Hồi ký - Nhân vật

Buổi giao thời Đông Tây: điều kiện xã hội khác biệt của Nguyễn Công Trứ và Y Đằng Bác Văn

Có thể bạn quan tâm:


Buổi giao thời Đông Tây:

điều kiện xã hội khác biệt của Nguyễn Công Trứ và Y Đằng Bác Văn

Đào Đăng Vỹ


nhatbook-Xã hội Nguyễn Trường Tộ-Đào Đăng Vỹ-1971

Trước đây, trong một bài đã đăng ở tuần báo Văn Đàn của Tinh Việt văn Đoàn số đặc biệt về Nguyễn Trường Tộ tiên sinh, với nhan đề “Nguyễn Trường Tộ và Y Đằng Bác Văn”, chúng tôi đã từng kể lại một giai thoại về cuộc gặp gỡ giữa nhà chí sĩ họ Nguyễn và chính trị gia hữu danh Nhật Bản là Y Đằng Bác Văn (Ito Hirobumi)

Câu chuyện này chỉ là một truyền thuyết do các cụ xưa kể lại, chớ không có tài liệu chính xác nên chúng tôi tường thuật với mọi dè dặt trong bài trên, cũng như trong cuốn sách tôi đã viết bằng Pháp văn cách đây lối 30 năm, với nha đề “Nguyễn Trường Tộ et son temps”. Theo truyền thuyết đó, hai nhà ái quốc trên, một Việt một Nhật, đã gặp nhau trên một chuyến tàu thủy hồi quốc sau lúc bôn ba qua Âu Tây để tìm cái học Tây Phương hầu chống ngay lại sự xâm nhập của Tây phương vào Á Châu. Qua những bút đàm bằng hán văn trên tàu, hai người tỏ ra rất khâm phục nhau, về những kiến thức uyên bác và kế hoạch cải tiến quốc gia để có thể tồn tại trước làm sóng từ Tây phương ồ ạt tràn sang Đông Phương. Hai người đã chún nhau thành công và may mắn trong tương lai góp phần cứu quốc và kiến quốc.

Nhưng về sau Y Đằng Bác Văn đã thành công rực rỡ mà Nguyễn Tiên sinh đã thất bại nặng nề. Nhật Bản đã trở thành một cường quốc mà Việt Nam đã phải mang ách ngoại bang đô hộ ngót trăm năm… cho đến ngày nay vừa thoát tay thực dân lại lâm vào cảnh Nam Bắc phân tranh. Quốc Cộng chém giết nhau trong gần phần tư thế kỷ.

Thành bại, nguyên nhân vì đâu? Sự thành công vĩ đại của Nhật có phải là công của một y Đằng Bác Văn, thất bại chua cay của Việt Nam phải chăng là lỗi riêng của một Nguyễn Trường Tộ? Vấn đề không giản dị như thế. Muốn hiểu qua sự thành bại trên, ta cần xét qua qua tình hình hai nước trong thời kỳ các quốc gia Tây phương đua nhau bành trướng ảnh hưởng sang Đông phương.

***

Có thể bạn quan tâm:

Quốc gia Việt Nam vào đầu thế kỷ 19 là một nước oai hùng ở Đông Á, có lẽ còn hơn Nhật Bản thời bấy giờ. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ vừa đại thắng quân mãn Thanh là đoàn quân đã từng chinh phục nước Trung Hoa và lập Thanh triều lừng danh ở Á Châu. Trận thắng oanh liệt ấy đã xảy ra đầu năm 1789 là năm có cuộc Cách mạng ở Pháp. Quân Tây Sơn của Quang Trung đã làm rúng động cả nước Tàu và dân các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đã rùng rùng di cư tránh xa biên giới Việt Hoa vì sợ Nguyễn Huệ vừa thắng đánh sang Trung Quốc như đời Lý Thường Kiệt.

