Tư liệu

Những phương pháp khảo sát con người [Những nghịch lý trong lịch sử Trung Hoa]

Có thể bạn quan tâm:


05. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT CON NGƯỜI

 

Thiên này nêu những phương pháp khảo sát con người, để dùng người và quan hệ với người.

  1. Biết người rất khó :

Tục ngữ có câu : Tâm con người bị che bởi da bụng, tức là không thể thấy được lòng con người.

Hoặc, vẽ cọp, vẽ được da cọp, không thể vẽ được xương con cọp; biết người, biết mặt, không thể biết lòng (Họa hổ, họa bì, nan họa cốt; tri nhân, tri diện, bất tri tâm).

Nam hoa kinh, Trang tử cho rằng Khổng tử nói : “ Lòng người ta sâu hiểm hơn sông núi, khó biết hơn trời nữa. Vì trời còn có những hiện tượng đúng kì là Xuân, Hạ, Thu, Đông, sáng và tối, còn con người ta, bên ngoài thì kín đáo mà trong lòng thì sâu thẳm ”.

Sách Nhân vật chí cho rằng : “ Có người bên ngoài xem như nhiều tài, nhiều nghề (đa tài, đa nghệ), thực tế là thiếu chân tài, thực học.

Có người rất nhiệt tình hăng hái, nhưng thực tế đó cũng chỉ là ngọn lửa rơm, không giữ được lâu dài.

Có người có vẻ trung thành nhưng lại trí trá đa đoan.

Những nhà chính trị lớn, ta thường cho là kẻ gian trá nhưng có người lại làm nên sự nghiệp lớn.

Có người bên ngoài có vẻ ngu độn nhưng thực ra là bậc đại trí.

Có người lơ là khi nghe những chuyện về chính trực, về lời nói thẳng nhưng thực tế là rất chí thành.

Con người trong cõi đời thực thực, giả giả, hư hư ảo ảo, nếu không tinh tường thì rất khó phân biệt ”.

Khương Thái công thì cho rằng : “ Có người nhìn bên ngoài rất trịnh trọng, trang nghiêm, thực tế không phải là kẻ danh môn chính phái, là loại bàng môn tả đạo.

Bên ngoài có vẻ đứng đắn nhưng thực ra là kẻ tiểu nhân.

Bên ngoài có vẻ ôn hậu, lương thiện, thật ra là kẻ đầu trộm, đuôi cướp.

Bên ngoài tỏ vẻ cung kính, thật ra là kẻ kiêu căng hợm hĩnh.

Bên ngoài có vẻ chuyên tâm, chuyên nhất, nhưng thực sự là kẻ ba phải.

Bên ngoài có vẻ hăng hái, lăng xăng nhưng làm nhưng chẳng làm xong một việc gì.

Bên ngoài có vẻ quyết đoán nhưng thực tế là người do dự, thiếu quyết đoán. Bên ngoài có vẻ hồ đồ nhưng thực ra là người chất phác, thật thà.

Bên ngoài có vẻ lúng ta lúng túng, nhưng thật ra là người được việc.

Bên ngoài có vẻ hùng hùng hổ hổ nhưng thực ra là kẻ khiếp nhược. Bên ngoài có vẻ bất tài vô tướng nhưng thật ra là người có tài năng xuất chúng, chỉ có bậc thánh nhân mới biết được.

Cho nên, con người bình thường không đoán được con người, chỉ có những người có con mắt tinh đời, có huệ nhãn mới có thể đoán được con người ”.

Sách Hoàn phạm viết : “ Giữa hiền tài và kẻ ngu độn khác nhau như cây quỳ và cây cải. Người ta có thể phân biệt được giữa quỳ và cải nhưng khó phân biệt được giữa hiền tài và kẻ ngu độn.

Mạ (lúa) khác cỏ khác nhau như phải với trái, nhưng phân biệt được mạ và lúa thì dễ, nhưng đôi khi phân biệt phải với trái thì không dễ chút nào ”.

Dương Hùng cũng cho rằng : “ Ai cũng biết phân biệt giữa núi Thái to lớn với con muỗi nhỏ bé, ai cũng phân biệt được biển lớn với lạch nước nhỏ. Nhưng khó phân biệt được người trung và kẻ gian.

