Phân loại con người [Những nghịch lý trong lịch sử Trung Hoa]


03. PHÂN LOẠI CON NGƯỜI

Phan Loai con nguoi 2

Phản kinh nêu những cách phân loại con người theo truyền thống Trung Hoa, để dùng người.

1. Dung nhân, sĩ nhân, quân tử, hiền nhân và thánh nhân:

Khổng tử cho rằng có năm loại người là dung nhân, sĩ nhân, quân tử, hiền nhân và thánh nhân.

Dung nhân (kẻ tầm thường) :

Kẻ không có lòng tin, xử thế có trước không sau, hữu thỉ vô chung. Không chịu tu dưỡng. Miệng nói thao thao bất tuyệt nhưng không có chân tài, không có thực học. Gặp việc thì lúng ta lúng túng chẳng xong bề nào. Thích gần gũi bọn tiểu nhân, tránh xa người quân tử. Thấy lợi nhỏ đã vội quên nghĩa. Xử sự một cách tùy tiện, gió chiều nào thì theo chiều ấy.

Sĩ nhân (kẻ sĩ):

Người có lòng tin, tuân thủ nguyên tắc. Tuy không nắm được căn bản về thiên đạo và nhân đạo nhưng am hiểu được triết học nhân sinh. Xử sự tuy chưa được vẹn toàn, tận thiện, tận mĩ nhưng chí thú với công việc. Tuy không đa mưu, túc trí nhưng có thể tinh thông một số công việc. Ngôn luận không nhiều nhưng có chủ trương. Sự nghiệp thành tựu không nhiều nhưng cũng có thể làm nên những sự kiện. Tài trí hơn người, nói năng phải phép, nhận chân được sự việc, tố chất bên trong hòa hợp với hành vi bên ngoài, tính mệnh và hình thể là một. Phú quý không lấy đó mà vênh vang, bần tiện cũng không lấy làm xấu hổ.

Quân tử:

Người trung thành, giữ chữ tín, lòng dạ rộng rãi. Trọng nhân nghĩa, khiêm tốn, không khoe khoang. Trí mưu hơn người, thấu tình đạt lí, lời nói cử chỉ ôn hòa, nhã nhặn. Lòng tin vững vàng, làm theo chính đạo, tự cường không nghỉ. Là một con người bình thường nhưng cao cả.

Tuân tử cho rằng : Người quân tử có phẩm đức cao cả nhưng không mong người khác tôn trọng mình. Nói về tín và nghĩa nhưng không cầu người khác phải tin mình. Giỏi hành động nhưng cũng không mong người khác tôn trọng.

Bởi vì, người quân tử không lo tu thân là điều đáng sỉ nhục, nhưng bị người khác gièm pha, không cho đó là điều đáng sỉ nhục. Người quân tử không giảng về tín nghĩa là điều đáng sỉ nhục, nhưng khi người khác không tín nhiệm mình, không cho đó là điều sỉ nhục.

Người quân tử không có năng lực là điều đáng sỉ nhục, nhưng có năng lực mà không được người khác dùng, không lấy đó làm điều sỉ nhục.

Không bị mê hoặc bởi vinh dự, không oán hận khi bị gièm pha, thực hành theo chính đạo, giữ được bản chất, đó là người quân tử.

Hiền nhân (người hiền) :

Đạo đức hợp với pháp độ (chế độ, luật pháp), hành vi chuẩn mực. Lời nói và việc làm có thể trở thành hiệu lệnh thiên hạ nhưng không phương hại đến mình, dùng đạo đức để giáo hóa trăn họ nhưng không tổn hại cho quốc gia. Làm cho trăm họ, thiên hạ, ai cũng trở nên giàu có nhưng không tích cóp cho riêng mình. Vui làm điều thiện, mong giải thoát trăm họ và thiên hạ ra khỏi cảnh khổ.

Thánh nhân :

Đạo đức và phép tắc của tự nhiên, trời đất hợp thành một thể; có thể giải quyết những biến hóa của thế sự, thông đạt mọi phương diện, tri thức vô cùng vô tận. Hiểu thấu sự bắt nguồn của vũ trụ vạn vật, cuộc sống của thiên hạ và sinh linh và giải quyết theo quy luật của tự nhiên.