Trước Nguyễn Huệ thì nhà Trần đã từng đánh thảm bại quân Mông Cổ và Trung Hoa của nhà Nguyên là đạo quân vô định đã chiếm Trung QUốc và đã làm rung động cả đến Âu Châu, Ba Tư và Ấn Độ (thế kỷ 13). Sau nhà Trần đến đời Lê Lợi, trong mười năm khổ chiến cũng đã toàn thắng quân nhà Minh (thế kỷ 15)…

Đối với các nước láng giềng khác đã từng khuấy phá biên thùy dân tộc Việt, thì cuộc Nam tiến trong mấy thế kỷ đã đem lại toàn bộ nước Chiêm thành vào bờ cõi Việt Nam. Chân Lạp, nam chiếu và Ai Lao đã từng ở dưới sự đô hộ và che chở của các triều đại Việt Nam. Ngoài ra, quân Xiêm La cũng đã nhiều lần bị quân Tây Sơn, cũng như quân nhà Nguyễn đánh lui để bảo vệ cho Cao Miên, và giữ nền tự chủ cho Nam Việt.

Trước đó, thì đoàn quân nhỏ bé của Nguyễn Ánh trong lúc tá túc tại nước Xiêm (vì bị bại trước Tây Sơn), đoàn quân ấy đã giúp vua Xiêm đánh lui xâm lăng của Miến Điện (1785-1786).

Như vậy là từ phương Bắc đến phương Nam và qua đén phương Tây, dân Việt Nam đều được kính nể.

Có thể bạn quan tâm:

Vua Gia Long sau khi thắng Tây Sơn và thống nhất sơn hà còn làm cho Việt Nam có một địa vị bền vững hơn nữa.

Tuy nhiên trong cái thế thắng của vua Gia Long, trong sự phục hưng của nhà Nguyễn, đã ngầm có những cái thế bại cho Việt Nam về sau này.

Việc giết hại các công thần nguyên huân lập quốc như Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thương vì những chuyện nhỏ nhặt không ra gì… Việc ấy so với việc voi xé xác mẹ con nữ tướng Tây Sơn là Bùi Thị Xuân, việc quật mả Nguyễn Huệ và dùng đầu lâu vua Quang Trung để đi tiểu…Những sự ấy lịch sử đã phê phán là quá dã man và nhỏ nhen.

Sau vua Gia Long lại lập con thứ làm thái tử kế nghiệp, thay vì lập dòng chính là con Hoàng Tử Cảnh, đó cũng là một nguyên nhân cho sự suy đồi về sau.

Tuy việc lập vua Minh Mạng ké vị là hợp lý vì lúc ấy con Hoàng tử Cảnh là đích tton còn quá bé nhỏ, mà triều Nguyễn mới xây dựng lại sau bao nhiêu năm bị chinh chiến với Chúa Trịnh, rồi với Tây Sơn, thì việc duy trì cho dòng họ Nguyễn phải cần một nhà vua thông minh và đã lớn tuổi. Tuy vậy nhưng việc phế lập đã gây chia rẽ giưa công thần, và phái Lê Văn Duyệt đã nâng đỡ ngành đích tôn về sau luôn luôn bị vua Minh Mạng nghi ngờ, và cái án Lê Văn Duyệt bị san bằng mồ mả, truy nguyên cũng vì vua mới không dung kẻ cựu thần nhiều công làm cho vua cũng đố kỵ, nhưng cũng vì các công thần này đều là bạn chiến sĩ với Hoàng Tử Cảnh xưa, nên bị thù ghét.

Lòng nghi kỵ và nghiêm khắc của nhà vua còn tỏ lộ ra đối với cả hoàng thất trong các nhánh khác, cho nên vua đã làm ra một bài thơ Đế hệ để lấy mỗi chữ trong ấy làm chữ lót cho hậu duệ của chi nhánh mình. Còn con cháu các hoàng tử khác, cũng như hậu duệ của các chúa Nguyễn xưa, đều phải đặt danh hệ riêng biệt. bài thơ của vua Minh Mạng có mấy câu như sau đây, chúng tôi chỉ xin nhắc lại:

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Tường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thể Thoại Quốc Gia Xương

