Khoa học xã hội

Dự định can thiệp bất thành của Hoa Kỳ vào trận Điện Biên Phủ


Dự định can thiệp bất thành của Hoa Kỳ vào trận Điện Biên Phủ

Ngô Hữu


Từ khi cuộc hiến tranh Việt-Pháp bùng nổ (1945), Ha Kỳ đã quan tâm đến tình hình Đông Dương. Năm 1951 và những năm sau, Hoa Kỳ một mặt viện trợ cho Pháp, một mặt muốn đến gần các nước Đông dương, bằng cách yêu cầu Pháp trao trả độc lập cho những nước này. Khi các biến chuyển quân sự ở ĐÔng Dương bắt đầu bất lợi cho Pháp, và trước sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng săn, Hoa Kỳ đã đề ra những biện pháp mạnh mẽ với hy vọng cứu Pháp. Ngay vào giữa tháng 7 năm 1953, với kế hoạch Navarre, Hoa Kỳ đã tăng thêm chiến phí và võ khí.

Đầu năm 1954, Dulles đã lên tiếng trình bày chính sách mới trong phạm vi quân sự nhằm đe dọa Trung Cộng. Ông còn nhấn mạnh đến tình hình Đông Dương. Trước những lời tuyên bố này, dư uận Hoa Kỳ xôn xao bàn tán, và Eisenhower đã vội vàng trấn an dân chúng rằng Hoa Kỳ chưa có ý định can thiệp vào ĐÔng Dương và bất cứ một cuộc can thiệp nào đều phải hỏi ý quốc hội. Ngày 10 tháng 2 năm 1954. Tổng thống Mỹ đã tuyên bố: “Personne plus que moi ne pourrait être opposé à ce que las Etats-Unis se trounvent entrainés dans une guerre dans cette région (en Indochine). En conséquence, chacun de mes actes a pour but d’éviter cette éventualité”.  Như thế, đã có sự chia rẽ phần nào giữa chính phủ và dư luận Hoa Kỳ. Điều này sẽ rõ rệt hơn trong những tháng ngày sau đó.

Tuy trấn an dư luận, Hoa Kỳ vẫn xúc tiến công việc có liên quan đến Đông Dương. ủy ban tham mưu hỗn hợp cùng Hull, tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ ở Viễn Đông, đã thảo luận về tình hình ĐÔng Dương. Bedell Smith cùng Roger Kyes cũng được Eisenhower giao việc nghiên cứu tình hình ở bán đỏao này về hai mặt chính trị lẫn quân sự. Trong lúc đó thì 200 kỹ thuật gia về phi cơ và một số oanh tạc cơ B.26 đã được Hoa Kỳ gửi qua Đông Dương cho Pháp.

Hội nghị Bá Linh kết thúc, Bidault , ngoại trưởng Pháp, chấp thuận mở hội nghị ở Geneve. Sau đó, vào ngày 18 tháng 2, Dulles liền đến gặp riêng ngoại trưởng Pháp và báo trước rằng sẽ có một cuộc tấn công của Việt Minh trước hôm khai mạc hội nghị vì kinh nghiệm Triều Tiên cho biết là Cộng Sản nói chuyện hòa bình để làm mất tinh thần binh sĩ chóng Cộng, rồi khuếch trương chiến tranh sau đó.

Và Việt Minh đã khuếch trương chiến tranh thật. Với những cố vấn Trung Cộng, họ áp dụng chiến thuật biển người vào Điện Biên Phủ. Tình thế khẩn cấp, ngày 26 tháng 3, sau khi Việt Minh hạ được 2 cứ điểm ở phía Bắc và siết chặt vòng vây ở mặt đó, Tổng Tham Mưu trưởng lực lượng Pháp, đại tướng Paul Ély vội qua Hoa Thịnh Đốn gặp Dulles và những nhà quân sự Hoa Kỳ với lời lẽ “sauf intervention américaine, la défaite était inévitable” (không có can thiệp của Mỹ, thất bại là không tránh khỏi) và yêu cầu không lực Hoa Kỳ trợ giúp vào chiến trận Điện Biên.

