Bài báo

Bàn về việc dạy sử (*)


Nguyễn Phương

(*) Nhatbook đặt lại tựa bài


nhatbook-Cọc_Bạch_Đằng

Tầm quan trọng của việc dạy sử

Nói đến việc dạy sử là nói đến cả một vấn đề quan trọng. Như thể, là vì sứ mệnh lịch sử tối cao, và con đường lịch sử là một con đường quyết định, mà dạy sử chính là nêu lên sứ mệnh đó và chỉ bảo con đường đó.

Thực ra, lịch sử không phải cái gì máy móc, nghĩa là có thể tính toán trước được nó sẽ xảy ra làm sao, nhưng cái đà lịch sử là cái đà nguyên nhân đem đến kết quả và cái đó mạnh như vũ bão. Cái đà đó, nó đang tiến lên oai hùng như sức lực của cả nân loại dồn lại từ bao nhiêu thế kỷ trước và bây giờ đây đang xô đẩy hiện tại vào bước đường tương lai. Tương lai này, nếu chúng ta muốn biết nó ra sao, chúng ta hãy nhìn về quá khứ. Tương lai là kết quả và quá khứ là nguyên nhân, muốn biết quả, người ta nhìn vào cây đó là một việc thường tình. Việc dạy sử, tức là dạy về quá khứ, cũng chẳng khác gì chỉ bảo cho kẻ khác biết cây đang ở đây và cây đó thuộc về loại nào vậy.

Vì thế, việc dạy sử vụ vào chân lý. Khi nói muốn biết quá khứ, không phải người ta quan tâm đến một cái gì bịa đặt, vì nếu người ta quan tâm đến việc bịa đặt thì cứ ngồi yên mà tưởng tượng ra chứ cần gì phải mất công tìm kiếm. Đàng này, người ta phải đương đầu với tương lai, tức là một cái gì thiết thực liên hệ đến sự tồn vong, nên khi tìm về quá khứ, là nguyên nhân của sự tồn vong đó, người ta cốt mong muốn làm sao để thấy được sự thật. Biết cho đúng sự thật trong vấn đề lịch sử, vì thế, là một việc chủ chốt. Cái đà lịch sử nó cứ lăn đi, nếu người ta không biết nó để sử dụng nó, để điều khiển nó, tất người ta sẽ bị nó đè bẹp một cách tàn nhẫn. Có nó đó, chối rằng không có, cũng không sao tránh được hậu quả của nó. Quả bom nằm trước ngưỡng cửa, mà bảo rằng đó chỉ là quả bí, quả bom cũng vẫn cứ nổ sập nhà; con dao sắc cầm trong tay mà nói rằng nó cùn, con dao cũng vẫn cứ cắt đứt. Việc dạy sử cũng vậy, chẳng những nó chỉ bảo cho kẻ khác biết phân biệt quả bom với quả bí, tức là phân biệt những loại sự kiện khác nhau, mà còn biết phân biệt tầm độ khác nhau trong cùng một loại sự kiện, giống như phân biệt sự cùn hay sắc của con dao.

Hãy dùng nữa ví dụ vừa nói. CHúng ta biết rằng tai hại xảy ra, như đổ nhà, đứt tay, không phải là vì có quả bom, hay có con dao sắc. Nó xảy ra chỉ là vì không biết rằng nó là quả bom, đó là con dao sắc. một khi người ta biết rõ ràng mình có quả bom, có con dao sắc, sự có quả bom và có con dao sắc này sẽ trở thành một hãnh diện, hơn nữa, một lực lượng. Biết được sự thật lịch sử cũng thế, càng biết rõ và biết nhiều, người ta càng mạnh mẽ hơn. Thường thường, vô trị bất mộ, nên càng biết, người ta càng mến, và vàng mến người ta càng hăn ghái để bảo vệ cái mình mến. Hỏi người ta biết gì, khi người ta biết được sự thật lịch sử? Người ta sẽ biết đầu đuôi nguồn ngọn về ông cha mình, về đất nước mình. Người ta sẽ biết công trạng của tiền bối mình. Người ta sẽ biết được rằng, nếu bây giờ đây, mình đang hưởng được cái gì hay, cái gì tốt, thì cái hay, cái tốt đó đã được tạo nên nhờ bao nhiêu xương máu chồng chất, nhờ bao nhiêu mồ hôi nước mắt tuôn đổ. Và cả cái bầu không khí người ta đang thở nữa, ngời ta cũng biết được rằng sở dĩ nó không bị đầu độc, không bị ngột ngạt, mà trở nên khoáng khoát, bổ dưỡng, như ngày nay, không phải hoàn toàn nhờ của trời cho mà thôi, mà còn nhờ ở khí tiết cao cả của vô số các vị anh hùng nghĩa sĩ, trọn đời chỉ biết xả thân ái quốc, hy sinh vì giống vì nòi. Dạy sử chính là làm cho kẻ khác biết nhìn ngắm và yêu mến những sự thật uy linh như vừa kể.