Mỗi chữ của bài thơ chỉ thế bậc trong Đích hệ, tức là Đế hệ kể từ con vua Minh Mạng về sau: như Miên (hay cũng đọc là mân) chỉ thể hệ con vua Minh Mạng (như vua Thiệu Trị là Miên Tông), Hường chỉ thể hệ cháu nội (như vua Tự Đức húy là Hường Nhậm hay Hồng Nhậm) v.v.. Con cháu của anh em vua Minh Mạng đều thuộc về Phiên hệ và cũng có những bài thơ riêng cho mỗi hệ…

Những người Pháp đã từng giúp Nguyễn Ánh và Hoàng tử Cảnh trong các cuộc tranh hùng với Tây Sơn như Chaigncau và Vannier… cũng bị nghi ngờ và đối dãi lạnh nhạt, và về sau các người này đều chán nản mà về nước cả. Những việc này xảy ra trong khoảng những năm 1820-1826.

Vả chăng, đây là một việc thiếu sót, làm cho nước ta đã mất một cơ hội quý hóa để cùng các triều thần Pháp tìm hiểu thêm Thái Tây, mở tầm mắt ra ngoài cái thế giới bế môn tỏa cảng của các nước Á Đông? Nếu Hoàng tử Cảnh còn sống và kế ngôi vua Gia Long thì lịch sử Việt Nam có lẽ đã có một chiều hướng khác chăng, và có lẽ ngoài cái Nho học (thứ Nho học từ cương của nhà Tống, chơ khoonnng phải cái học Vương DƯơng Minh đã thịnh hành ở Nhật bản). Chúng ta đã sớm thâu thập được thứ Dương học như người Nhật, hoặc ít ra cũn hiểu cách đối đãi ngoại giao mà lập cái thế cùng mở rộng nước đón tiếp giao thương với tất cả các cường quốc như Xiêm La đã làm để giữ được nền độc lập.

Thật ra, không phải là người Pháp có ý dòm ngó nước ta từ lâu. Ngay như việc Giám mục Bá Đa Lộc lúc cầu viện tới nước Pháp để giúp Nuyễn Ánh cũng đã hứa với Pháp triều là sẽ nhượng cho Pháp quần đảo Côn Sơn và hải cảng Đà Nẵng. Việc ấy đã không thành vì nước Pháp đang hồi hooaxn loạn, còn các người Pháp sang giúp nhà Nguyễn chỉ là nhóm người phiêu lưu đi theo Giám mục Adran đó thôi (thế mà sau này Pháp vẫn đòi thi hành, vì đã bị triều đình ta từ chối, vì Pháp không chính thức giuso gì cho nhà Nguyễn cả).

Lòng nghi kỵ của vua Minh Mạng và hậu duệ ông ta đối với con cháu các hoàn tử khác và ngay cả đối ới người trong Đế hệ đã làm cho nhà Nguyễn có một chính sách hà khắc đốii với ngay người trong họ Nguyễn Phước. Các hoàng tử cà con cháu thường chỉ có tươc mà không có vị, có danh vương hầu bá tử mà không có chút quyền binh trong tay, chỉ được lãnh một số lương của vua caaso để sống và chơi bời. Ai đã đọc qua cuốn Tuy Ly Vương của Trần Thanh Mại thì biết cái cảnh sa đọa của con cháu nhà vua Tự Đức…, cảnh ấy đều do chính sách từ vua Minh mạng gây ra, và đã làm cho nhà Nguyễn yếu thế dần.

Các nho sĩ trong nước chỉ theo cái học từ chương của Tống nho để thi đậu làm quan, gặp việc gì ở đời cũng đem Ngũ Kinh Tứ Thư ra dẫn chứng, mỗi lời nói thơpfng viện dẫn những Khổng Tử viết, Mạnh Tử viết, chớ không tìm tòi gì thêm nữa, tuy là người Tây phương đã có mặt ở Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài từ thế kỷ 16 (đã lập việc buôn bán tại Phó Hiến ở Đàng Ngoài, và Hội An ở Đàng Trong, lập nhà đúc đồng sắt thại Thuận Hóa v.v…) các triều thần chỉ biết thờ vua và hưởng nhàn, và gặp việc khó chỉ biết hướng về nước Tàu để lấy làm gương mẫu. Nhưng Trung Quốc thời bấy giờ cũng lúng túng như ta, chỉ biết tự tôn tự đại, khi gặp người Tây phương đến lấn áp cũng chịu thua và đầu hàng liên tiếp.

