Đô thị cổ Việt Nam và đô thị Tây Âu trung đại


Đô thị cổ Việt Nam và đô thị Tây Âu trung đại

Nga Truong


Đô thị là một trong những yếu tố quan trọng đối với mỗi quốc gia. Một nước dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều được hiểu hiện đậm nét qua bộ mặt của đô thị. Ở Việt Nam, thế kỷ 17-18 là thời kị hưng khởi và phát triển nở rộ của hàng loạt đô thị.

Đô thị cổ Việt Nam và đô thị Tâu Âu trung đại có sự cách biệt rất khác nhauĐô thị cổ Việt Nam chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của nhà nước phong kiến và cộng đồng kinh tế làng xã. Trước tiên có thể thấy đô thị Việt Nam thế kỷ 17-18 mang nhiều dáng vẻ, cung bậc khác nhau. Có đô thị nặng về tính chất chính trị như Huế, có đô thị nặng về kinh tế như Hội An, Phố Hiến, nhưng cũng có loại trung dung, vừa mang tính chất chính trị lại vừa có giao thương nhộn nhịp, sầm uất

Đô thị cổ Việt Nam và đô thị Tây Âu trung đại - Ảnh 1

Trong mọi hoạt động kinh tế như Thăng Long – Kẻ Chợ. Song, tất cả đều phải chịu sự chi phối ràng buộc theo những chính sách của nhà nước phong kiến. Điều đó hoàn toàn khác với các đô thị Tây Âu thời trung đại – đó là những thành thị có xu hướng độc lập hoặc tự trị, tách biệt khỏi sự ràng buộc của lãnh chúa phong kiến, thậm chí một số thành thị ở Ý đã có cấu trúc như một quốc gia. Tại sao lại có sự khác biệt này, chúng ta hãy xét từ góc độ kinh tế và tầng lớp thị dân.

Ở Tây Âu, thành phần thị dân cơ bản là thợ thủ công và thương nhân. Thợ thủ công trong các thành thị Tây Âuhoàn toàn thoát ly khỏi nông nghiệp, phân công lao động lần thứ nhất (giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp) diễn ra rạch ròi. Ở đó, người thợ thủ công không phải bận tâm lo lắng đến nông nghiệp và mùa vụ, họ có thể toàn tâm toàn ý tự do phát triển tài năng, đào sâu trong lĩnh vực chuyên môn cho mình. Khi thủ công nghiệp phát triển, kéo thương nghiệp phát triển theo. Nhưng sự phát triển của công thương nghiệp lại ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi của các tầng lớp quý tộc và các lãnh chúa phong kiến – những người nắm quyền hành chính, nhưng biểu hiện cho một tầng lớp xã hội có tư tưởng bảo thủ kỳ cựu.

Họ muốn duy trì chế độ hiện hành mà họ đang nắm giữ, điều đó cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ những quyền lợi sát sườn của chính họ. Khác với tầng lớp phong kiến thủ cựu, tầng lớp thợ thủ công va thương nhân là hiện thân của những tư tưởng cấp tiến canh tân và ưa cải cách, họ chính là tiền thân của giai cấp tư sản châu Âu sau này. Bởi vậy, họ cũng chẳng hứng thú gì với chế độ lãnh chúa – nông nô, luôn cản trở tới sự phát triển của họ. Khi đã nảy sinh mâu thuẫn về ý thức hệ, đặc biệt mâu thuẫn đó lại ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cả hai bên, sẽ bắt đầu nhưng tấn bi kịch của lịch sử. Kết quả là thị dân đoàn kết lại chống lãnh chúa phong kiến, những thành tích của sự đấu tranh đó đã đem lại sự tự trị cho các thành phố.

Đối với Việt Nam, thành phần thị dân trong các đô thị là một lực lượng không thuần nhất. Thị dân ngoài thợ thủ công và thương nhân còn có đông đảo tầng lớp quan lại, nho sĩ. Họ có ưu thế và vai trò rất lớn trong đời sống chính trị của cư dân. Vì vậy, đô thị Việt Nam thường có xu hướng quan liêu hóa, cũng có người còn cho rằng thành thị Việt Nam là thành thị quan liêu, là thần dân – tức đô thị cổ Việt Nam không là địa giới riêng của phong kiến hay bất cứ một giai tầng xã hội nào mà là hỗn dung của nhiều đẳng cấp khác nhau trong xã hội, từ tiện dân cho đến quan lại, vua chúa, trong đó giới nho sĩ và quý tộc có vai trò chủ đạo, tất nhiên họ la tầng lớp xã hội được trọng vọng và được xếp vào hàng danh giá.

