Khoa học xã hội

Quan hệ Pháp – Mỹ – Hoa những ngày tháng 8-1945


Quan hệ Pháp – Mỹ – Hoa những ngày tháng 8-1945

David G. Marr

Lê Đỗ Huy dịch


Đây là một đoạn trong chương 8 cuốn sách Vietnam 1945: the quest for power (Việt Nam năm 1945: cuộc tranh đoạt chính quyền) viết về cuộc cách mạng Việt Nam năm 1945. Qua đoạn này chúng ta sẽ biết thêm tình hình phức tạp sau khi Việt Nam giành được chính quyền về tay mình, và những phân tích của tác giả trong quan hệ giữa Mỹ – Pháp và Trung Hoa với chính quyền cách mạng Việt Nam trong những giờ phút căng thẳng đó

***

Hà Nội, rạng sáng 20 tháng 8 năm 1945. Những người lãnh đạo trẻ tuổi của cuộc khởi nghĩa có lẽ đã đón chào bình minh trọng sự hài lòng về công việc hoàn hảo đã làm. Chính quyền mới đã được thiết lập về căn bản, mà hầu như không mất một sinh mạng nào […].

KM-Tiki sach dinh ti

Ông Hồ Chí Minh (mặc quần short) và ông Võ Nguyên Giáp (thắt cà vạt) cùng nhóm người của OSS. Nguồn Medic in the Green Time.

Hoà ước Potsdam lấy vĩ tuyến 16 làm đường ranh giới giữa chiến trường Trung Hoa với khu vực nằm dưới quyền kiểm soát của Bộ Chỉ huy quân Đồng minh tại Đông Nam Á. Đó là do yêu cầu thời chiến, đâu phải để vãn hồi hoà bình cho xứ Đông Dương. Tuy nhiên, vài tuần sau, các nhà lãnh đạo Đồng minh chợt thấy cần bổ nhiệm các viên tư lệnh để tiếp nhận quân Nhật đầu hàng ở hàng chục địa điểm, rải rác từ quần đảo Kurile ở phía Bắc tới Miến Điện ở phía Tây. Từ mồng 10 tháng 8 người Mỹ chủ động dự thảo “Đại quân lệnh số 1” nhằm sắp đặt việc Nhật đầu hàng. Dù người Mỹ sẵn lòng để nước Pháp khôi phục lại nền cai trị ở Đông Dương, đã không có ý đồ nào nhằm đặt xứ này dưới quyền Bộ Chỉ huy quân Đồng minh tại Đông Nam Á.

Quan chức Pháp đầu tiên quan tâm ngay đến quy mô mới về quyền lực của Trung Hoa chính là Jean Sainteny. Từ một biệt thự ở Côn Minh, ông này loay hoay chắp vá các nguồn vật lực xoàng xĩnh có trong tay nhằm lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Ngày 12 tháng 8, Sainteny điện về Paris, cấp báo rằng người Tàu phong toả hoạt động của biệt kích Pháp, gây trở ngại cho người của tướng Alessandri cùng vào giải phóng miền bắc Đông Dương. Hôm sau Sainteny đi xa hơn, phàn nàn với Paris rằng việc quân Tàu Tưởng sang chiếm đóng phần Đông Dương nằm trên vĩ tuyến 16 là “phương án tệ hại nhất trên đời”, rằng nó hạ thấp kinh khủng uy thến của “người da trắng ở Viễn Đông”. Ngoại trưởng Mỹ Byrnes bèn nhắn qua đại sứ của mình ở Paris với đồng nhiệm người Pháp, ông Bidault, rằng chuyện lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới đâu có gì quan trọng về chính trị. Người Mỹ cũng nghì rằng Trung Hoa và Anh quốc nên mời người Pháp sang dự lễ đầu hàng của Nhật ở Đông Dương.

Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, chính phủ Pháp thông báo đang nỗ lực giành cho được một thoả ước giữa Mỹ, Anh và Liên Xô, theo đó trách nhiệm của người Pháp tại xứ Đông Dương được mặc nhiên tái hiện, để rồi Đồng minh còn phải có trách nhiệm tái võ trang và vận chuyển quân Pháp trở lại thuộc địa này. Ngày 17 tháng 8, Bidault nhấn mạnh rằng Pháp sẽ tham gia vào bắt quân Nhật ở Đông Dương phải đầu hàng bằng lính tráng của tướng Alessandri ở nam Trung Hoa, 750 người của tướng Blaizot ở Ceylon, rồi hai sư đoàn nữa, do tướng Leclerc chỉ huy, người ngay từ tháng 6 đã được de Gaulle giao nhiệm vụ chiếm lại Đông Dương. Nhưng cú xù lông nhím này lại phản tác dụng: ngày 20 tháng 8 Alessandri được báo cho hiểu rằng chính phủ Trung Hoa đang ngăn cản lính của ông này quay lại Đông Dương (!) cho dù trước đó, ngày 11, tướng Hà Ứng Khâm tham mưu trưởng quân QDĐ vừa bảo với tướng Pháp lưu vong này rằng, gì rồi người Pháp cũng có phần. Alessandri bèn sang xin Wedemayer, tư lệnh Mỹ ở Trung Quốc nhả ra một phi đoàn Mỹ ở Trung Quốc nhả ra một phia đoàn Mỹ để đưa các đơn vị Pháp trở về Đông dương cho nó oai, nhưng được mời dùng một máy bay của Pháp. Tướng Wedemayer hiểu rằng Tưởng không bao giờ muốn quân Pháp đến nơi trước đại quân Tàu vàng mà đa số còn phải cuốc bộ lóc cóc tới Hà Nội hay Hải Phòng. Yêu cầu tái trang bị cho lính Pháp của Alesandri cũng bị các quan chức Mỹ làm ngơ. Cuối cùng người Pháp cũng moi đâu đó ra tiền mua ít vũ khí, quân trang và xe pháo do quân Tàu chôm được từ kho của người Mỹ.

Nếu quân Pháp đã không thể nhập cuộc chính quy và kịp thời, hãy còn một cách nữa là ném thẳng xuống Hà Nội một toán biệt kích để kiểm soát tình hình. Ngày 12, Sainteny điện cho Archimedes Patti, sĩ quan đặc trách Đông Dương của OSS (Cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ) tìm kiếm khả năng sang Hà Nội càng sớm càng tốt. Patty gợi ý rằng chỉ có thể xin phép cài Sainteny và vài trợ thủ vào đoàn bay mang mật danh “Merci”, có nhiệm vụ tìm kiến cứu trợ tù binh phe Đồng minh, bay chuyến sớm. tướng Wedemayer thoạt tiên từ chối, nhưng rồi cũng phải đồng ý để mấy người Pháp đi chuyến ngày 15. Rồi người Mỹ lấy cớ mưa, hoãn chuyến bay. Sainteny bèn mò ra được một cái Dakota của Pháp mới từ Ấn Độ sang, viên phi công nhất trí bay liều chết. Nhưng sáng sớm 17 ra tới sân bay, Sainteny và tuỳ tùng nhận thấy quân Tưởng chĩa súng ngăn cản mọi cuộc cất cánh. Cùng lúc, Hà Tổng tham mưu trưởng ra lệnh không cho quân Pháp tham gia chiếm đóng Đông Dương. Quả đắng này của người Pháp lại chín thêm bằng việc trung uý Blanchard, người theo lệnh Sainteny sang cho được Hà Nội bằng mọi phương tiện có trên đời, bị quân Nhật tóm ở Hải Phòng hôm 19.

Thực ra việc người Mỹ hoãn chuyến bay đâu phải do thời tiết, hay có ý chọc gây bánh xe như Sainteny tưởng, mà do tướng Mỹ Mac Arthur, người chịu trách nhiệm sắp xếp lịch đầu hàng với nhà chức trách Nhật, đã yêu cầu các tư lệnh chiến trường của Đồng minh hẵng khoan hành động, chờ tới khi các chỉ huy tại chỗ quân Nhật nhận được lệnh đầu hàng từ Tokyo đã. Đùng một cái, ngày 20, cấp phó của tướng Wedemayer lại đồng ý cho đội bay “Merci” lên đường nếu thời tiết cho phép.