Tiki1-Nguyễn Trường Tộ

Truyện tranh về Nguyễn Trường Tộ <LINK>

Trường Tộ tiên sinh ở trong cái hoàn cảnh suy nhược ấy, nhưng còn gặp cái khó khăn nguy hiểm hơn kẻ khác nữa, vì tiên sinh là ngui công giáo mà các triều đình Việt Nam đều chống sự gia nhập các tôn giáo mới mà thời nhân cho là tà giáo cũng như người truyền giáo là đám quân tiền phong cho sự xâm lấn của Âu Tây. Cái học của Nguyễn Tiên Sinh là cái học do các linh kujc phương Tây truyền cho, và cũng do các linh mục này mà tiên sinh và các bạn tiên sinh như Nguyễn ĐỨc Hậu, Nguyễn Điều đã xuát ngoại (1866) học hỏi. Các vị này mắt thấy tai nghe cái gì mới lạ ở nước ngoài đều đem về tâu tình vua và triều đình, và đề nghị nhiều điều cải cách ích lợi cho quốc gia. Nhưng bao nhiêu điều trần của Nguyễn Trường Tộ đều bị triều thần bác bỏ. năm 1868 ông Đinh văn Điều cũng lại điều trần xin đặt doanh điền khai thác hầm mỏ làm tàu hỏa và tàu thủy như Tây Phương: ông này cũng không may gì hơn Trường Tộ tiên sinh. Năm 1879 ông Nguyễn Hiệp đi xứ Tiêm La về năm 1881 ông Lê ĐỈnh đi xứ Hương Cảng về đều tâu vua xin mở ngoại thương, giao dịch với nhiều nước như Xxieem và Nhật để tránh cái nạn một cường quốc độc quyền uy hiếp. Phan Liêm và trước đó Phan Thanh Giản cũng đều tâu xin các việc cải cách, nhưng triều đình do vua giao phó xét định đều đã bỏ trôi hết. Chính vua Tự Đức đã truyền bảo các quan suy xét kỹ chứ nếu không tìm cách tiến bộ tức là đã thoại bộ. vậy mà triều thần một là vì dốt việc bên ngoài, hai là đố kỵ, ba là quá nệ cổ nên đều có mọt thái độ thật đáng trách. Vua rất thông minh nhưng chỉ là một thi sĩ ưa nhàn, khoog biết làm gì hơn với những triều thần hủ lậu như vậy. (Các vị đại thần thanh liêm khí tiếtt như Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương v.v.. chỉ là thiểu số và cũng không phải là người của thời thế). Và vì vậy mà nước Việt Nam đã mất chủ quyền trong một thế kỷ…

***

Hoàn cảnh nước Nhật ở đầu thế kỷ 19 tuy tương tự nước ta, nhưng tinh thần của các nhân sĩ đương thời dã khác hẳn đa số nhân sĩ của ta.

Cho đến giữa thế kỷ 19, nước Nhật cũng không hơn gì Việt Nam, nội tình rối ren, phe phái tranh quyền gây nhiều cảnh tương tàn đổ máu, dan tình khốn đốn, luôn luôn bị đói kém vì kinh tế lạc hậu, thiên tai liên miên. Nhật giữ được nền độc lập lâu dài cũng chỉ nhờ ở địa thế nước biển bao bọc tứ bề, mà nước Trung Hoa khổng lồ thường gây cuộc xâm lăng các lân quốc lại kém về thủy quân, nên tải qua bao nhiêu thế kỷ nước Nhật đã tránh khỏi nạn ngoại xâm. Nhưng tình thế ấy cũng đã tạo nên người Nhật khối óc tự cường tự lập, sĩ khí rất cao. Tinh thần hiếu học tìm tòi nghiên cứu đã giúp cho Nhật chóng phát triển trong thời kỳ gặp gỡ Đông Tây.