Vì khó đo lòng người, nên những người tài trí đôi khi dùng lầm người, bị người mê hoặc, lừa dối. Nhiều vị vua mất nước, thân bại, danh liệt, cũng không biết được lòng người và dùng nhầm người.

Chẳng hạn, Tề Hoàn công vốn là bá chủ nhưng chết thảm dưới tay bọn Dịch Nha, Khai Phương và Thụ Điêu. Hán Quang Vũ đế Lưu Tú, nổi tiếng là ông vua anh minh nhưng vẫn bị Bàng Manh mê hoặc. Tào Tháo, nổi danh là biết người, biết dùng người nhưng cũng bị mắc lừa Trương Mạo ”.

Tuy biết người là khó, nhưng qua kinh nghiệm lịch sử, người ta cũng đã có nhiều phương pháp để đo lòng người sau đây :

  1. Phương pháp khảo sát :

Đưa ra vấn đề sâu kín, khúc mắc để khảo sát năng lực ngôn ngữ.

Đưa ra những vấn đề gay go để khảo sát năng lực ứng biến.

Đưa ra những âm mưu bí mật để khảo sát sự thành thực.

Đưa ra những vấn đề có tính nguyên tắc để khảo sát phẩm đức.

Đưa cho họ đến những vị trí, chức vụ những nơi có thể kiếm được tiền, đế khảo sát sự liêm khiết.

Dùng gái đẹp để khảo sát sự trung trinh, tiết tháo.

Đưa vào nơi nguy hiểm để khảo sát sự dũng cảm.

Cho uống rượu say để quan sát thần thái.

Trang tử cho rằng : “ Phái người ta đến nơi xa xôi để khảo sát sự trung thành.

Giao cho công việc lớn để khảo sát sự cung kính và cần mẫn.

Giao cho việc phức tạp để khảo sát năng lực tổ chức.

Giao cho những việc bất ngờ để khảo sát năng lực phản ứng.

Giao cho công việc có định kì để khảo sát chữ tín ”.

Sách Lã thị xuân thu cho rằng :

“ Tạo điều kiện thuận lợi, để khảo sát sự tôn kính.

Cho chức quan cao để xem cách dùng người.

Tạo cuộc sống giàu sang để xem cách nuôi người.

Nghe lời nói, xét việc làm, để biết người thiện lương, nhân nghĩa, hay là kẻ bất lương, bất nhân, bất nghĩa.

Xem người ta gần gũi với những hạng người nào, cũng có thể biết người ta tốt hay xấu.

Đưa đến chỗ bần cùng, để khảo sát đức hạnh và tiết tháo.

Đưa đến chỗ thật vui để biết được tính cách (đắc ý, tự cao hay khiêm tốn).

Đưa đến chỗ khoái lạc để biết được giữ giữ gìn hay buông thả.

Chọc giận để khảo sát việc tự tiết chế.

Đưa đến chỗ bi ai để biết lòng nhân ái, cảm thông.

Đưa vào chỗ gian khổ khảo nghiệm ý chí ”.

  1. Phương pháp quan thành:

Sách Kinh, nêu phương pháp quan thành :

“ Muốn dùng người nên xét người xa xỉ hay không xa xỉ ?

Khi thất bại về chính trị, xem họ phản bội hay trung thành ?

Sống vinh hoa phú quý, xem họ khoa trương hay không khoa trương ?

Cho họ sống nơi lặng lẽ, thâm u để xem họ sợ hãi hay không sợ hãi ?

Thanh thiếu niên, xem xét sự về hiếu học hay không hiếu học, và tôn kính hay không tôn kính người trên ?

Tráng niên, xem xét về sự liêm khiết hay không liêm khiết; chí công vô tư hay không chí công vô tư; suy tư, lo lắng, cẩn thận hay không cẩn thận, tận tâm tận lực hay không tận tâm, tận lực ?

Đối với cha mẹ, có hiếu hay bất hiếu; đối với anh em có hòa thuận hay không hòa thuận; đối với những người trong làng xóm, quê hương có giữ chữ tín hay không ?

