cỏ độc, thu gom những cây thuốc độc và biết dùng nó thì nó sẽ trở nên hữu ích và có giá trị rất cao.

5. Sở trường và sở đoản :

Về vật, con hoẵng ở trên núi thì chạy nhảy nhanh nhẹn, không ai đuổi kịp, nhưng khi nó chạy lạc xuống đồng bằng, thì đứa trẻ chăn trâu cũng đuổi kịp và bắt được nó.

Về đi lại, người Hồ dùng ngựa và cưỡi ngựa rất giỏi; người Việt thì dùng thuyền và chèo thuyền rất tài. Kĩ năng, tài năng của người Hồ và người Việt đều do đời sống và phương tiện giao thông hình thành.

Nếu bắt người Việt cưỡi ngựa, bắt người Hồ chèo thuyền, thì chắc họ sẽ không thi thố được tài năng.

Mỗi người đều có sở trường và sở đoản khác nhau; muốn dùng người thì phải biết sở trường sở đoản của mỗi người.

6. Đức hạnh và tài năng:

Tào Tháo cho rằng : “ Người có chí tiến thủ, không nhất thiết là người có đức hạnh. Người có đức hạnh chưa chắc đã có chí tiến thủ.

Chẳng hạn, Trần Bình là người thiếu đức hạnh (1) nhưng Trần Bình đưa ra nhiều kì kế, giúp Lưu Bang tranh hùng với Hạng Vũ, tóm thâu được thiên hạ, Trần Bình là người có tài năng.

Tô Tần là người không giữ chữ tín, tráo trở vô thường (2), nhưng Tô Tần làm tướng sáu nước liên minh chống Tần, khiến cho nước Yên, trước đó là một nước nhỏ yếu, sau nhờ Tô Tần, nước Yên có vị trí trong liên minh và được coi trọng.

Xưa nay, nói về trí mưu (nơi chiến trận) phải nhắc đến Hàn Tín, nói về lập thuyết thì không ai bằng Đổng Trọng Thư, nói về du thuyết phải nhắc đến Lục Giả. Sở dĩ họ được lưu danh, là nhờ được trọng dụng và dùng đúng sở trường “.

7. Thời thế:

Hoàn Phạm, người nước Ngụy, cho rằng : “ Nguyên tắc dùng người của các bậc đế vương là phải xem xét thời thế để sử dụng nhân tài.

Thời chiến, trước tiên phải dùng những người có tài thao lược.

Thời bình, trước tiên phải trọng dụng các trung thần, nghĩa sĩ.

Ví dụ

Tấn Văn công, khi lưu vong thì cùng với Tử Phạm, người nhiều mưu kế, để hành sự. Lúc lên ngôi, Tấn Văn công tưởng thưởng cho Tử Phạm nhưng lại dùng những trọng thần khác để cai trị đất nước.

Lúc sinh thời, Hán Cao tổ tin dùng mưu kế của Trần Bình nhưng trước khi lâm chung lại ủy thác giang sơn cho Chu Bột.

Người xưa có nói : Thời bình nên cử những người có phẩm đức cao thượng ở những chức vị cao quý. Thời chiến, phải trọng thưởng cho những người lập được chiến công.

8. Nhân vô thập toàn:

Gia Cát Lượng cho rằng : “ Lão tử rất giỏi về đạo dưỡng sinh nhưng không có tài để giải quyết những chuyện khó khăn, nguy hiểm. Thương Ưởng, có biệt tài về pháp trị, nhưng không giỏi về giáo hóa đạo đức cho nhân dân. Tô Tần, Trương Nghi có tài du thuyết nhưng không giỏi về việc dựa vào liên minh. Bạch Khởi có tài về công thành, phá lũy nhưng không giỏi về việc đoàn kết dân tâm. Ngũ Tư Tư giỏi về mưu lược để thôn tính nước địch, nhưng không có tài để bảo vệ được bản thân. Vĩ Sinh giữ chữ tín nhưng không biết tùy cơ ứng biến. Vương Gia biết đền ơn sự tri ngộ của minh chúa, nhưng không biết phò tá hôn quân. Hứa Thiệu có biệt tài phẩm bình tài năng cao thấp của người khác nhưng thuyết phục được nhân tài.

Cho nên, biết dùng sở trường của mỗi người là một nghệ thuật trong thuật dùng người ”.

<Về trang Mục Lục>


Nguồn: Những Nghịch lý trong Lịch sử Trung Hoa

Trần Sáng, nxb Giáo Dục 2009

bản scan tại đây: <LINK>


 



để lại phản hồi