Chính sách Mạc Phỉ lúc đầu cũng là chánh sách bế môn tỏa cảng như các triều đình Việt nam. Nhưng các phong trào học thuật luôn luôn tiến bước. Phái Tống học và Chu tử học phái đã dựa vào uy quyền mạc Phủ mà hoằng phát, nhưng vẫn có các học phái khác đã chống lại cái lối học từ chương ngâm vịnh mà lập ra Cổ nghĩa học phái chuyên về khảo cứu và phát huy truyền thống dân tộc nên cũng gọi đây là phong trào Quốc Học. Sau đó lại có Dương Minh học phái theo thuyết tri hành hợp nhất đới nhà Minh của Trung Hoa.

Bên cạnh các học phái này, thì ngay từ thế kỷ 17 Mạc Phủ đang nghiêm khắc giữ chính sách bế môn tỏa cảng là đã có một phong trào Lan học là cái học do các thương gia Hòa lan du nhập với các tư tưởng học thuật phương Tây phương. Sau này phái Lan Học lấy tên là Dương học, tức là Âu học, vì cái học đó do những người ở ngoài Đại Dương du nhập vào quốc gia Nhật bản. Từ cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18 đã có người Nhật viết về những sách khảo cứu về Tây Phương, như bộ Hoa Di thông Thương của Tây Xuyên Như Kiển (Nichikawa Shoken), Tây Dương Kỷ Văn, Thái Lâm dị ngôn của Tân ĐỈnh Bạch Thạch, rồi những sách Đại số Học, Phát vi toán pháp, Y dược bản thảo, Nhân thể giải phẫu, Bách Khoa từ điển (dịch cuốn Bách Khoa từ điển của Pháp ra thành 68 quyển đến năm 1841 mới hoàn thành). Về sau lại có sự hợp tác giữa các học giả Nhật và học giả Tây Phương để viết nhiều sách khảo cứu về Tây Học rất bổ ích. Sang đầu thế kỷ 19 thì đã có những tư thục về Dương học mở ngay tại trong nước, và thời Minh trị Thiên Hoàng thì đã có nhiều chuyên viên nhất là người ĐỨc và Pháp đến phục vụ tại Nhật Bản.

Điều đáng chú ý cho ta là trong lúc chánh quyền Nhật Bản cấm chỉ ngoại nhân và ngay cả sách vở Tây Phương du nhập vào trong nước thì nhiều người thuộc các tầng lớp xã hội, thuộc đủ phe phái vẫn lét lút giao thiệp với ngoại nhân để học ngoại ngữ và tìm cách đem nhiều sách Tây phương về để khảo cứu và biên dịch ra Nhật ngữ và phổ biến trong dân gian. Nhiều thanh niên đã trốn đi du học ngoại quốc. Phái Dương học mỗi ngày một bành trướng, lại gặp sự chống đói ngấm ngầm của pháo Tống Nho, nên Mặ cPhur đã đàn áp phái Dương học và nhiều học giả có công lớn với Tân học đã bị kết tội tù đày và nhiều học giả cùng nhiều nhà trí thức đã tự sát vì phẫn uất… Tuy nhiên những hy sinh này sẽ dem lại nhiều lợi ích cho quốc gia Nhật bản về sau.

Trong thời gian này ở Trung Quốc đã xảy ra trận Nha phiến chiến tranh (1839-1842) do người Anh gây ra và nhiều thuyền bè của các nước Tây phương vẫn lui tới Á Châu làm cho Mạc Phủ càng hoảng sự và lần lần đã nới tay với bọ Dương Học và chuẩn bị đối phó với Tây phương. Việt Nam cũng bắt đầu bị Pháp và Tây Ban Nha đến gây sự vì vấn đề cấm đạo và giết đạo…

Năm 1853, Hạm đội Hoa Kỳ của Tư lệnh hải quân Perry đến uy hiếp, và các hạm đội Nga và Pháp, anh cũng lui tới hải phận đầy vẻ đe dọa khiến Mạc Phủ phải ký hiệp ước và mở bang giao với Hoa Kỳ, và kế tiếp năm 1855 Hiệp ước Nga-Nhật lại được ký kết, rồi đến Hiệp ước Nhật-Hòa (1856), Nhật -anh v.v.. Những hiệp ước này đều là Hiệp ước bất bình đẳng đối với Nhật, nhưng vì nhiều nước tranh nhau nên Nhật vẫn còn tự chủ.

