Lincoln đã từng một thời “đỏ”?


Lincoln đã từng một thời “đỏ”?

Gillian Brockell

Lan Nhật Quang dịch


Marx-Lincoln

Vào trưa một ngày thứ Ba, tháng Mười Hai năm 1861, khi tổng thống Abraham Lincoln đọc thông điệp hàng năm lần đầu tiên – mà sau này trở thành Thông Điệp Liên bang đọc trước lưỡng viện. Ngày hôm sau, báo chí toàn quốc, kể cả ở Liên Minh Miền Nam Hoa Kỳ, đồng loạt xuất bản toàn văn bài nói 7.000 từ này. Đây là lần đầu tiên từ khi nhậm chức Lincoln có cơ hội để trình bày với công chúng dài đến thế. Ông đã công kích những “công dân không trung thành” nổi loạn chống lại Liên Hiệp, kêu gọi sức mạnh của quân đội, và cập nhật tình hình ngân sách với Quốc Hội.

Để cho bài nói gần gũi hơn, ông đã không chọn vấn đề về thống nhất hay tự do, mà là một bài luận trên báo Chicago Tribune có tựa là “Tư bản so với Lao động”. Ông nói: “Lao động là độc lập và có trước tư bản. Tư bản là thành quả của lao động , và không bao giờ có thể tồn tại nếu chưa có lao động xuất hiện trước. Lao động đứng trên tư bản, và xứng đáng để được đánh giá cao hơn.”

Khi đọc đến đây, nếu bạn thấy có gì đó giông giống với Karl Marx, thì cũng đừng quá ngạc nhiên, bởi vì Lincoln thời đó vẫn thường xuyên đọc Marx.

Dĩ nhiên, Lincoln không phải là cộng sản, người xã hội chủ nghĩa, và cũng không phải là người Marxist. Nhưng Lincoln với Marx là những người cùng thời và chỉ cách nhau 9 tuổi. Họ có nhiều bạn chung, đọc tác phẩm của nhau và thậm chí còn trao đổi thư từ vào năm 1865.

Khi Lincoln còn là một chàng luật sư trẻ tuổi và phục vụ duy chỉ một nhiệm kỳ ở Quốc Hội vào cuối những năm 1840, ông là bạn thân của Horace Greeley, một đảng viên đảng Whig và họ làm chung với nhau trong một thời gian ngắn. Sau này Greeley được biết đến nhiều hơn trong vai trò thành lập tờ New York Tribune, tờ báo chủ trương chuyển tải những lý tưởng và ý tưởng của đảng Cộng Hòa trong năm 1854.

Những lý tưởng và ý tưởng đó là gì? Theo John Nichols, tác giả của “The ‘S’ word: A short History of an American Tradition… Socialism”, thì đó là chống lại chủ nghĩa nô lệ, ủng hộ công nhân và đôi khi là chủ nghĩa xã hội công khai. Tờ New York Tribune đã bảo trợ cho việc cải cách, phân phối lại đất đai ở miền Tây Hoa Kỳ cho người nghèo và phóng thích nô lệ. Nichols viết: “Greeley hoan nghênh những người chống lại thành lập thị trường tự do vì lợi ích của tầng lớp công nhân, tầng lớp mà ông nhận thấy bao gồm cả những nô lệ bị áp bức ở miền Nam và những người lao động công nghiệp bị xuống cáp ở miền Bắc”.

Ở bên kia Đại Tây Dương, có một người khác đã kết nối số phận của những nô lệ và công nhân ăn lương: Marx. Với “tuyên ngôn đảng cộng sản” viết cùng với Friedrich Engels vào năm 1848, triết gia người Đức này phải tị nạn ở Luân Đôn sau thất bại cách mạng. Hàng trăm ngàn người Đức đã nhập cư vào Hoa Kỳ trong cùng thời gian đó, tham gia vào lực lượng lao động công nghiệp ở miền Bắc và gia nhập các nhóm chống chế độ nô lệ. Theo sử gia Robin Blackburn trong quyển sách của mình : “An Unfinishing Revolution: Karl Marx and Abrham Lincoln” thì Marx cũng đã một lần dự định hướng về phía Tây, đến Texas,

Marx rất quan tâm đến thảm cảnh của nô lệ ở Mỹ, tháng Giêng 1860, ông nói với Engels rằng có hai vấn đề chính đang diễn ra trên thế giới: “một bên là phong trào Nô Lệ ở Mỹ từ khi John Brown mất, và một bên là phong trào nông nô ở Nga”.

Ông ta đánh đồng các chủ nô ở miền Nam với các quý tộc ở Châu Âu, Blackburrn cho rằng việc chấp dứt chế độ nô lệ “sẽ không phá hủy chủ nghĩa tư bản, nhưng nó sẽ tạo nên điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức và nâng cao lao động, dù da trắng hay da đen”.

Marx cũng là bạn với Charles A. Dana, một người Mỹ xã hội chủ nghĩa thông thạo tiếng Đức, điều hành tờ New York Tribune. Năm 1852, Dana thuê Marx làm phóng viên ở Anh.

Trong suốt 10 năm tiếp theo, Marx đã viết gần 500 bài cho báo này. Nhiều bài của ông không có chữ ký nên dưới và được đặt chính thức ở trang đầu. Theo Nichols thì sau này Marx đã “tự do mượn lại” những bài viết trên New York Tribune để viết nên quyển “Tư bản”.

Cũng giống như nhiều người Cộng Hòa non trẻ khác, Lincoln là một “độc giả nồng nhiệt” của tờ New York Tribune. Điều này dẫn đến chắc chắn rằngLincoln thường xuyên đọc bài của Marx , vào những năm 1850.

