Phân loại và sắp đặt chức vụ [Những nghịch lý trong lịch sử Trung Hoa]


04. PHÂN LOẠI VÀ SẮP ĐẶT CHỨC VỤ

 

Thiên này nêu các phân loại nhân tài, gọi là lượng tài, mục đích để phân phó chức vụ để sử dụng hết tài năng và kết giao.

  1. Lượng tài và phân loại :

Phân biệt tài năng mỗi người để sử dụng, gọi là lượng tài.

Phó Huyền phân nhân tài thành 9 loại :

Có đức hạnh là căn bản trụ cột của quốc gia, gọi là tài lương đống.

Có tài vận trù sách lược trong màn trướng, gọi là lí tài.

Giỏi chính trị, giúp nước trị dân, gọi là chính tài.

Giỏi nghiên cứu học thuật, gọi là học tài.

Giỏi chỉ huy quân đội, gọi là vũ tài.

Có tài về nông nghiệp, dạy dân trong việc cày cấy, gieo trồng, gọi là nông tài.

Giỏi chế tạo các công cụ, máy móc, gọi là công tài.

Giỏi buôn bán kinh doanh, làm cho bản thân và đất nước giàu có, gọi là thương tài.

Giỏi can gián nhà vua, biện luận nghị luận trong triều đình, gọi là biện tài.

  1. Tài năng và những chức vụ cao :

Tam công : Y Doãn cho rằng, người thông đạt đạo trời đất, biết được sự biến hóa của đất trời, của vạn vật, điều tiết được âm dương, thuận dụng được bốn mùa, lamø cho mưa thuận, gió hòa, thì có thể tiến cử làm đến chức Tam công.

Hán Văn đế hỏi Tả thừa tướng Trần Bình về việc hình ngục, tiền, lương.

Trần Bình trả lời :

– Đã có các quan chuyên trách.

Hán Văn đế hỏi :

– Ai chuyên trách ?

Trần Bình thưa :

– Bệ hạ hỏi việc hình ngục thì xin hỏi quan đình úy. Về tiền, thóc, thì xin hỏi quan trị túc nội sử.

Hán Văn đế hỏi :

– Nếu mọi việc đã có quan phụ trách cả rồi, thì ông làm gì nhỉ ?

Bình xin lỗi nói :

– Thần rất lấy làm sợ hãi ! Bệ hạ không chê thần ngu lậu, cho thần được ở ngôi Tể tướng. Nhiệm vụ của tể tướng, trên là giúp thiên tử điều lí âm dương, thuận dụng tứ thời; dưới thì trông nom vạn vật được yên ổn, thoải mái; ngoài thì trấn trị vỗ về bốn rợ và các nước chư hầu; trong thì giúp đỡ trăm họ, khiến cho các quan khanh, đại phu người nào cũng được thi hành chức vụ người ấy.

Hán Văn đế khen phải.

Hy Hòa :Sách Thượng thư viết, Chu Dịch có nói, trời đất thuận ứng với tự nhiên mà biến hóa, nên mặt trăng, mặt trời vận hành không sai chạy, bốn mùa tuần tự lại qua.

Vậy, bậc thánh nhân phải ứng với thời thế mà làm ra luật pháp, thì luật pháp rõ ràng, thì vạn dân phục tùng.

Trời đất biến hóa là do âm dương, có âm dương thì có mặt trăng, mặt trời, vật nào theo vật đó, nhưng lại tương quan với nhau.

Bậc quân chủ thánh minh, theo đạo trời, thuận dụng bốn mùa để nuôi dân, nên phải đặt ra quan Hy Hòa.

Ngoài ra, mọi hành vi của quân chủ phải hợp với phép tắc, thuận hòa âm dương; tất mặt trời, mặt trăng sáng rõ, mưa thuận, gió hòa, nóng lạnh thích nghi; như vậy, tai họa sẽ không sinh, dân chúng mạnh khỏe, vui vẻ. Tất cả đều do việc điều lí âm dương.

Cửu khanh : Ứng với bốn mùa, tinh thông địa lợi, làm cho bế tắc thành lưu thông, chuyển hóa những nhân tố bất lợi thành thuận lợi, thì có thể tiến cử làm chức Cửu khanh (3). Tố chất của chức Cửu khanh là đức hạnh.