Khác với thợ thủ công phương Tây mang tính chuyên môn hóa cao, tầng lớp thợ thủ công Việt Nam không hoàn toàn tách ly khỏi nông nghiệp. Có thể thấy đa số thợ thủ công Việt Nam xuất thân từ nông thôn. Nhiều phường nghề, phố nghề ở Thăng Long được bắt đầu từ một số thợ thủ công trong các làng nghề ở nông thôn di cư lên đô thị lập thương điếm, cửa hiệu làm ăn, dần dà hình thành những phường nghề, phố nghề nơi kinh thành. Tuy sống và làm việc tại thành thị nhưng họ vẫn có quan hệ mật thiết với nông thôn, nhiều người còn kiêm cả sản xuất nông nghiệp, điều này cũng không mấy khó hiểu vì cho đến lúc đó, tôn ty đẳng cấp trật tự xã hội vẫn được xếp theo thứ bậc: sĩ, nông rồi mới đến công, thương. Do phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp diễn ra chưa triệt để, tính chất lưỡng hợp trong sản xuất vẫn tồn tại, nên quy định về tính chất thủ công nghiệp Việt Nam không mang tính chuyên môn hóa cao.

Đô thị cổ Việt Nam và đô thị Tây Âu trung đại - Ảnh 2

Điều đó cắt nghĩa cho việc đô thị Việt Nam hồi thế kỷ 17-18 dù phát triển hưng thịnh nhưng kết cục cũng chỉ có những phường thủ công chuyên nghề mà chưa thể đạt được mức độ chuyên một mặt hàng như ở Tây Ây trung đại.Thành thị Tây Âu trung đại dường như là khu cư trú biệt lập riêng rẽ của thợ thủ công và thương nhân, trong khi đô thị Việt Nam lại có phần linh động hơn, có sự hòa đồng giữa thành thị và nông thôn. Nếu đô thị phương Tây nặng về tổ chức phòng thủ bởi những vòng thành được xây dựng kiên cố thì đô thị cổ Việt Nam mang sắc thái mở, yếu tố thành rõ ràng không nặng về biệt lập. Khu thị (hành chính quan liêu) và khu dân gian (khu dân cư, phố nghề, phường nghề..) không có ranh giới rõ ràng, cụ thể. Bởi vậy, trong thị có nông thôn, nông thôn cũng chịu sự ảnh hưởng tác động theo đô thị. Đó là biểu hiện của sự cân bằng giữa thành thị và nông thôn.

Đô thị Việt Nam thế kỷ 17-18 phản ánh đúng cơ sở kinh tế xã hội Việt Nam đương thời, với nền kinh tế tiểu nông kém phát triển, thủ công nghiệp không tạo được bước phát triển vượt trội để trở thành các công trường thủ công, thương nghiệp chưa vượt ra khỏi phạm vi quốc gia để vươn tới những vùng đất mới lạ. Từ cơ sở kinh tế như vậy mà mức độ phân hóa giàu nghèo trong tầng lớp thị dân diễn ra không gay gắt. Thị dân trở thành những phú thương giàu có thực sự rất ít. Ngoài ra còn có sự “giao lưu đẳng cấp’’ giữa một số thương nhân giàu có với tầng lớp quan liêu. Những điều này lý giải tại sao ở Việt Nam không có hiện tượng “đánh bật” người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất để rồi vô sản hóa họ.

Đối với phương Tây, mức độ phân hóa giàu nghèo diễn ra mạnh mẽ, từ tầng lớp thị dân xuất hiện một số người hết sức giàu có, nằm trong tay phần lớn tư liệu sản xuất, họ chính là những tầng lớp quý tộc mới mà sau này khi tư tưởng cũng như cơ sở kinh tế của họ phát triển lên một tầm cao mới thì người ta bắt đầu gọi họ bằng một cái tên hoàn toàn hiện đại, đó là các ông chủ tư bản. Quá trình phân hóa mạnh mẽ giữa hai thái cực giàu và nghèo vô hình trung đẩy một bộ phận không nhỏ thị dân thành những người nghèo (vô sản), trong tay không có tư liệu sản xuất. Để sinh tồn, họ buộc phải làm thuê cho các ông chủ tư bản. Từ đó quan hệ kinh tế tư bản bắt đầu hình thành và ngày càng biểu hiện sâu sắc.

Nhìn chung, thế kỷ 17-18 là thời kỳ đô thị ở Việt Nam có bước phát triển hưng khởi nở rộ so với những thế kỷ trước, nhưng qua sự đối chiếu so sánh trên một số nét cơ bản ở góc độ kinh tế xã /lộ/với các đô thị Tây Âu trung đại, rõ ràng sự phát triển cũng chỉ dừng ở mức độ biến đổi của những yếu tố cũ trước đó, mà chưa thể tạo ra một cuộc biến cải để đi vào quỹ đạo của kinh tế tư bản như Tây Âu. Nếu không kể tới đời sống cung đình Nhật Bản, cũng như nhiều nước châu Á khác lúc đó, đô thị Việt Nam thế kỷ 17-18 vẫn chỉ dừng lại ở những đô thị phong kiến mà không trở thành các “đô thị tư bản”.


Nguồn: Trang Sử Vàng


*

để lại phản hồi