Còn Patty lợi dụng việc hoãn chuyến bay để gặp đại diện của Việt Minh tại Côn Minh vào hôm 19. Vị đại diện Việt Nam thông báo cho Patty tin vừa nhận được qua điện đài sóng ngắn về các cuộc biểu tình ở Hà Nội ngày 17.

Trong khi Sainteny và Alesandri còn đang chầu chực ở Trung Hoa, Văn phòng điều nghiên của Pháp (DGER-Direction générale des études et recherches) ở Calcuta đã nhận chỉ thị của Bộ tư lệnh khu vực của quân Anh cho phép dùng đội bay đặc nhiệm B24 của không quân Hoàng gia bay liều chết sang Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Campuchia để thả dù các viên chức chính phủ Pháp. Mấy tháng trước có nhóm biệt kích Pháp sau khi dạt từ Trung kỳ sang Lào đã báo cáo một kinh nghiệm quý, là nên gài một người Mỹ vào nhóm làm bùa hộ mệnh để tránh bị các lực lượng cách mạng tại chỗ nện. Các nhóm của Sainteny hoạt động ở khu vực biên giới Trung Hoa đã tuân theo cách này.

Tối 22 tháng 8, Pierre Mesmer, theo thư uỷ nhiệm là “Cao uỷ Pháp ở Bắc kỳ”, sửa soạn nhảy xuống đỉnh Tam Đảo, cùng sĩ quan điện đài Marmont và đại uý quân y Brancourt, một cư dân ở Đông Dương thời trước thế chiến. Nhìn thấy Hà Nội hiền hoà hiện ra bên dưới, Mesmer giục viên phi công người Úc ném họ xuống Gia Lâm nhưng người lái này nhất định tuân thủ hành trình đã định. Vừa chạm đất, Mesmer còn kịp liên hệ bằng điện đài với Rangoon hai lần, trước khi bị một nhóm Việt Minh có vũ trang tống giam. Ông thầy thuốc chết vì bị nhiễm trùng, Mesmer và Marmont sau đó được quân Tàu vàng cứu thoát, mò về được Hà Nội vào cuối tháng 10.

Cùng đêm 22, Jean Cédile, “Cao uỷ của Cộng hoà Pháp ở Nam kỳ” cùng ba bạn đồng hành nhảy xuống cánh đồng lúa ở Tây Ninh, cách Sài Gòn 85 km về phía tây bắc. Cũng như Mesmer, Cédile được lệnh, càng sớm càng tốt, khôi phục chính quyền của Pháp. Họ bị vây bởi đám nông dân có lẽ là môn đồ đạo Cao Đài, những người chỉ chịu lui quân một khi trung đội quân Nhật vào cuộc. Bị lột trần và trói giật cánh khí, những người Pháp nhận thấy họ bị tra hỏi khốc liệt, rồi bị dong bộ về ban chỉ huy lữ đoàn. Một sĩ quan Nhật thử cân não Cédile bàng cách tuốt gươm trần, sửa soạn chặt cổ người tù, hắn nhe răng cười khi Cédile không muốn chuyện doạ dẫm kéo dài. Bị chất lên xe tải trong khi vẫn trần như nhộng, Cédile và các cấp dưới đã trình diễn một vở bi hài kịch khi bị giải qua các làng quê Việt Nam. Ở Sài Gòn, một đại tá Nhật nói tiếng Pháp nghe Cédile khai về chuyến đi tìm hiểu thực tế của mấy người Pháp một cách thông cảm, bắt trả lại quần áo cho họ rồi giam lỏng ở một nơi vốn là lớp học.

Xấu số nhất là đội biệt kích sáu người được thả xuống phía bắc thành phố Huế, với bốn người chết và hai vị khác bị tống giam tới mãi năm 1946.