New York Tribune
Ban biên tập của New York Tribune khoảng những năm 1850. Horace Greeley ngồi thứ ba từ bên trái. Charles A. Danna đứng chính giữa

Năm 1860, có hai nhân tố chính đã giúp thúc đẩy Lincoln, từ một luật sư và nghị sĩ đã thất bại trong chiến dịch tranh cử Thượng Viện trở thành ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa. Thứ nhất, là sự ủng hộ của các nhà cách mạng Đức trước đây giờ đã trở thành các nhân vật chủ chốt của đảng Cộng Hòa; và thứ hai là sự ủng hộ truyền thông của đảng: tờ New York Tribune.

Khi ông nhậm chức, quan hệ của ông với các nhà chủ nghĩa xã hội không dừng lại. Dana rời báo Tribune để trở thành tai mắt của Lincoln ở bộ Chiến Tranh, đi theo các cuộc hành quân và nói lại với Lincoln ông ta nghĩ gì về các tướng lĩnh. Một người lính làm việc trong phòng thông tin sau này viết lại rằng “Lincoln đã háo hức chờ đợi để có được bản báo cáo dài ngoằn của Dana”.

Và Greeley tiếp tục thúc giục Lincoln có một đường lối cứng rắn hơn chống lại chế độ nô lệ, biến cuộc nội chiến không chỉ để bảo vệ liên minh mà còn để bãi bỏ chế độ nô lệ. Marx cũng đã thực hiện những điều tương tự trên các trang báo của Tribune.

Năm 1863, họ đã có được những gì họ muốn khi Lincoln ban hành Tuyên ngôn giải phóng nô lệ.

Vào tháng Giêng năm 1865, thay mặt cho Hội Liên hiệp Lao động Quốc tế (Quốc Tế 1), đại diện cho những người cộng sản, xã hội chủ nghĩa, vô chính phủ và công đoàn, Marx viết thư cho Lincoln để “chúc mừng nhân dân Mỹ khi ông tái tranh cử”

Marx viết răng “một nhóm thiểu số 300 ngàn chủ nô” đã làm ô uế nền cộng hòa và do đó “tầng lớp lao động châu Âu cản thấy chắc chắn rằng, vì cuộc chiến giành độc lập của Hoa Kỳ đã mở đầu một thời kỳ mới cho tầng lớp trung lưu, và giờ đây cuộc chiến chống lại chế độ nô lệ là dành cho tầng lớp lao động”.

Vài tuần sau, hồi âm được gửi qua Charles Francis Adams – con trai của cựu tổng thống John Quincy Adams, cháu trai của cựu tổng thống John Adams và đại sứ Hoa Kỳ tại Anh dưới thời Lincoln.

Ông chuyển lời đến Marx rằng Lincoln đã nhận được thư và ông chấp nhận với một mong muốn chân thành và ấy náy rằng ông không xứng đáng với sự tín nhiệm của đồng bào mình và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới.”

Đang chú ý, Adams bày tỏ rằng Lincoln xem Marx và các đồng sự là “bằng hữu”.

Ông tiếp tục nói rằng “Liên bang có được sự khuyến khích mới để kiên trì bền bỉ từ những lời của tầng lớp lao động châu Âu”

Cả hai bức thư được đăng khắp trên các báo ở Anh và Mỹ. Năm 1864, Lincoln đã gặp gỡ chi bộ của Hội Liên Hiệp lao Động  Quốc Tế ở New York, trình bày rằng: “Bên cạnh quan hệ gia đình, điều gắn kết mạnh mẽ giữa những tấm lòng chính là sự gắn kết làm một của tất cả các người lao động, ở tất cả các quốc gia, ngôn ngữ…”. Đây có lẽ là phiên bản hào hùng khác của câu khẩu hiệu nổi tiếng của Marx: “Vô sản thế giới, đoàn kết lại!”.

Lincoln không bao giờ khoác lên chiếc áo xã hội chủ nghĩa. Ông tin vào hệ thống tiền lương ngay cả khi ông đề xuất phải cải cách nó; trong khi Marx không chấp nhận nó vì Marx xem đó là một hình thức khác của chế đọ nô lệ. Những chắc chắn rằng Licoln đã từng xem các nhà xã hội chủ nghĩa là đồng minh, và Nichols cho rằng: “Không thể chối cãi rằng Đảng Cộng Hòa đã mang trên mình một vết đỏ”

Mặc dù sự thật này giờ đây ít được biết đến, nhưng đó không phải là điều gì bí mật với các nhân vật khác trong lịch sử Hoa Kỳ. Vào năm 1908, khi Eugene V. Debs (nhà hùng biện xã hội chủ nghĩa và ứng cử viên tổng ) thực hiện một chiến dịch ở Springfield, ông đã nói trước đám đông rằng: đảng Cộng hòa đã từng “đỏ”, Lincoln là một người làm cách mạng”

Tháng hai 1968, tại một lễ kỷ niệm của W.E.B. Du Bois tại Carnegie Hall, Mục sư Martin Luther King cũng đã nói: “đáng ghi nhận rằng Abraham Lincoln đã nhiệt liệt hoan nghênh ủng hộ của Karl Marx trong cuộc nội chiến, và tự do trao đổi với ông… Việc chống chủ nghĩa cộng sản đến mức phi lý đã dẫn chúng ta sa lầy mà quên đi đó còn là một tư duy khoa học”


Nguồn: Washington Post


*

để lại phản hồi