Sau cuộc thăm dò đó, Pháp nhận thấy Hoa Kỳ tỏ vẻ hiểu biết. Bộ tham mưu ngũ giác đài bằng lòng can thiệp quân sự, nhưng chưa dứt khoát các phương thức hành động. Đô đốc Arthur Radfort, chủ tịch Ủy ban tham mưu liên quân, chủ trương can thiệp gấp, và theo đô đốc, chỉ cần không quân dùng bom nguyên tử tấn công là đủ. Đô đốc xem thường những xúc động chính trị của quần chúng. Đại tướng Nathan Twining, chỉ huy trưởng không quân bằng lòng nhưng yêu cầu để cho không quân tự do hành động. Nhưng Mathew Ridway, chỉ huy trưởng lục quân, phản đối một hành động quân sự thuần túy mà không có một hành động chính trị kèm theo, Còn đô đốc Carney thì dung hòa, bằng lòng can thiệp gấp nhưng phải chú ý đến mặt chính trị.

Tuy các nhân vật quân sự có những điểm bất đồng, họ đã cùng chung quan điểm cần phải tham chiến vào Đông Dương. Vì thế học bắt đàu chuẩn bị sẵn sàng, để nếu chính phủ Hoa Kỳ đồng ý thì họ sẽ thi hành ngay. Chỉ huy trưởng không quân Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương đã gặp đại tướng Henri Navarre, tư lệnh lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Hai người này đã nghiên cứu cặn kẽ đường lối can thiệp.

Nhưng giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn vốn còn do dự. Họ bị tùy thuộc vào dư luận quần chúng qua hai mặt: báo chí và quốc hội. lần trước dân chúng đã xôn xao vì lời tuyên bố của ngoại trưởng Dulles và Eisenhower phải lên tiếng trấn an. Lần ấy, các nghị sĩ đảng Dân chủ đã chất vấn chính phủ như nghị sĩ Micheal Menfield. Lần này, Dulles chắc thế nào quốc hội cũng chống đối. Dầu thế, với quyết định của hội đồng an ninh quốc gia đề nghị phải :thi hành các biện pháp cần yếu để cứu Đông Dương khỏi tay Cộng sản”, Dulles liền đọc một bài diễn văn vào ngày 29 tháng 3. Hôm đó, trước Overseas Press Clubof America, Dulles đã tuyên bố:: ”Trong những điều kiện hiện giờ bất cứ phương cách nào nhằm đặt chế độ Cộng Sản ở Đông Nam Á đều là mối dọa trầm trọng cho thế giới tự do. Hoa Kỳ cảm thấy không thể thụ động nhìn một việc xảy ra được mà cần chống trả lại bằng một hành động chung. Dĩ nhiên, việc chống trả nafycos thể gây nên những liều lĩnh đáng quan ngại. Nhưng nhữn liều lĩnh này còn ít quan trọng bằng các mối hiểm nguy mà chúng ta phải chạm trán trong những năm sắp đến, nếu chúng ta không tỏ ra dứt khoát ngay tự bây giờ”.

Với lời lẽ đó, và mấy hôm dau, ngày 3 tháng 4, Bidault lại trao cho Dulles một công hàm bán chính thức yêu cầu Hoa Kỳ cứu Pháp bằng cách cho phi cơ Phi Luật tân đến cứu viện Điện Biên Phủ ngay. Dulles và đô đốc Arthur Radfort liền cùng với 8 lãnh tụ hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa ở quốc hội họp mặt. Radfort nhấn mạnh đến vấn đề Đông Dương và tình hình đen tối hiện giờ tại đấy. Ông nêu lên sự xuất hiện của các lực lượng trọng pháo và cao xạ của Trung Cộng quanh lòng chảo để yêu cầu họ bằng lòng cho thủy và không quân can thiệp. Đồng thời cả Dulles lẫn Radfort còn tỏ ý mong quốc hội cho tổng thống được quyền hành động mà không cần hỏi ý quốc hội trong trường hợp cấp bách. Nhưng 8 thượng nghị sĩ của hai đảng tỏ ý nên hợp tác với Đòng Minh để có hành động chung. Chỉ có một hành động chung thì quốc hội mới chấp thuận.

Thái độ trên của 8 thượng nghị sĩ ngày 3 tháng 4 đã phản ảnh trung thực dư luận quần chúng Hoa Kỳ. Người ta không muốn phiêu lưu, ngại rằng “Mỹ sẽ bị cuốn vào trong cơn gió lốc”. Họ chẳng muốn tham chiến. Viện thống kê dư luận Hoa Kỳ đã công bố kết quả về vấn đề này, theo đó đa số người Mỹ đều cho rằng can thiệp không có lợi và một số còn tỏ ý hành dộng như thế sẽ đưa đến đại chiến.