Tóm lại chỉ còn độc một nơi để Jean Sainteny trình làng trong vai đại diện đầu tiên của mẫu quốc tại thuộc địa Đông Dương. Ngày 22 tháng 8, nỗi uất ức vì phải xin xỏ đi nhờ của Sainteny đã được báo đáp khi chiếc C47 Dakota theo mật lệnh “Merci” nói trên cất cánh, mang theo 13 thành viên OSS do A. Patti cầm đầu, cùng tốp theo đuôi năm người của Sainteny. Khi tới không phận Hà Nội, người Pháp nhận thấy đường phố biên dưới phủ hàng trăm chấm đỏ giống như những “bông hoa kỳ quái”. Khi được thanh sát gần hơn, chúng biến thành rừng cơ. Thấy rằng sân bay Bạch Mai cấm cửa, người lái bèn lượn sang phi trường Gia Lâm ở hữu ngạn sông Hồng. Họ cũng nhận thấy tàu bò và cao pháo chĩa nòng từ bên dưới, nhưng không thấy lửa khạc ra. Patti quyết định thả dù toán trinh sát bốn người. Họ đồng thanh báo hiệu hạ cánh an toàn, thay vì báo nguy, vì thế những người Pháp muốn tỏ ra quyết tử chả còn dịp nhảy liều xuống. Tàu bay còn đang phanh dúi dụi để đỗ thì đã có một đám đông lính Nhật tua tủa khí giới tới vây quanh. Một quân đội Nhật khác đang dàn ra chặn đường vài trăm tù binh Ấn Độ đang xổ ra từ một trại giam gấn đó. Suýt nữa thì đổ máu, may mà người Nhật thả cho trung uý tù binh Anh Simpson Jones tới chào đại diện Đồng minh, và mời đi gặp một thiếu tá Nhật ở toà nhà gần đó. Viên quan Nhật gợi ý nhóm người Pháp nên về lại xứ Tàu với chiếc Dakota. Đề xuất này trở nên có lý hơn khi một thành viên nhóm Sainteny bị quân Nhật tóm khi tìm cách lỉnh về Hà Nội. Sau khi Patti bảo lãnh cho người Pháp, cả bọn được mời ngồi chen chúc trên xe, vượt quãng đường ngắn qua cầu Long Biên về được đến Hà Nội.

Những người Mỹ và Pháp đều kinh ngạc nhận thấy thành phố không chỉ trang hoàng bằng cờ Việt Minh, mà trên các phố phường còn phấp phới cả những biểu ngữ bằng các thứ tiếng Anh, Việt, Pháp, Hoa, và cả tiếng Nga. Sau chặng dừng chân ngắn ở dinh Toàn quyền nơi quân Nhật vẫn gác, Sainteny nì nèo xin xuống đài phát thanh Bạch Mai mà không được, rồi cả cơ hội về tới khác sạn Métropole. Ở đây họ đụng phải một đám người Pháp rầm rĩ chào đón Sainteny, kể lể rằng bị bọn Nhật và bọn Annamít ngược đại và bức hại. Cùng lúc, một đám đông người Việt giận dữ tập hợp ngoài khách sạn, hô vang những khẩu hiệu chống đế quốc, và chỉ chịu lui trước hàng rào hiến binh Nhật dương lê tuốt trần. Lo xa rằng các khách trọ người Pháp khác tại Métropole có thể bị hại bởi sự có mặt của nhóm mình, cũng để mời bàn dân thiên hạ tới thưởng ngoạn bông hoa, ấy là quyền lực nhà nước bảo hộ, vừa chớm nở đã ngát hương, Sainteny xin người Nhật cho ở dinh Toàn quyền. Cứ tưởng là thành công, hoá ra lại cực kỳ xuẩn. Vì người Nhật được thể nhốt nhóm của Sainteny vào cái “cũi bằng vàng” này, còn dân tình Việt Nam thì thấy rõ người Pháp đang cố vặn ngược cái kim đồng hồ, đầu tiên là chiếm lấy công trình đặc trưng nhất cho quyền lực thực dân.