Vua đối với tôi có lòng nhân ái hay không ? Tôi đối với vua, xem có trung thành hay không trung thành ? ”.

Những phương pháp vừa nêu, gọi là quan thành.

4. Phương pháp kiểm nghiệm, thực nghiệm :

Phó Huyền cho rằng, lúc đàm luận cũng có thể biết được sơ lược về học phái của họ. Chẳng hạn :

“ Người thường nói đến lẽ tự nhiên, coi trọng huyền diệu, hư vô, tức là người theo Đạo gia.

Người hay bàn về lễ nghĩa, bàn về coi trọng công bằng, chính trực; là người theo Nho gia.

Người hay bàn về quyền thuật, quyền biến, coi trọng việc cải cách; là người thuộc phái Tung hoành.

Người hay nêu ra những chủ trương khác nhau, nêu ra những cách hành xử khác nhau; là người học Bách gia, chư tử.

Nhưng đó cũng chỉ là bề ngoài, thực sự khó biết được người đó thật hay giả, chân hay ngụy.

Vì có người, miệng nói đạo nghĩa, trích dẫn kinh điển, thực chất là để biện giải cho những âm mưu gian trá.

Miệng luôn tự cho mình phẩm đức cao thượng, thực chất là theo gió bẻ măng, ti tiện, biển lận.

Miệng nói liêm khiết nhưng thực chất là kẻ tham lam vô độ.

Miệng nói nhân từ nhưng thực chất là tàn hại sinh linh.

Miệng nói anh dũng phi phàm, thực tế là nhu nhược, không có năng lực.

Miệng nói chữ tín, thực tế là gian trá, bất tín.

Miệng nói đạo đức, trinh tiết, thực tế là phường háo sắc, dâm đãng.

Những hạng người vừa nêu, gọi là ngụy quân tử, chúng dùng miệng lưỡi, dùng kĩ xảo lấy giả làm thật, còn gọi là giả tượng, để mê hoặc quân chủ”.

Hàn Phi tử cho rằng : “ Khi người ngủ thì không phân biệt được người mù người sáng; khi im lặng thì chẳng biết ai là người câm. Lúc người ta tỉnh dậy, lúc nói năng, mới biết ai là mù, ai là sáng, ai là câm.

Xem răng ngựa, lông ngựa mà biết ngựa hay hoặc ngựa dở, trên đời chỉ có Bá Nhạc. Đối với bình thường, cho ngựa kéo xe, cho chạy, mới biết được ngựa hay hoặc ngựa dở.

Nhìn sắc kiếm, mũi kiếm mà biết là bảo kiếm, chỉ có Âu Dã tử. Đối với người bình thường phải dùng kiếm để chém chó, chém ngựa, tìm giao long dưới nước để chém thì may ra mới biết kiếm thường hay bảo kiếm.

Cho nên, việc thực nghiệm, kiểm nghiệm mới biết được tốt xấu, cũng là một trong những phương pháp biết người “.

  1. Quan sát khí sắc theo ngũ hành:

Theo thuyết âm dương ngũ hành : Khí huyết là do âm dương hòa hợp mà thành tính mệnh; do năm yếu tố kim, mộc, hỏa, thổ, thủy cấu thành tính mệnh. Thân thể con người, theo ngũ hành, xương thuộc mộc, gân thuộc kim, khí thuộc hỏa, thịt thuộc thổ, máu huyết thuộc thủy. Sách

Sách Nhân vật chí cho rằng, dựa trên đặc điểm của ngũ hành có 5 loại người :

Xương cốt cứng, dẻo dai, gọi là hoằng mạo (hoằng : to lớn), thuộc về nhân. Xương cốt thuộc mộc, thẳng âm nhu, là cơ bản của nhân.

Khí rõ ràng, cao khiết, mát mẻ gọi là văn lí, thuộc về lễ. Khí thuộc về hỏa, lửa chiếu sáng, là cơ bản của lễ.

Hình thể (thịt) rắn chắc, ngay thẳng, gọi là trinh cố, thuộc chữ tín. Hình thể, thịt, thuộc thổ, đất nuôi dưỡng vạn vật, là cơ bản của sự thành tín.

