Chính trị

Nguyễn Hiến Lê viết về ‘Nhà cầm quyền và dư luận’


Nguyễn Hiến Lê

Nhatbook đặt lại tựa bài


(Nguyễn Hiến Lê: Bài này mới đầu đăng trên tạp chí Bách Khoa số 226 ngày 1-6-66, nhưng bị đục bỏ nhiều quá, ý nghĩa rời rạc. Ông Trần Thúc Linh tiếc, chép lại bản thảo của tôi giới thiệu với Nhật báo Thần Chung. Báo này sắp chữ xong, định in vào số 5-6-66, nhưng Đinh Trịnh Chính – Bộ trưởng Thông tin [8] – bỏ trọn bài.

   Trên ba năm sau, ngày 7-10-69, tôi sửa lại, đưa cho Phổ Đức in trong tuyển tập văn nghệ [Thơ văn Đông – Xuân 1969-1970], ngày 12-12-69)

***

Mới từ cuộc đảo chánh 1-11-1963 tới nay, đã hai lần rồi, người ta nghiệm thấy hễ một nội các khinh thị các nhà báo thì chỉ ít lâu sau, nội các đó phải nhường chỗ cho một nội các khác.

KM-Sách ngoại giá nội

Không phải tại các nhà báo đủ sức mạnh để lật đổ nội các. Lật đổ nội các chính là nhân dân. Dân đã sẵn bất mãn với chính quyền rồi, tới khi thấy thái độ bất nhã của nhà cầm quyền đối với các nhà báo thì sự bất mãn biến thành sự bất bình, sự kiện ấy hình như ít nhà cầm quyền nhận ra được. Nếu họ chịu khó lưu ý tới dư luận thì sẽ thấy rằng sự bất nhã của họ đối với nhà báo luôn luôn gây lòng phẫn uất trong đại chúng. Giới ngôn luận ở nước ta cũng như ở các nước Âu, Mĩ, không phải là không có những người thiếu tư cách, giới nào khác mà chẳng vậy? Nhưng nếu có khi họ không phản ánh đúng dư luận, không dám dùng ngọn bút chiến đấu cho quyền lợi dân chúng thì họ cũng mang cái danh hiệu là “tiếng nói của dân chúng.” Và với tư cách đó, họ phải được nhà cầm quyền tôn trọng. Tôn trọng họ là tôn trọng cái nhiệm vụ của họ, như ta tôn trọng nhiệm vụ của ông thẩm phán, của thầy cảnh sát còn cá nhân họ lại là chuyện khác. Nhà cầm quyền mà tỏ vẻ bất nhã với họ, dọa dẫm họ khi họ làm nhiệm vụ thì dù họ lầm lẫn chăng nữa dân chúng cũng bất bình, thấy như chính mình bị miệt thị. Do đó, sức phản ứng của dân chúng tăng lên cho tới khi nhà cầm quyền rút lui mới thôi. Mà khi đã bất bình thì đại chúng còn hơn cá nhân nữa, không hành động theo lí trí, chỉ theo tình cảm. Nhà cầm quyền dù có lí, đại chúng cũng không xét tới, huống hồ nhà cầm quyền lại mắc những lỗi lầm mỗi ngày một nặng thêm vì thiếu tự tin, thiếu tự chủ.

Vậy miệt thị nhà báo là miệt thị dư luận, miệt thị dân chúng. Trong chính trường không có lỗi nào nặng hơn lỗi đó. Dân chúng có thể chấp nhận một thủ lãnh bất tài nếu biết phục thiện; nhưng dân chúng không thể chấp nhận một người miệt thị tiếng nói của dân. Đức bình tĩnh là đức cần nhất của nhà cầm quyền. Dân chúng có quyền mạt sát một nhà báo, nhà cầm quyền thì không.

Một thái độ nữa cũng gây bất bình trong dân chúng là thái độ “khớp mỏ dư luận.” Tôi nhận thấy nhiều người khi chưa vô chính quyền thì tư tưởng rất tự do dân chủ, mà khi vô rồi thì chỉ trong ít tuần là bắt đầu bóp nghẹt dư luận. Hình như có một lằn ranh giữa chính quyền và nhân dân; còn ở bên đây thì người ta theo nhân dân; nhảy qua bên kia rồi thì thái độ người ta ngược hẳn lại, cơ hồ như quan niệm rằng chính quyền và nhân dân là hai sức chống đối nhau.