Cả người Pháp và người Mỹ đều nhanh chóng liên lạc bằng vô tuyến với thượng cấp. “Không khí chính trị ở Hà Nội kém hơn chúng ta tưởng nhiều…” Sainteny điện về Cục điều nghiên (DGER). Còn Patti điện về văn phòng OSS Côn Minh: “Việt Minh mạnh, đầy sức chiến đấu và quyết tâm chống Pháp. Tôi cho rằng nên cấm người Pháp tới đây, nhất là những ai mang súng ống”. Vì đề xuất của Patti hoàn toàn ngược với khuyến nghị của Sainteny là mau tăng cường lực lượng M5 (DGER Côn Minh) sang đây, quan hệ giữa hai vị này đã xấu đi nhanh chóng vào những ngày tiếp sau.

Sainteny bị hắt hủi bởi cả Việt Minh lẫn quân Nhật, nhất là vì chẳng có uỷ nhiệm gì của chính phủ Pháp lẫn tư lệnh chiến trưởng Trung Hoa. Trong khi đó, thiếu tá Patti bỗng thấy được các bên tiếp nhận như viên đại sứ lâm thời của Đồng minh, trong khi chờ đại diện cấp cao tới nơi. Khởi đầu cuộc gặp tướng Tsuchihashi sáng hôm 23, Patti tuyên bố sứ mạng của mình là xác định địa điểm và tình cảnh của tù bình Đồng minh, cũng như đóng vai trò trung gian xúc tiến quy trình đầu hàng của quân Nhật ở Đông Dương. Đi xa hơn, Patti nói quân Nhật phải chịu trách nhiệm về trị an công cộng cho tới ngày quân Đông minh “đổi gác”. Tuyên bố này làm các sĩ quan Nhật có mặt thấy chờn chợn. Cũng phải thôi, vì họ đã để mất Hà Nội về tay Việt Minh, và chắc chắn không lạ gì chuyện men say cách mạng đang dậy khắp các tỉnh.

Tại khách sạn, Patti quyết khẳng định đánh giá của mình về khả năng của Việt Minh qua tiếp xúc với hàng đoàn khách Việt Nam, khởi đầu là đại diện của uỷ Ban cách mạng lân thời Hà Nội, ông Lê Trọng Nghĩa. Làm cho hiện thực nghèo nàn đi ghê gớm, Patti cố thuyết phục Lê Trọng Nghĩa rằng nhóm của Sainteny chỉ có sứ mạng thăm nom các tù binh Pháp trong thành thôi, rằng các đơn vị Pháp không tham gia giải giáp, rằng Hoa Kỳ không cổ suý chế độ thuộc địa. Ngày 25 Patti gặp đoàn phóng viên Việt Nam, đứng đầu là Vũ Văn Minh, một thanh niên công giáo vốn phục trách về báo chí của phủ toàn quyền, nay làm chức trách tương tự cho Chính phủ lâm thời và Uỷ Ban Hà Nội. Trong hồi ký của mình, Patti viết rằng ông ta đã lưu ý cánh nhà báo rằng mình đâu phải là người đứng đầu một phái bộ Đồng minh, rằng Hoa Kỳ theo đuổi chính sách không can thiệp, cho dù thông cảm với nguyện vọng của người Việt Nam. Patti cũng được yêu cầu phải nhấn mạnh trong họp báo tiếp sau cuộc mít tinh, rằng: a) Người Pháp không đóng vai gì trong thảo luận giữa Mỹ và Nhật, b) Đồng Minh không giúp cho quân Pháp quay lại, c) Hoa Kỳ nhận thức rõ ràng rằng Việt Nam là một đất nước văn minh, “chứ không man di như ai đó vẫn nghĩ”, d) khi nào quân Đồng minh vào tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, công dân Việt Nam nên xuống đường biểu tình hoà bình vì độc lập. Người đọc những tin tức thế này cần được tha thứ vì đã trót tưởng rằng Hoa Kỳ chống lại việc Pháp quay lại Việt Nam, đồng thời ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Cả hai điều này lúc đó đều không đúng.