Gân cứng dẻo dai và tinh thuần, gọi là dũng cảm, thuộc về nghĩa. Gân thuộc về kim, mũi nhọn, quả đoán, nghĩa khí, là cơ bản của dũng cảm.

Huyết lưu thông, bình hòa, gọi là thông vi, thuộc về trí huệ. Huyết là thuộc về thủy, nguồn nước, có nguồn trí năng mới sinh trí huệ, tắt nguồn hoặc bị bế tắc, không thông thì không có trí huệ.

Năm tính chất trên, thường hằng, bất biến, nên gọi là ngũ thường.

Xương thẳng mà không dẻo dai là quá cương trực.

Khí rõ ràng, cao khiết nhưng không mát mẻ, thì dễ bị xung động.

Hình thể (thịt), rắn chắc mà không ngay thẳng, thì trở thành ngu độn.

Gân cứng dẻo dai mà không tinh thuần, thì dễ biến dạng.

Huyết lưu thông mà không bình hòa, dễ dẫn đến phóng đãng.

  1. Phương pháp nghe khí (thính khí):

Triết học và y học Trung Hoa quan niệm : Thần là chủ tể của trí, thần khí bình hòa thì thẳng thắn vô tư, thần ngưng trệ thì khí chất trở thành quanh co khuất lấp. Tinh là căn bản của tâm, tinh mát mẻ thì vui vẻ sáng suốt, tinh đục thì sầu não, tối tăm. Tinh khí bộc lộ ra bên ngoài gọi là khí.

Quan sát khí có thể hiểu tính cách của con người, gọi là thính khí :

Thẳng thắn vô tư hay quanh co, khuất lấp là do thần.

Vui vẻ, sáng suốt hay sầu não, tối tăm là do tinh.

Dũng cảm hay khiếp nhược là do gân cốt.

Vui sướng hay khổ sở là do khí sắc.

Nóng nảy hay bình tỉnh là do khí huyết.

Suy nhược hay cứng mạnh thường biểu hiện ở dáng vẻ.

Thái độ biến hóa hiện ra ở sắc mặt.

Tình tự, nóng gấp hay chậm rãi thường biểu hiện ở ngôn ngữ.

Tâm tính chất phác, thuần khiết thì điềm đạm, bình hòa.

Nội tâm thông tuệ thì tâm tính cởi mở.

Gân cốt cường kiện thì âm thanh rõ ràng, khí sắc tươi nhuận.

Tâm tính thô bạo thì âm thanh nặng nề, tản mạn.

Tâm khì khoan hòa, nhu thuận thì âm thanh ôn hòa, tròn trịa.

Tính khí ôn hòa thì ý khí thư thái.

Hòa khí thì dễ đi đến tùy tiện.

Người có dũng khí biểu ở sự hùng tráng.

  1. Phương pháp quan sát sắc diện (sát sắc):

Sách Nhân vật chí cho rằng :

“ Người có cái tâm trong sáng, phong thái, thần sắc, anh hùng, cứng cáp.

Người tâm bình, khí hòa, phong thái, thần sắc, anh nhàn tự tại.

Người có lòng nhân ái, phong thái, thần sắc, chính trực, đoan trang.

Người dũng cảm, phong thái, thần sắc nhanh nhẹn, mạnh mẽ.

Người lo lắng, thần sắc mệt mỏi, khô khan.

Người đang gặp cảnh khốn cùng, mặt ủ mày chau.

Người vui vẻ, thần sắc vui tươi, hoạt bát.

Người giận giữ, thần sắc tiêu tán.

Người gặp cảnh ngộ khó khăn chưa tìm ra được lối thoát, thần sắc hoang mang hoảng hốt “.

  1. Phương pháp khảo chí :

Thông qua đàm thoại người ta có thể khảo sát được tâm chí của con người :

Khi trò chuyện thường cho rằng, kiến thức của mình còn nông cạn, cần người khác bổ túc, khiêm cung nhưng không dua nịnh, là người có khí chất khoan hậu, ôn hòa.

Lúc nói chuyện thường khoa trương, coi thường người khác, chẳng qua là muốn che đậy sự thiếu năng lực, thiếu kiến thức, là người có khi chất kiêu căng.