Dầu vậy, để ủng hộ Pháp, vừa để áp đảo Trung Cộng, ngày 5 tháng 4, Dulles đã nhấn mạnh một lần nữa sự can thiệp trực tiếp của Trung Cộng trước Ủy ban Ngoại Giao Hạ Viện cốt để cho Hạ Viện chấp thuận đường lối của chính hủ. Ông đưa ra những chứng cứ:

  • Một tướng lãnh Trung Cộng đang đóng ở Tổng Hành Dinh Việt Minh ở Điện Biên Phủ
  • Bên cạnh còn có 20 cố vấn kỹ thuật và nhiều cố vấn khác đóng ở các căn cứ
  • Chuyên viên Trung Cộng thiết lập và gìn giữ hệ thống điện thoại
  • Chuyên viên Trung Cộng điều khiển đại bác phòng không 37mm đặt quanh lòng chảo.
  • Trung Cộng viện trợ 1000 xe vận tải và do người của họ lái
  • Trung Cộng viện trợ thêm trọng pháo và vũ khí

Sau đó hai hôm, Eisenhower lại tuyên bố về sự quan trọng của Đông Dương. Trong lời tuyên bố này Tổng thống Mỹ đã nhấn mạnh đến giá trị riêng và chung của Đông Dương. Riêng, Đông Dương có nhiều sản phẩm quan này hệ. Còn chung, nếu mất bán đảo này sẽ khiến cho vùng Đông Nam Á lâm nguy, làm cho vành đai Thái Bình Dương bị hăm dọa và sẽ lan xuống Úc Châu, cuối cùng sẽ làm cho Nhật – vì không có chỗ tiêu thụ sản phẩm – có thể quay lại với Trung Cộng. Eisenhower kết luận: “Tóm lại, mất Đông Dương, thế giới tự do sẽ bị thiệt hại không thể nào kể xiết”.

Với một vị Tổng Thống thấy rõ vấn đề Đông Dương như thế, chúng ta sẽ thấy Hoa Kỳ còn cố gắng hơn trong việc can thiệp.

Sau khi Quốc hội Hoa Kỳ không bằng lòng can thiệp trực tiếp và đơn lẻ ở Đông Dương, mà chỉ chấp nhận trong một hành động chung, nghĩa là có đồng minh Anh Pháp  tham dự, chính phủ Hoa Kỳ đã vội vàng thực hiện các công tác: để đạt đến một hành độn chung. Ngày 4 tháng 4, Dulles đã truyền cho đại diện Hoa Kỳ ở nhiều quốc gia tiếp xúc với các chính phủ các nước này để thảo luận về điểm đó. Nhưng Hoa Kỳ gặp trở ngại lớn lao: sự phản đối của Anh, Anthony Eden, Ngoại trưởng Anh, cho Dulles hay là Anh sẽ không tham gia vào hành động chung. Anh xác định lập trường mình dựa vào hai yếu tố quân sự và chính trị. Về quân sự, Anh thấy một cuộc can thiệp quân sự như vậy không có hhieeju quả và lại gây nên thế chiến. Về chính trị, dân Việt Nam không thích một cuộc can thiệp như vậy, rồi đến sự phản đối của các quốc gia Á Phi, nhất là Ấn Độ v.v… Đó là chưa kể việc can thiệp sẽ làm chết hy cọng ổn định tình thế ở hội nghị Geneve sắp khai mạc. Anh cho quan điểm của Mỹ là thiếu thực tế và có thể làm tan hy vọng về một giải pháp cho Đông Dương. Vì thế, vào ngày 13 tháng 4, trong lúc dự thảo thông cáo chung Anh-Mỹ, Churchill đã tự tay gạch bỏ câu “phòng thủ chung” mà thay vào đó danh từ “phòn thủ tập thể”. Một thay đổi danh từ hay là một phản đối ngầm còn bọc nhiều chất mật bên ngoài để thoa dịu viên ngoại trưởng Hoa Kỳ?

Ngày 14 tháng 4, Dulles gặp Laniel và Bidault để bàn một hành động chung với mujch đích là để củng cố vị trí Pháp. Và chất mật tan dần. Ngày 18 tháng 4, Dulles về Hoa THịnh Đốn liền dự định tổ chức một cuộc họp nhiều quốc gia vào này 20 tháng 4 để bàn lại việc đó. Nhưng viên đại sứ Anh ở Hoa Kỳ, với huấn lệnh của chính phủ mình, đã từ chối thẳng với Dulles bằng một cú điện thoại.