Patti rõ ràng đã bày tỏ thiện cảm và ủng hộ đối với nguyện vọng của người Việt nhiều hơn những gì mà thượng cấp của ông ta sẵn lòng san sẻ. Ông đã hành động như vậy vì cho rằng đây là điều Tổng thống Roosevelt mong muốn, cho dù về đại thể, vẫn biết rằng chính sách của Mỹ đã thay đổi kể từ tháng 4. OSS là do Roosevelt lập ra, và các thành viên biệt phái của nó thường tìm cách thực hiện chỉ thị trung ương một cách sáng tạo, tuỳ nơi chốn. Patti, chịu ấn tượng mạnh bởi những gì xảy ra ở Hà Nội, có vẻ đã cố để lại dấu ấn của mình trước khi các quan to tới nơi. Ngây ngất trong vai đại sứ nghiệp dư, Patti đã nói quá nhiều. Ngoài ra, vì người Việt quá ư mong mỏi sự công nhận của Hoa Kỳ, tai họ nghe thấy nhiều hơn những gì Patti nói. Điều này có lợi cho Việt Minh, lúc này đang cố phóng đại cả quan hệ của họ với Mỹ, lẫn những ý đồ từ thiện với chính phủ Hoa Kỳ. Ngay sau đó, vào cuối tháng tám 1945, đã hiện ra vết nứt về quan điểm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, hằn dấu ấn lên quan hệ giữa hai quốc gia trong các thập kỷ tiếp nối.

Quyết định làm cho Patti thấy phong trào của họ phổ cập và được tổ chức tốt đến mức nào, lãnh tụ Việt Nam tổ chức một cuộc na ná như diễu binh vào sáng chủ nhật, 26 tháng 8. Đoàn quân nhạc vốn là của Bảo an đoàn tập hợp ngay trên rìa toà nhà mà đội OSS (được giới thiệu với báo chí cũng như trên các biểu ngữ là “Phái đoàn hoà bình của phe Đồng minh) đang đóng. Võ Nguyên Giáp và ba đồng chí của mình đến thảo luận với Patti một chút, rồi mời ông này ra cổng trước để được “hoan nghênh”. Rất trọng thị về lễ tân, nghi lễ quốc tế này bắt đầu bằng việc lần lượt chào cờ các nước khối Đồng minh gồm Mỹ, Nga, Anh, Trung (thuộc Tưởng) (1), và Việt Nam, trong khi nhạc binh cử quốc thiều của từng nước. Tiếp theo là cuộc diễu binh, gồm cả bảo an binh cũ phiên chế thành một đơn vị của Quân Giải Phóng, rồi các đội tự vệ, rồi diễu hành của dân thường theo Việt Minh mang theo các biểu ngữ bằng tiến Anh, Nga, Hoa, (không có tiếng Pháp), và hô vang các khẩu hiệu yêu nước. Khi nói lời từ biệt với Patti, Giáp nói rằng ông sẽ nhớ mãi dịp này, khi “lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, quốc kỳ của chúng tôi tung bay trong một nghi thức quốc tế, và quốc ca của chúng tôi đã vang lên chào mừng khách nước ngoài”. Trả lời phỏng vấn của một nhà báo, Giáp viện dẫn nhận xét của Patti “nền độc lập của Việt nam đã là một thực tại, nay nó cần được củng cố”.