Khi nói chuyện thường tôn trọng sự công chính, không thiên vị, không che dấu khuyết điểm của mình, bộc lộ những ưu điểm của mình, là người chất phác, thận trọng.

Án tử cho rằng : “ Kẻ gần bên quân chủ, khi nói năng chứng tỏ mình là người có vai vế, là kẻ gian nịnh. Bên ngoài, nói năng luôn tỏ vẻ thành thực, trung thành, để được nhà vua tin cậy, thực chất là kẻ đại gian, đại ác, loại này khó mà quan sát, thăm dò được tâm địa của chúng”.

Tuân tử cho rằng : “ Kẻ nói năng, hành động không hợp với đạo nghĩa, thường giương tự đắc, tất là gian nịnh, tiểu nhân. Người nói năng, hành động hợp với đạo nghĩa, vui với công việc là bậc chính nhân, quân tử ”.

Có sách cho rằng : Người bị sự kích thích của ngoại giới nhưng nhưng vui buồn không lộ ra nét mặt; gặp những chuyện phiền nhiễu tuế toái, vẫn giữ được bình tĩnh; không bị lôi cuốn bởi lợi lộc; bị uy hiếp nhưng không sợ hãi; là người tiết tháo.

Người bị kích thích của ngoại giới, vui buồn hiện ra nét mặt; gặp những chuyện phiền nhiễu, tuế toái, tinh thần hoảng loạn; thấy lợi thì tối mắt chạy theo; là kẻ biển lận.

Gặp những hoàn cảnh khác nhau, tùy cơ ứng biến, đưa ra sách lược, quyết đoán, là người thông minh, trí huệ.

Gặp những hoàn cảnh khác nhau, không biết biến thông, không có kế sách, thiếu quyết đoán, cố chấp, là người ngu độn.

Không biết nghe lời hay lẻ phải của người khác, tự tư tự lợi, nói năng cưỡng từ đoạt lí; là kẻ ngông cuồng, đố kị.

Ngoài ra, người ta cũng có thể xem lời nói, cử chỉ, sắc diện, khí chất mà đoán người.

Ví dụ 1:

Thời Tam quốc, có một người khách đến thăm Lưu Bị, hai người nói chuyện say sưa. Bỗng thấy Gia Cát Lượng đến, người khách vội vàng đứng dậy xin cáo từ.

Gia Cát Lượng nói với Lưu Bị :

– Người ấy không phải gian tế, thì cũng là thích khách.

Lưu Bị hỏi :

– Làm sao tiên sinh đoán được ?

Gia Cát Lượng đáp :

– Tôi nhìn thấy lông mày của người ấy có sắc diện khác thường, tức tinh thần có ý sợ hãi, khi nói chuyện mắt cứ nhìn xuống, tròng mắt đảo lung tung, nếu không có gian tâm, thì cũng có tà tâm vậy. Tôi đoán, hắn là người của Tào Tháo sai đến.

Lưu Bị cho người đuổi theo, người ấy đã trèo tường trốn thoát.

Ví dụ 2:

Thời Tam quốc, có ba người là Hà Yến, Hạ Hầu Huyền và Đặng dương là tay chân của Tào Sảng, có chức có quyền ở trong triều, ba người muốn kết thân với Phó Giả (có sách gọi là Phó Hỗ). Phó Hỗ tránh xa, có người trách, tại sao không làm thân với kẻ có chức có quyền, ít nhất cũng ấm thân hoặc thêm danh giá.

Phó Giả nói:

– Hạ Hầu Huyền có chí lớn mà tài mọn, có hư danh mà không có thực tài. Hà Yến thích đàm luận cổ kim nhưng là người hư ngụy, không có thành ý, là người lấy mồm mép để làm loạn chính sự. Đặng Dương là người hữu thủy vô chung, thích danh lợi, a dua bề trên mà bài xích người khác, nặng lòng đố kị. Ba người ấy là hạng người bại hoại, nên tránh xa không kịp, nói chi là kết thân với họ.

Quả nhiên, sau này ba người đều bị Tư Mã Ý tru di cả ba họ.