Đạo đức sáng tỏ như mặt trời, mặt trăng, biến hóa vận hành như thần minh, người đời không biết được, không đo lường được phẩm đức của bậc thánh nhân cao cả, vĩ đại, thâm sâu đến nhường nào ?

2. Anh, tuấn, hào, kiệt:

Sách Linh kinh (1) cho rằng có 4 loại người là anh, tuấn, hào và kiệt, goiï chung là anh hùng hào kiệt.

Anh: Đạo đức đầy đủ, tên tuổi vang xa, khiến cho người ở phương xa mến mộ mà theo về; kiến thức bác cổ, rút tỉa kinh nghiệm của người xưa, tài năng tuyệt thế, vượt xa người cùng thời đại, gọi là anh.

Tuấn: Dùng lí luận để giáo dục con người, hành vi phù hợp với quy phạm đạo đức, có lòng nhân ái được nhiều người ủng hộ, làm tấm gương sáng cho thuộc hạ noi theo.

Hào: Có trí tuệ, có tài quyết đoán khi gặp nguy hiểm, có thể làm cho những kẻ tham lam, keo kiệt hoặc những người khác tập quán, phong tục, kính nể.

Kiệt: Người có nhân cách, tiết tháo, có nghĩa cử cao đẹp, bị người gièm pha mà không hề oán hận, nhường nhịn người mà không hề miễn cưỡng, thấy lợi ích mà không tùy tiện giành lấy phần mình.

3. Thanh tiết, pháp phù, thuật gia, quốc thể và khí năng :

Ngoài hai cách phân loại của Khổng tử và sách Linh kinh, còn có cách phân loại khác, chia làm 5 loại là thanh tiết, pháp phù, thuật gia, quốc thể và khí năng.

Thanh tiết: Đức hạnh cao, mẫu mực trong lời nói và cử chỉ. Như Án Anh, Lý Quát.

Pháp phù: Đặt ra luật pháp, quy định chế độ làm cho nước mạnh, dân giàu. Đó là Quản Trọng, Thương Ưởng.

Thuật gia: Mưu trí xuất thần nhập hóa, kế sách kì diệu. Như Phạm Lãi, Trương Lương.

Quốc thể: Đức hạnh có thể làm thay đổi những phong tục không còn hợp thời, dùng pháp độ để chấn chỉnh thiên hạ, dùng quyền thuật để trị quốc anh bang. Như Y Doãn, Lữ Vọng.

Khí năng: Phẩm đức đầy đủ, tiêu biểu cho quốc gia, quy định pháp luật để trị lí hương ấp, dùng quyền thuật để chỉnh lí chính sự. Như Tử Sản, Tây Môn Báo.

4. Những ưu khuyết của thanh tiết, pháp phù và thuật gia :

Thanh tiết : Những người được xếp vào loại thanh tiết, thì không thể đòi hỏi ở họ về sự khoan dung, đại lượng, giỏi biện luận phải trái, mong việc gì cũng tận thiện tận mĩ. Như Tử Hạ.

Pháp phù: Pháp phù hoặc pháp gia, không cần mưu sâu, không cần nhìn xa trông rộng, lúc đương quyền, đương chức, thực hành nhiều chuyện đa đoan. Như Trương Thượng, Lý Quãng Hán.

Thuật gia: Thuật gia không sáng chế những gì để lại cho hậu thế, trong thời động loạn, chỉ chuyên về dùng quyền mưu; đầy đủ quyền thuật, mưu trí nhưng thiếu sự công chính. Như Trần Bình, Hàn An Quốc.

5. Một vài loại khác :

Những người giỏi lập thuyết, viết sách, truyền cho hậu thế như Tư Mã Thiên, Ban Cố.

Những người tuy không tham gia vào việc trị nước, nhưng có công xiển dương công nghiệp của thánh nhân. Như các Nho sĩ thời Hán.

Biện luận hợp với đạo nghĩa, ứng đối mẫn tiệp, có khẩu tài. Như Nhạc Nghị, Tào Khâu Sinh.

Gan dạ, tài trí hơn người, có trí có mưu. Như Hàn Tín, Bạch Khởi.

<Về trang Mục Lục>


Nguồn: Những Nghịch lý trong Lịch sử Trung Hoa

Trần Sáng, nxb Giáo Dục 2009


 



để lại phản hồi