Càng bất lực trong việc cố gây ảnh hưởng đến tiến trình sự kiện, Sainteny càng cay cú với lời ăn tiếng nói của Patti. Vào ngày 23 tháng 8, nhóm Sainteny ở phù Toàn quyền được tốp lính thuỷ của Balnchart nhập vào, mang tin Hải Phòng đã về tay Việt Minh. Ngày hôm sau Sainteny cằn nhằn với Patti về một bài báo ở Hà Nội, mang đầu đề “Việt Minh chiến đấu bên cạnh bộ đội của Mỹ ở Bắc Bộ, sắp sửa về đây để đuổi cổ bọn Pháp tham tàn, đã làm 2 triệu đồng bào ta chết đói”, trong bài có nêu đích danh thiếu tá Alison Thomas. Patti đành phải điện về Côn Minh đề xuất việc rút các thành viên OSS khỏi các đơn vị Việt Minh lẫn các đơn vị của Pháp ở biên giới Trung Hoa – Đông Dương. Sainteny còn cố thuyết phục Patti nói với tướng Tsuchihashi cho vũ trang trở lại khoảng 1000 quân Pháp đề tuần phòng khu vực kế cận, nơi tập trung nhiều cư dân Pháp, nhưng vô vọng. Cùng kế, Sainteny thổ lộ rằng chính phủ Pháp sẽ cấp tín dụng tới 5 tỷ franc cho một danh sách có chọn lọc những người Mỹ nào định làm ăn ở Đông Dương, rồi dè dặt hỏi xem Patty có bình luận gì không.

Mọi sự trở nên rắc rối vào hôm 28, khi viên sĩ quan liên lạc người Nhật xòe cho Patti xem bức điện được xem là của Sainteny đánh đi Calcuta, bị trinh sát điện tử Nhật ở Sài Gòn bắt được, trong đó Sainteny than phiền “Phe đồng minh đang phối hợp để loại người Pháp ra khỏi Đông Dương”. Ngày hôm sau Sainteny còn đi xa hơn, cảnh báo với văn phòng DGER Calcuta rằng nước Pháp đã hoàn toàn mất mặt, do phải xin xỏ mọi thứ thông qua Patti, rằng cư sử của Đồng minh đã làm hại Pháp còn hơn cả Việt Minh. Những cú đánh dưới thắt lưng kiểu này cuối cùng sẽ làm Patti nốc ao, mở đầu là một bước điện hôm 30 tháng 8 của thượng cấp, theo đó Patti bị “cạo” về tội không giúp nhóm Sainteny (2).

Hồ Chí Minh và Sainteny tháng 6-1946

Các lãnh tụ Việt Minh ở Hà Nội dĩ nhiên rất khó xử về các thông tin bất nhất mà họ thu thập được về quan hệ Pháp – Mỹ. Kể từ ngày 26 trở đi, Hồ Chí Minh đã bắt đầu giúp được các đồng sự trẻ tuổi của ông nhận định tình hình. Ông về đến Hà Nội và cư trú bí mật ở một ngôi nhà trên phố Hàng Ngang. Cần nhớ rằng đây là lần đầu Hồ Chí Minh được ngắm Hà Nội, nhưng lại không hề có thời gian để suy ngẫm về việc ông sinh ra ở Nghệ An, đã lưu lạc hơn ba thập kỷ khắp hoàn cầu, kể cả việc những nơi xa như New York, để về được trung tâm chính trị và văn hoá của đất nước ông với tư cách là người đứng đầu nhà nước. Vào tối chủ nhật 26, Hồ Chí Minh còn mời cơm Patti, ngoài ra còn có Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Xuân (một trí thức của Việt Minh chịu trách nhiệm liên lạc với đoàn Patti), và có lẽ cả Nguyễn Khang. Sau bữa ăn, những người Việt trẻ tuổi lui gót, để Hồ Chí Minh và Patti nói chuyện riêng với nhau. Patti bị sốc bởi Cụ Hồ nom hốc hác hơn so với lần họ gặp nhau ở Côn Minh bốn tháng về trước, nhưng hoàn toàn bị chinh phục bởi cách cư xử thân tình, vẻ chân thành, nhãn quan chính trị tinh tế, và sự thông tỏ thời cuộc của Người. Lặp lại những câu mà Giáp đã chất vấn Patti vào sáng hôm đó, Hồ Chí Minh rất muốn biết vì đâu trưởng ngành tình báo Pháp ở Trung Hoa, Sainteny, lại tới được Hà Nội nhờ vào sự giúp đỡ ân cần của người Mỹ. Khi Patti đáp rằng nhóm Sainteny có nhiệm vụ chăm sóc các tù binh Pháp, Cụ Hồ tỏ vẻ hoài nghi, bảo rằng “đó có thể là mục tiêu của các anh (người Mỹ), chứ đâu phải là chủ đích của họ (người Pháp)”. Hồ Chí Minh cũng bày tỏ lo lắng tột bậc về việc Pháp cùng Anh và Trung Hoa lăm le xâu xé nền độc lập của Việt Nam. Ông thăm dò khả năng hỗ trợ từ phía Mỹ trong thời cuộc nước sôi lửa bỏng này, bởi vì người đứng đầu phái bộ đầu tiên của Đông minh đến Hà Nội chính là Patti, một người Mỹ, chứ đâu phải là một quan chức Trung Hoa. Patti xem ra chỉ dám hứa sẽ truyền đạt tức thời thông điệp của vị Chủ tịch tới cấp trên của mình. Ông ta cũng thề không hé răng về những trao đổi với Hồ Chí Minh cho người Pháp hay người Tàu biết.