Với các hiệp ước trên thì chánh sách bế môn tỏa cảng đã bị phá tan, chế độ Mạc Phủ bắt đầu suy tàn để Thiên Hoàng tự quyền lo chỉnh đốn việc nước, và cuộc anh tân nhật bắt đầu. Các học giả và thanh niên xuất ngoại hoặc công khai hoặc lén lút như Y Đằng bắc văn (Ito Hirobumi) và Tỉnh Thượng Nghị (Inoué Kowashi) (1863) đều trở về phục vụ tổ quốc. Các sĩ phu đã tạo cho Nhật một môi trường thuận tiện để Âu hóa và phát triển mạnh. Hoàn cảnh xã hội do đám sĩ phu Dương học đã tạo cho Nhật đủ điều kiện để tiến bộ mau chóng.

Riêng Y Đằng Bác văn đã có công lớn cho nền Duy Tân nước Nhật. Từ buổi thiếu thời, ông đã theo phong trào Dương học và sớm đã trốn đi du học các nước Tây phương. Năm 1868, ông đã dự vào cuộc đảo chánh của phái Tát Trường (Choshun) đánh đổ chế độ mạc Phủ và dành lại toàn quyền cho Thiên Hoàng trực tieeso xử trị việc nước. Năm 1869, ông vào Nội các nắm chức thứ trưởng Tài Chánh, năm 1871-72 ông đi Hoa Kỳ trong phái bộ Iwakura và năm 1883 ông lại được cử đi nghiên cứu các Hiếp pháp ngoại quốc và ông đã trở lại Hoa Kỳ và đến Anh, Bỉ, Đức. Chính ông đã chịu ảnh hưởng nhiều của chính thể Đức quốc để thảo ra Hiến Pháp mới của Nhật. Và từ khi ông lên nắm quyền Thủ Tướng, năm 1885, nước Nhật mới bắt đầu tiến bộ mạnh mẽ trên đường Duy tân, sau những năm lục đục chia rẽ phe phái và Tân-Cựu từ lúc Minh Trị lên ngôi, tức là năm 1868… Chẳng bao lâu, nhật đã đủ sức can thiệp vào nước Đji hàn, đánh bại quân mãn Thanh (1894) chiếm Đài Loan và được nhượng bán đảo Liêu Đông. Năm 1902, Nhật ký hiệp ước đồng minh với Anh Quốc để chặn đường Nga tiến xuống miền Nam lục địa Á Châu. Năm 1905, Nhật lại đánh thắng Nga ở trận hải chiến Đối Mã. Các hiệp ước bất bình đẳng lần lần được hủy bỏ và hiển nhiên Nhật đã đứng ngang hàng với các cường quốc Tây phương.

Ảnh của Y Đằng Bác văn trên tờ 1000 Yên của Nhật

Buồn thay, trong thời gian ấy, Việt Nam ta đã lần lượt bị Pháp đánh bại: Đà Nẵng bị bắn phá năm 1847 rồi 1858, Gia Định bị mất năm 1859, ba tỉnh miền Đông Nam Việt bị mất năm 1862, rồi ba tỉnh miền Tây năn 1867, thành Hà Nội bị hạ năm 1873, Hiệp ước Việt Nam nhận Pháp đô hộ được ký năm 1883 và 1884…