Đại phu : Thông hiểu nhân sự, hành vi hợp với quy phạm, biết địa hình, địa lợi trong thiên hạ, làm cho kho lẫm của đất nước sung túc, có thể tiến cử làm chức Đại phu.

Gia Cát Lượng, nước Thục, cho rằng : Ngồi mà luận đạo, gọi là Tam công, còn làm những việc sự vụ, gọi là Ngự đại phu.

Liệt sĩ : Trung thành, chân chính, chí công vô tư, hết lòng can gián, dù phạm đến nhà vua, có thể cử làm Liệt sĩ, tố chất của liệt sĩ là nghĩa (khí).


  1. Những chức vụ khác :

Có phẩm đức, khí tiết thanh cao, thì làm Sư biểu. Có tài pháp gia, thì quản lí Tư pháp. Có tài thuật gia, có thể dâng kế sách, hoạch định kế sách cho quân chủ. Có tài bình luận, khen chê, thì làm thầy. Có tài khéo, có tay nghề, thì phụ trách việc xây dựng, kiến trúc, chế tạo. Có tài Nho học, thì phụ đạo cho thái tử. Có tài văn chương thì tuyển, tu chỉnh quốc sử. Dũng cảm, kiêu hùng, thì làm tướng.

  1. Tài năng và quản lí :

Khương Thái công phân biệt 9 hạng người để phân phó chức vụ như sau:

Một, người có tính nói nhiều, mở miệng ra chuyên nói điều ác, ai nấy đều ghét; cho người này quản lí chợ búa, đường phố, hang cùng ngõ hẽm, để phát hiện kẻ gian, đề phòng tai hoạ.

Hai, người thích những quản lí những việc phức tạp, tuế toái, thức khuya, dậy sớm, loại người này chỉ coi sóc việc nhà, vợ con.

Ba, lòng dạ thẳng ngay, miệng mồm lanh lợi, dễ gần gũi, bình thời không nói nhiều, không chiếm tài vật, có thể cử làm tiểu đầu mục, cai quản 10 người.

Bốn, hay lo lắng nhưng thần thái nghiêm trang, không nghe lời can gián, thường dụng hình, đổ máu, không bênh vực thân thích; có thể cai quản được một trăm người.

Năm, thích biện luận, hiếu thắng, xem cái ác như kẻ thù, thích dùng hình phạt, xác lập quyền uy; có thể cai quản được một ngàn người.

Sáu, bên ngoài khiêm tốn, nói năng cẩn thận, biết người no đói, thị sát được kẻ dưới; có thể làm tướng, cai quản được một vạn người.

Bảy, lúc nào cũng thận trọng, nghiêm cẩn, gần gũi hiền nhân, thường hiến sách lược, khí tiết, nói năng khiêm tốn cung kính, biết sỉ nhục; có thể làm tướng, cai quản mười vạn người.

Tám, ôn hòa, lương thiện, đôn hậu, dụng tâm chuyên nhất, cử người hiền, tín nhiệm người tài năng, thi hành luật pháp công chính; có thể làm tướng, cai quản một trăm vạn người.

Chín, nhiều công lao, tên tuổi vang dội, ra vào cửa các nhà hào phú nhưng thân cận với trăm họ, thành tín, khoan dung, biết đạo trị lí thiên hạ, biết cứu vãn lúc bại vong, trên thông thiên văn, dưới tường địa lí, xem trăm họ bốn biển thân thiết như vợ con của mình; là anh hùng, có thể làm chủ thiên hạ.

  1. Thầy, bạn, quan sử và đầy tớ :

Sách Linh kinh, chia làm bốn loại : Người có trí năng như nguồn nước suối, hành động có hiệu quả cao, nên tôn làm thầy.

Người có trí năng, do tôi luyện mà thành, có thể giúp người khác, được nhiều người kính nể, nên kết làm bạn.

Người biết tôn trọng luật pháp, trung thành, biết giữ chức vụ, nên phong làm quan sử.

Người chỉ thấy cái vui trước mắt, thấy chủ thì khép nép, chỉ cho làm đầy tớ (nô tài).

Bậc quân chủ, trên có thầy giúp đỡ, giữa có bạn trợ giúp, dưới có quan sử giúp việc, lúc nguy vong có nô tài đỡ đần.