  1. Phương pháp trắc ẩn:

Sách Nhân vật chí nêu : “ Làm người, tinh thần phải sâu kín, khí chất cao thượng, chí hướng phải lớn lao; tâm thế phải khiêm hư. Tinh thần sâu kín thì có thể hòa nhập vào cảnh giới thần diệu; khí chất cao thượng thì mới giữ được đạo đức và tiết tháo; chí hướng có lớn lao mới đảm nhiệm được trọng trách lớn; tâm thế có khiêm hư thì mới cẩn thận khi làm việc ”.

Sở dĩ, Kinh thi ca tụng Chu Văn vương, vì Văn vương luôn cánh cánh bên lòng việc trị dân, mong cho gió thuận mưa hòa, tức là cẩn thận. Khi nhà vua nổi giận, thì sai tướng bình định thiên hạ, là chí hướng lớn lao.

Cho nên cần phân biệt :

Có chí lớn (đại chí) nhưng rất cẩn thận (tiểu tâm) là thánh nhân.

Có tấm lòng rộng rãi (tâm đại) lớn, có chí lớn (đại chí) là anh hùng, hào kiệt.

Lòng tham muốn lớn (tâm đại) nhưng chí nhỏ (chí tiểu), là người kiêu ngạo, cuồng vọng.

Lòng dạ hẹp hòi (tâm tiểu), chí nhỏ (tiểu chí), là kẻ khiếp nhược, không có năng lực.

Nhiều kẻ rất giỏi ngụy trang, ngụy trang dưới nhiều hình thức :

Ngụy trang người chân thực, trong sâu xa là người được phần ít, nhưng muốn chiếm lấy thật nhiều, no bụng, đói con mắt, bỏ lợi nhỏ chạy theo lợi lớn.

Giả người nhân từ, thương người, giàu lòng trắc ẩn, chẳng qua là để mua danh, bán tiếng.

Ngụy trang người có học thức, thông kim bác cổ, lắm mưu nhiều kế nhưng đụng vào thực tế chẳng nghĩ ra được mẹo gì !

Khoác áo liêm chính, dũng cảm, thật sự là kẻ gian trá, khiếp nhược.

Giả cung phụng quân vương, phụng dưỡng cha mẹ, ngụy trang dưới hai chữ hiếu trung hiếu, dùng trung để cầu danh vọng, mưu lợi, dùng hiếu để che mắt thế gian.

Sách Nhân vật chí cho rằng, người cao cả, bên trong và bên ngoài là một, bên ngoài không cần ngụy trang. Kẻ giả dối sức bên ngoài những vật quý như ngọc ngà, châu báu nhưng bên trong là một tâm hồn bại hoại, hư nát.

Lời nói không đi đôi với việc làm là nội tâm với diện mạo bên ngoài, giả bộ danh tiết để mê hoặc người ta, làm cho người ta tin, tức là cái chí của người này đã hỏng bét (hủy chí).

Sách Nhân vật chí viết : Người chuyên môn công kích người khác với ác ý là người thiếu công chính và mất nhân tính. Người tự cho mình là thông đạt đạo lí, thực tế là không thông đạt đạo lí, kiêu ngạo, quay lưng với lễ tiết.

Những người thông qua việc chè chén mà kết thân, thường là người muốn lợi mình, hại người, muốn mưu cầu lợi ích vật chất, là loại người tham và ti tiện.

Khương Thái công cho rằng : Quân chủ không nên thân cận và tín nhiệm người quả cảm không sợ chết và những người tham tước lộc. Người không sợ chết là người có lòng tham vô đáy. Người quá coi trọng tước lộc, chỉ lo chạy theo chữ lợi, không đếm xỉa đến việc lớn. Đây là hạng người bại hoại ý chí.

Người khôn vặt, không có đại học vấn, chỉ có tài mọn không làm được việc lớn, thấy lợi nhỏ quên cả đạo lí, gọi là người phù hoa.

Văn tử cho rằng : Mỗi con người đều có sở đoản, nhưng phải giữ gìn khí tiết, tuy có sai lầm nhỏ nhưng không làm hỏng việc lớn. Nhưng đã mất khí tiết, thì sẽ trở nên kẻ ti tiện, làm hỏng mọi việc.