Sau cuộc đảo chánh 11-1963, từ nhà báo tới độc giả, ai chẳng tin rằng từ nay được dễ thở hơn, không được nói cho hả lòng thì ít nhất cũng được trình bày sự thực. Ấy vậy mà chỉ hai năm sau, dư luận còn bị bóp nghẹt hơn thời thực dân Pháp, hơn cả thời độc tài Diệm nữa, bóp nghẹt một cách bừa bãi, vô trách nhiệm, không theo một tiêu chuẩn nào cả: tin này đăng ở báo này được mà đăng ở báo khác thì báo bị đóng cửa; bài bình luận nọ hôm trước không đăng được mà hôm sau lại cho qua, đến nỗi hồi đó các nhà báo phải cất lên tiếng kêu ai oán: thà chết chứ không chịu sống nhục, so sánh cái nhục phải chịu với cái nhục thời Diệm rồi cùng nhau đưa một kiến nghị lên nhà cầm quyền đòi xét lại những tiên chuẩn kiểm duyệt; nhưng tới nay vẫn chẳng ai biết tiêu chuẩn kiểm duyệt ra sao. Ai cũng biết rằng không có tự do ngôn luận thì không có dân chủ mà nội các nào cũng tuyên bố chính quyền là của dân, do dân, vì dân. Nhưng hai mươi lăm năm nay dân đã phải đổ biết bao nhiêu máu để giành lại độc lập và tự do mà ngay đến tự do cần bàn là tự do ngôn luận vẫn còn như vậy. Lạ thật! Đã có nhiều người thông minh giữ bộ Thông tin rồi chứ, mà sao trong cả chục trào Thông tin từ 1946 đến nay, không một người nào có được chút sáng kiến, cứ “cóp” trúng chính sách của thực dân, rồi đến lúc thi hành thì lại thi hành bậy. Có thời người ta cấm dùng tiếng chủ tịch, có thời người ta lại cấm cả những địa danh Bắc Việt trong các bài toán; như vậy chưa lạ lùng bằng những hàng như vậy mà cũng bị đục:

“Người Mĩ dám liệng ra một Mĩ kim để mua một trái dừa Tam Quan; hoặc trả 10.000$ để mướn một căn phòng 4×4 mét ở Sài Gòn; “lửa bập bùng nung chí tự do”; “mong ước sao cho nhân loại hòa bình”…

Đáng buồn hơn nếu là câu chuyện dưới đây. Một nhân viên kiểm duyệt đòi bỏ nhiều đoạn trong một bản dịch nọ. Dịch giả đáp: Tôi chỉ là người dịch, ông muốn bỏ thì xin ông hỏi ông X hay ông Y vì ông ấy mới là người xuất bản. Thế là mấy đoạn đó đều được giữ trọn vì ông X là một người có uy quyền. Như vậy là kiểm duyệt theo tiêu chuẩn nào?

Nhà cầm quyền có thể có ba thái độ với người cầm bút. Một là coi người cầm bút đủ tư cách để tự lãnh lấy trách nhiệm, như vậy để họ tự do lựa tin tức, phát biểu ý kiến, rồi nếu họ có hành động nào vô trách nhiệm thì để Tòa án xét xử. Hai là coi họ chưa đủ tư cách cầm viết thì phải hướng dẫn họ, nhưng muốn hướng dẫn họ thì phải nhân viên kiểm duyệt nào cũng phải có một tư cách đàng hoàng, một tâm hồn khoáng đạt, một kiến thức rộng và vững. Ba là coi một số như đối thủ của chính quyền, một hạng đối thủ bất trị, còn một số nữa như bọn tay sai của mình. Trong ba chính sách đó, từ trước tới nay người ta chỉ chuyên dùng chính sách thứ ba.

Chúng ta đã tự đứng vào mặt trận của khối Dân chủ thì không thể nào chấp nhận thái độ thứ ba đó nữa. Hiến pháp đã long trọng tuyên bố một lần nữa quyền tự do ngôn luận rồi thì lập pháp và tư pháp phải bảo đảm sự tự do ngôn luận cho quốc dân. Nếu vì hoàn cảnh chiến tranh, cần có một thời gian chuyển tiếp, bắt buộc phải hạn chế sự tự do đó, duy trì sự kiểm duyệt trong một thời gian nào, trong một ngành nào thì phải định những nguyên tắc có thí dụ cụ thể (như cơ mật quốc phòng), chứ nhất định không được đưa ra những tiêu chuẩn tổng quát mơ hồ, như “Có lợi cho địch, mất lòng đồng minh, gây hoang mang, chia rẽ.” Phải có những bảo đảm cụ thể và chắc chắn, không để một khe hở nào cho những kẻ có manh tâm sau này có thể lợi dụng để bóp nghẹt dư luận nữa. Người cầm bút sẵn sàng tạm nhận một số hạn chế miễn là hợp lí và theo một đường lối rõ rệt.