Đắng cay, nhưng Dulles cố nuốt. Ngày 18 tháng 4, phó tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon lại đưa ra một lời tuyên bố cần phải can thiệp vào Đông Dương. Dư luận lại sôi nổi, và Dulles phải lên tiếng trấn an. Ngày 19 tháng 4, sau khi bàn luận với Eisenhower, Dulles cho hay là ý kiến của Nixon không phản ảnh đúng đường lối của chính phủ và nhắc lại rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào Đông Nam Á. Nhưng đó chỉ là một lời tuyên bố thoa dịu. Thâm tâm của Dulles vẫn khác hơn nhiều, dù không chủ trương can thiệp mạnh mẽ như các nhà quân sự ở ngũ giác đài. Trong một cố gắng khác, Dulles vội sang Ba Lê tiếp xúc với Bidault. Bidault thiết tha yêu cầu Hoa Kỳ can thieejpgaasp nhưng vốn biết khó khăn, nên Dulles lại cố làm sao cho Pháp giao việc huấn luyện và duy trì lực lượng phe quốc gia Việt Nam cho mình. Lúc đó, Bảo Đại có mặt ở Ba Lê và cho Hoa Kỳ hay là ông sẵn sàng tiếp tục chiến tranh.

Nhưng tình hình Điện Biên Phủ đã bước vào giai đoạn cam go kể từ ngày 31 tháng 4. Và hai mươi hôm sau, Việt Minh đã đến sát lòng chảo trung tâm căn cứ Pháp. Các cuộc giao tranh ác liệt đã xảy ra liên tiếp, trọng pháo Việt Minh hoạt động mạnh báo hiệu giai đoạn chót đã cận kề. Henri Navarre điện về cho chính phủ Pháp rằng nếu Điện Biên thất thủ, Navarre sẽ không thể bảo vệ phần còn lại ở Đông Dương. Trong một phiên họp hội đồng bộ trưởng Minh ước Bắc Đại Tây Dương ngày 23 tháng 4, Bidault, sau khi nhận điện của Navarre báo cáo, đã trình bày lại với Dulles về hiện trạng bi thảm đó và khẩn khoản cầu xin Hoa Kỳ cứu nguy căn cứ chủ não. Tin này khiến các nhà cầm quyền Hoa Kỳ xúc động mạnh, chủ trương can thiệp sống dậy. Đô đốc Radfort lại bay qua Paris để cùng Dulles hội đàm với Eden, ngoại trưởng Anh. Dulles cho Eden hay tổng thống Hoa Kỳ có thể xin quốc hội cho quyền can thiệp vào Đông Dương ngày và nếu cần, Hoa Kỳ sẽ lao vào chiến cuộc với phi cơ và bom nguyên tử.  Mọi sự sẵn sàng, Eden lại trù trừ. Ông trở về Luân Đôn đêm đó để hỏi ý kiến Churchill. Hôm sau, chính phủ Anh họp phiên khẩn cấp, tuyên bố không can thiệp vì cho là liều lĩnh và muộn màng. Ngày 27 tháng 4, Sir Winston Churchill lên tiếng trước quốc hội Anh, nhấn mạnh lại lập trường Anh, theo đó, Anh sẽ không hành động về quân sự ở Đông Dương trước khi có kết quả hội nghị. Anh chỉ ủng hộ Pháp trong cuộc thương thuyết. Và nếu hội nghị thất bại, Anh sẵn sàng nghiên cứu một hành động chung với Hoa Kỳ.

Trước thái độ của Anh, Hoa Kỳ đành nhượng bộ và đành nhìn lòng chảo Điện Biên thở hơi thở cuối cùng. Ngày 5 tháng 5, Dulles cho quốc hội hay rằng hành động chung thất bại vì sự từ chối của Anh.

Sau đó hai hôm, Điện Biên Phủ thất thủ. Cùng với sự thất thủ này một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đã xảy ra trong mối bang giao Anh -Hoa Kỳ. Anh tỏ ra rất hòa giải ở Geneve. Chúng ta sẽ thấy Anh càng mạnh dạn hơn trong chủ trương này vì những biến cố chính trị ở Pháp đã xảy ra ngay sau khi Điện Biên Phủ thất bại. Biến cố này đã đẩy hội nghị Geneve mau đến kết thúc. Nếu có thể, trong một bài khác, chúng tôi sẽ trình bày rõ rệt về biến cố đó.

Mời xem thêm bản scan cho các chú thích, tại đây: <LINK>


Nguồn: Bách Khoa 294, 1969


 

Gửi phản hồi