  1. Phương pháp suy đoán phẩm đức (quy đức) :

Ngôn ngữ trung thực, hành vi ổn định, không thay đổi, ý chí vững vàng, chí công vô tư, làm ơn không mong được báo đáp, trung hậu, xét việc rõ ràng, tính tình an tĩnh. Là người có lòng nhân.

Có tài xử lí những lúc gay go, trong nguy hiểm tìm ra đường sống, ra sức lập công nhưng không kể công. Là người trí.

Phú quý, danh vọng hiển hách nhưng vẫn cung kính, khiêm tốn mà không mất vẻ uy nghiêm, không kiêu ngạo. Là người có đức hạnh.

Gặp lúc bần hàn cũng không lo buồn, sống cảnh giàu sang cũng không xa xỉ, công lao to lớn nhưng chẳng cậy công, lúc giận giữ cũng như lúc vui vẻ những vẫn tiết chế được tình cảm. Là người tiết tháo.

Cúc cung phụng sự quân chủ, hiếu với cha mẹ, hòa hợp với mọi người, tận tâm tận lực với công việc. Là người trung hiếu.

  1. Tính toàn diện :

Sách Hoàn phạm cho rằng : “ Lịch sử chứng minh, những bậc đế vương làm nên sự nghiệp là biết dùng những người hiền năng, những vị vua mất nước, mất nhà, mất mạng thường là do không biết dùng người hiền năng, chỉ dùng những kẻ gian tà, dua nịnh ”.

Sách Nhân vật chí viết : “ Việc chọn người phải đề ra nhiều tiêu chuẩn, không nên theo cứng nhắc một vài tiêu chuẩn.

Nếu đề cao người chính trực, chọn người chính trực, thì sẽ hoài nghi cho rằng những người có pháp thuật là những kẻ trí trá.

Nếu đề cao và lấy mưu lược làm chuẩn, chỉ chọn người mưu lược, sẽ bỏ quên những người có kế sách bình thường, bỏ quên những người tuân theo luật pháp, chế độ.

Nếu đề cao và lấy quyền thuật làm chuẩn, chỉ chọn người quyền thuật, sẽ bỏ qua những người có tài giáo hóa quần chúng.

Nếu đề cao và lấy khẩu tài, miệng lưỡi, làm chuẩn, chỉ chọn người nói hay, biện luận giỏi, sẽ bỏ quên những người có kĩ năng kĩ xảo.

Cho nên, cần phải biết nhiều loại nhân tài, phân nhiều dòng nhân tài, thì mới thu hút được nhân tài trong thiên hạ”.

Sở dĩ, chúng ta ca ngợi những bậc thánh hiền là thông minh, vì thánh hiền biết người, biết phát hiện người tài, biết chọn những người tài, bố trí họ vào những vị trí thích hợp, để họ phát huy được sở trường, thực hiện được những công việc mà thánh hiền giao cho họ.

Có người cho rằng, trong việc tuyển chọn một nhân tài toàn diện, trở thành rường cột của quốc gia, ít nhất phải mất ba ngày.

Ngày thứ nhất, bàn luận về đạo đức.

Ngày thứ hai, luận bàn về pháp chế.

Ngày thứ ba, luận bàn về mưu lược.

Nếu không còn nghi ngờ một điều gì thì mới tuyển chọn.

Vì sao phải chọn người toàn diện ?

Khổng tử đã dạy các đệ tử rằng, có 6 tệ đoan. Chẳng hạn, người nhân là quý, người tín là tốt. Nhưng người nhân thường hay do dự, thiếu quyết đoán, đó là tệ đoan của nhân. Người tín vì khư khư giữ tín, nên không thể bảo mật, đó là tệ đoan sinh ra từ chữ tín.

Cho nên, khi chọn người chỉ thiên một mặt nào đó, phiến diện, sẽ thiếu nhân tài toàn diện.

<Về trang Mục Lục>


Nguồn: Những Nghịch lý trong Lịch sử Trung Hoa

Trần Sáng, nxb Giáo Dục 2009


 



Có thể bạn quan tâm:
Có thể bạn quan tâm:
Có thể bạn quan tâm:

Gửi phản hồi