Nhưng dù có được những bảo đảm đó thì sự tranh đấu của người cầm bút vẫn chưa thể gọi là xong được; vẫn phải đề phòng từng ngày luôn trong vài chục năm cho thành một cái nếp mới; một truyền thống mới. Nhất là đừng ham mồi mà rồi bị lung lạc; phải nhận thấy giá trị, trách nhiệm, quyền hạn của mình có một thái độ đứng đắn, thận trọng, thắng thắn, không dùng những “đòn” những thuật để mỉa mai bóng gió nhà cầm quyền; được vậy thì sự tranh đấu mới có hiệu quả, có lợi cho quốc dân và cả cho nhà cầm quyền nữa.

Đối với quốc dân, nhà cầm quyền còn có một thái độ thứ ba: Thái độ mị dân, thái độ này khả ố hơn hết mà cũng tai hại hơn hết. Ta khinh những nhà giáo mị học sinh ra sao thì cũng khinh những nhà cầm quyền mị dân như vậy. Ta khinh họ vì chính họ tự khinh họ. Họ tự thấy không có gì cho quốc dân trọng hoặc mến nên mới phải dùng chính sách mị dân, cần được sự hoan hô của đại chúng trong một giờ hay mười phút. Khi cao hứng lên, họ hứa đủ thứ với dân, hứa cả những điều mà ai có chút lương tri nghe rồi cũng phải bực mình. Chẳng hạn hứa san phẳng được sự bất công trong hai năm, hứa tặng cho các người nghèo đủ cơm áo nhà cửa trong một năm, hứa diệt được chợ đen và tham nhũng trong vài tháng, có khi chỉ vài tuần, hứa thành lập ngay được một chế độ bảo hiểm và an ninh xã hội như bên Anh… Tới khi đã lỡ hứa rồi, họ phải ráng giữ lời, và để giữ lời, họ đành phải làm càn chẳng hạn ra một nghị định tăng lương cho công chức mà chẳng nghiên cứu hậu quả của biện pháp ấy, cũng chẳng đối phó với hậu quả, thành thử tăng lương một thì vật giá tăng một ruỡi, rốt cuộc tăng mà hóa giảm, mà ngân sách thêm thâm thủng…

Lẽ nào người ta không biết trước những hậu quả đó, nhưng “sau ta, trời có sụp cũng mặc.” Kẻ tối cao có lúng túng vì hậu quả chính sách mị dân của người ta thì người ta càng khoái, còn dân đen có cực khổ hơn thì ráng mà chịu.

Thái độ mị dân đó khả ố hơn hai thái độ trên ở chỗ nhiều người không nhận ngay được những tai hại về sau của nó, dư luận bị ru ngủ, tới khi tỉnh giấc thì quá trễ, tình thế cứ mỗi lúc một sa lầy thêm. Không dám nói sự thực: “chẳng hạn ta chỉ thắng mà địch chỉ thua”, “ta đã đề phòng kĩ lưỡng, địch đã kiệt quệ”, “giá sinh hoạt so với ba năm trước chỉ tăng có 12%”, trong khi nó tăng lên 50%, 100%… là gạt dân cho dân đỡ bất bình, cũng là một hình thức mị dân nữa. Chính hình thức này là động cơ chính của chế độ khớp mỏ ngôn luận. Cho nên ở nước nào ngôn luận thực sự tự do như bên Anh, người dân mới được biết sự thực. Trong thế chiến vừa rồi, ngay khi Anh lâm nguy nhất, phải vội vã rút quân ở Tây Âu về, rồi chịu cảnh dội bom của Đức, mà tin tức chiến sự cũng không bị kiểm duyệt. Khắp thế giới phục Churchill ở điểm đó. Có lẽ chính nhờ được biết sự thực mà dân chúng càng sát cánh với Churchill, càng gắng sức để tự cứu lấy mình.

Trong gia đình, vợ chồng, con cái không tin nhau thì không thể có sự đoàn kết được; trong quốc gia, nhà cầm quyền và quốc dân không tin nhau thì cũng không thể có sự đoàn kết được. Đoàn kết khi chỉ có một triệu dân như Israel năm 1949 cũng hóa mạnh; không đoàn kết thì có năm bảy trăm triệu dân như Trung Hoa Dân Quốc năm 1949 cũng hóa yếu. Mà muốn đoàn kết thì trước hết phải cho dân tự do đưa ý kiến, nghĩa là đừng miệt thị dư luận, đừng khớp mỏ dư luận và đừng mị dân, gạt dân. Tại một nước tiến bộ như Anh, tự do ngôn luận chẳng phải chỉ là căn bản của chế độ dân chủ mà còn là điều kiện của sự thịnh vượng. Dân tộc ta chưa được tiến bộ như Anh, nhưng nhiệm vụ của chính quyền là hướng dẫn dân tới sự tiến bộ. Có lẽ nào sau hai mươi lăm năm chiến tranh, chúng ta chẳng tiến mà còn thụt lùi hơn hồi trước chiến tranh nữa?


Trích: Để tôi đọc lại


 

Advertisements
KM-Sách ngoại giá nội

Gửi phản hồi