Cho dù lúc đang ăn tối Hồ Chí Minh đã bác một cách lịch thiệp đề xuất của Patti rằng nên tổ chức một cuộc gặp mặt giữa Hồ Chí Minh và Sainteny, tới khuya ông lại sẵn lòng để Võ Nguyên Giáp gặp người Pháp này, nhưng Patti cũng cần tham dự. Cuộc đấu trí này được thu xếp ngay sáng hôm sau, với việc Sainteny chọn xa lông to nhất, lộng lẫy nhất phủ Toàn quyền cho cuộc tiếp khách chính thức này. Cho dù trong thâm tâm Sainteny coi Giáp là “một trong những thành quả rực rỡ nhất của nền văn hoá Pháp”, ông ta vẫn thấy cần diễn thuyết về những xúc cảm gây bởi sự thù địch của dân Anamít đối với người Pháp. Chính điều này, Sainteny khẳng định, đã dẫn tới việc phe Đồng minh dựa vào Trung Hoa và Anh để giải giáp quân Nhật chứ không nhờ cậy nước Pháp. Giáp cũng nói rõ ông không ưa việc quân Tàu vào nước mình. Khi ông Giáp kiên nhẫn yêu cầu làm rõ khái niệm “hợp tác giữa Pháp và Anamít” mà Sainteny kêu gọi trong giờ phút gian nan quyết liệt này, vị trùm tình báo Pháp chỉ đưa ra các khái niệm mập mờ. Danh đã không chính, vì chưa được Paris uỷ nhiệm để thương lượng bất cứ điều gì, nên ngôn của Sainteny cũng chẳng thuận […].

____________

* David Marr, Vietnam 1945: The Quest for Pewer, NXB University ofCalifornia Press, 1995.

(1) Tuy nhiên chú thích ảnh trang 487, Vietnam 1945… do Archimedes Patti cung cấp chỉ nói phái đoàn ông Giáp và những người Mỹ chào cờ của Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô.

(2) Số phận của các sĩ quan OSS “tiên phong” ở Đông Dương khó được xem là may mắn. Trung tá Peter Dewey, sau khi bị kịch liệt chỉ trích hành vi của người Pháp và thường xuyên gặp gỡ Việt Minh, đã bị một tay súng vô danh bắn chết hôm 26 tháng 9. Còn Patti thì sau khi chuẩn tướng Mỹ Phillipe Gallagher cố vấn cho Lư Hán sang tới nơi, liền nhận lệnh lập tức rời Đông Dương. Ông thiếu tá này sau đó được quân đội Mỹ đưa đi “tẩy não”… (Vietnam 1945… tr 545, 546).


Nguồn: Xưa & Nay, số 246, 10/2005, tr 9


*

Advertisements
KM-TIki-Hội sách online

Gửi phản hồi