Thảm trạng trong quá khứ

Boeri việc dạy sử quan hệ và cốt yếu như thế, nên ở các nước tiên tiến người ta đã chú trọng các riêng đến bộ môn này. Họ có một chương trình sử học xứng đáng với địa vị của nó. Họ soạn thảo  ững sách giáo khoa đúng với trình độ của học sinh. Họ đào tạp nhwuxng ông thầy dạy sử có đủ khả đắc khả năng để đáp ứng với những đòi hỏi của công việc. Chẳng những thế, trên bước đường chinh phục của họ, họ còn đem truyền bá lịch sử của họ khắp nơi. Họ nêu lên trước mắt những dân bị trị gương anh hùng của đất nước họ, sức mạnh hơn người của quá khứ họ.

Đồng thời, trong mục đích ích kỷ đó, họ cố dìm đi những gì có căn bản nơi các dân dọ chinh phục được, cố xóa mờ đi những gì mang dấu vết hiển hách nơi các dân đó. Hoặc giả nếu không sao dìm hẳn được, hay xóa sạch đi tất cả quá khứ oanh liệt của những kẻ bị cưỡng bách ở dưới quyền họ, thì họ lại cố xoay sở làm sao để chỉ nói đén những chỗ hoang đường bịa đặt, hay những vị anh hùng rút ra từ cõi u linh, quá đản, không có một sức mạnh thiết thực nào. Họ có thể lùi thêm một bước nữa, và cho phép con em của đất bị trị học lịch sử của chúng, nhưng bất giờ họ sẽ liệu cho chương trình chỉ dạy ít hết sức, ít đến nỗi vừa nghe lại vừa quên, hay là giao việc dạy sử cho những ông thầy không được huấn luyện, không có phương pháp sư phạm, nghĩa là những ông thầy không có khả năng khai trí tiến ích.

Việc dạy sử ở Việt Nam trong mấy mươi năm vừa qua đã phơi bày những giai đoạn của thảm trạng đó. Kể từ 1918, người Pháp khua chuông gõ mõ tuyên bố đem nền văn hóa Tây phương sang gieo vãi vào Đông dương, nhưng thực sự họ muốn đồng hóa người Đông Dương với người của đất nước họ để cho dễ cai trị, và một trong những việc “văn minh” họ làm là bắt học sinh Đông Dương học lịch sử của họ và im bặt về quá khứ của địa phương. Đến khi họ thấy dân Việt Nam không thể chịu được sự nhục nhã đó lâu hơn, họ nêu lên cái chiêu bài nhân đạo, cho cải cách chương trình trong đó có nói đôi chút về Đông Dương. Năm 1929, Thalamas thực hiện chương trình mới đó, nhưng nó chóng tỏ ra vô hiệu và đã chết mòn đi. Năm 1939, Bertrand đã phải cải cách lần nữa, cố nhiên là theo quan niệm thực dân một trăm phần trăm, và sử Việt Nam được đem ra dạy một tuần một giờ trong các trường trung học.

Mời đọc toàn bài ở file đính kèm, đường dẫn tại đây: <LINK>


Nguồn: Tạp chí Bách Khoa số 175, 1964

KM-Nhưng tựa sách nên đọc trong đời

 

Gửi phản hồi