  1. Luận thành bại qua chủ tướng :

Tôn tử cho rằng : Nếu xét hai bên, bên nào quân chủ có đạo nghĩa, bên nào có chủ tướng tài năng; bên quân chủ không giữ đạo nghĩa, chủ tướng không có tài năng; thì đã biết ai thắng ai bại ?

Ví dụ 1:

Tào Tháo đọc thư Viên Thiệu muốn mượn lương, lời lẽ kiêu ngạo.

Tháo hỏi Quách Gia :

– Viên Thiệu láo ! Ta muốn sang đánh, ngặt vì sức ta không nổi, nên làm thế nào ?

Quách Gia thưa :

– Lưu Bang không địch được với Hạng Vũ, thế mà Hạng Vũ bị bắt, vì Lưu Bang có nhiều mưu trí. Nay, Viên Thiệu có mười điều thua, còn ông có mười điều được, do đó quân của Viên Thiệu tuy mạnh nhưng không đáng sợ.

Tính Thiệu hay vẻ vời nghi lễ; ông thì dễ dãi tự nhiên, thế là được về đạo.

Thiệu hành động trái lẽ; ông thuận lẽ phải, thế là được về nghĩa.

Từ thời Hoàn, Linh đến giờ, triều chính đổ nát quá khoan rộng, thế mà ông lại đưa vào quy cũ, thế là được về chính trị.

Viên Thiệu bên ngoài khoan hòa, mà trong lòng nghi kị, lại dùng những người thân thích; ông thì ngoài giản dị, trong lòng sáng suốt, dùng toàn nhân tài, thế là được về độ lượng.

Thiệu thì nhiều mưu mà ít quyết đoán; ông được mưu hay là làm ngay, thế là được về mưu lược.

Thiệu hiếu danh; ông thì lấy thực bụng đão người, thế là được về đức.

Thiệu nghĩ chồ gần, quên chỗ xa; ông thì nghĩ đâu cũng khắo, thế là được về nhân.

Thiệu hay nghe dèm pha, ngờ vực người; ông thì không tin những đứa sàm nịnh, thế là được về sự sáng suốt.

Thiệu thì phải trái hồ đồ; ông thì phép tắc phân minh, thế là được về văn.

Thiệu thích hư trương thanh thế nhưng không biết cách dùng binh; ông thì lấy ít đánh nhiều, dùng binh như thần, thế là được về võ.

Ông được mười điều ấy, đánh thắng Thiệu thì có khó gì ?

Ví dụ 2:

Nghe tin Viên Thiệu cất quân, Tào Tháo bèn họp các mưu sĩ bàn việc nghênh địch. Khổng Dung thấy thế, vào nói với Tào Tháo rằng :

– Viên thiệu thế to, không nên đánh nhau, nên hòa thì hơn.

Tuân Úc nói :

– Viên Thiệu là người vô dụng, hòa với nó làm gì ?

Dung lại nói :

– Viên Thiệu có đất rộng, dân mạnh, bộ hạ như bọn Hứa Du, Quách Đồ, Thẩm Phối, Phùng Kỉ đều là những người mưu trí; Điền Phong, Thư Thụ đều là trung thần; Nhan Lương, Văn Sú sức khỏ hơn ba đội quân; còn như Cao Lãm, Trương Cáp, Thuần Vu Quyền toàn là những danh tướng đời nay. Sao lại bảo Thiệu là vô dụng ?

Úc cười nói :

– Thiệu binh nhiều mà không nghiêm chỉnh; Điền Phong cương trực mà hay phạm người trên; Hứa Du tham mà không khôn, Thẩm Phối tự cho mình là phải nhưng không có mưu mẹo, Phùng Kỉ tính quả quyết nhưng không làm được việc. Mấy người ấy không ưa nhau, tất rồi sẽ sinh nội biến. Nhan Lương, Văn Sú tuy khỏe nhưng chỉ là đồ thất phu, chỉ đánh một trận là bắt được; còn như những đồ tầm thường nhung nhúc, dẫu có trăm vạn cũng chẳng kề vào đâu.

Khổng Dung ngồi nín lặng. Tháo cười to nói:

– Đều không ra ngoài tính toán của Tuân Văn Nhược (Tuân Úc).

<Về trang Mục Lục>


Nguồn: Những Nghịch lý trong Lịch sử Trung Hoa

Trần Sáng, nxb Giáo Dục 2009


 



để lại phản hồi