Nguyễn Trường Tộ đã chết trong năm 1871. Tiên sinh đã chết trong tủi hận. hững gì đã xảy đến cho quốc gia, tiên sinh sớm biết trước, nhưng tiên sinh đã không làm sao cản trở được, tiên sinh không cảnh tỉnh nổi người lãnh đạo quốc gia để canh tân đất nước hòng tránh kịp nạn ngoại xâm. Những bản điều traafncuar nhà chí sĩ mang đầy tâm huyết và đã đưa ra những kế hoạch hợp thời đẻ cứu nước, nhưng than ôi, đây chỉ là tiếng kêu ào trong sa mạc. Cái học từ chương không thực tiễn đã thất bại nặng nề trước khoa học và kỹ thuật Tây phương. Các thi văn ủy mị đời Tự Đức không chống được thần công đại bác của quân xâm lăng tàn bạo…

Cuộc thành bại đã rành rành trước mắt!

Tuy nhiên bình tâm mà xét cho kỹ, thì vào buổi giao thời giữa Đông Tây, sĩ khí nước Nhật cao, bản tính người Nhật rất chịu khó, cố gắng và kien nhẫn, hoàn cảnh rất thuận tiện cho phong trào Duy Tân đời Minh Trị sau này, nhưng Nhật lại còn có cái may mắn hơn việt Nam là nhờ nhiều cường quốc Tây phương đến Nhạt ccufng một úc, và Nhật tuy bị bắt buộc nhưng cũng đã kịp thời ngoại giao với tất cả các cường quốc ấy, để ngoại nhàn vì cái thể liên lập giữ miếng nhau mà không riêng một nước nào có thể dành riêng một miếng mồi Nhật bản. giả Tỉ lúc đó, riêng một Hoa Kỳ hay Anh Quốc đánh chiếm Nhật để đô hộ mà không bị các nước khác cản trở thì Nhật cũng khó bề thoát khỏi ách lệ thuộc ngoại bang dầu cho trình độ Âu học đã đi trước nước ta.

Việt nam kém về phương tiện du  nhập các môn học Tây Phương và nhân sĩ trong nước chưa kịp xoay chiều đổi hướng cho kịp đà tiến hóa của tư tưởng koa học Tây Phương… lại còn rủi bị ở cái thế các cường quốc đã chia nhau qua phần các khu vực chịu ảnh hưởng và xxam chiếm. Anh đã chiếm được Ấn Độ, Tân Gia Ba, Miến Điện, mã Lai, và để cho Pháp rảnh tay chiếm Đông Dương, đặt nền đô hộ lên Cao Miên, Ai Lao và Việt Nam. Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay) được xem là miền trái độn ấy để tránh sự động chạm giữa hai thế lực tranh đua nhau. Hoa Kỳ đã được phần chiếm Phi Luật Tân không muốn va chạm với Anh -Pháp, Nga chưa dòm ngó đến miền Nam và ngoài đại dương…

Nhưng với hoàn cảnh nước Việt Nam lúc bấy giờ thì dầu không bị xâm chiếm, cũng khó tiến bộ mau chóng và hùng mạnh như Nhật bản được.

***

Dầu sao đối với chúng ta ngày nay, bài học của Nguyễn Trường Tộ và Y Đằng Bác Văn thật đáng suy ngẫm. Xã hội Nguyễn Trường Tộ không giúp cho nhà chí sĩ Việt Nam thành công, mà xã hội Y Đằng Bác Văn đã giúp cho ông và đồng chí của ông thành công rực rỡ. Sự thành bại của một nước không thể do một người hay một phe nhóm tạo nên, mà do tất cả sĩ phu trong nước phải chịu trách nhiệm với sự thành tâm đóng goáp của toàn thể nhân dân. Sự đoàn kết giữa những người lãnh đạo quốc gia và các đoàn thể trí thức, các phe đảng, và cả quảng đại quần chúng là điều cần thiết cấp bách cho sự sống còn của dân tộc trong những giai đoạn nguy ngập như thời kỳ Nguyễn Trường Tộ cũng như trong thời kỳ chúng ta đang sống hiện nay!


Nguồn: Bách Khoa số 259, 1971

Nhatbook đặt lại tựa, bản scan pdf tại đây:<LINK>


*

Có thể bạn quan tâm:
Advertisements
Có thể bạn quan tâm:

Gửi phản hồi