Tư liệu

Chuyện học hành ngày xưa (kỳ 1)


Chuyện học hành ngày xưa (kỳ 1)

Lê Nguyễn

Dịch giả Cuộc Nổi Dậy Của Nhà Tây Sơn


Sau thời kỳ đầu lập quốc, nước ta chìm đắm trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc đầy tăm tối (111 trước CN – 938 CN). Đó là chặng đường mất nước dài nhất, chỉ những dân tộc có một bản chất bất khuất, một lòng kiên trì kỳ diệu mới không bị đồng hóa, vẫn bảo tồn được sự độc lập của mình. Do những biến động lịch sử, nền văn hóa nước ta (trong đó có việc học hành và thi cử) mới thật sự bắt đầu kể từ thế kỷ X, XI thời nhà Lý.

học hành ngày xưa

Trường học đầu tiên của Việt Nam mở vào năm 1076 đời vua Lý Nhân Tông, với tên Quốc Tử Giám, là loại trường công duy nhất mở tại kinh đô dành cho con cái quan lại triều đình. Từ ấy về sau, danh xưng tuy có thay đổi, khi thì “nhà Thái học” (1483), khi thì “nhà Quốc học” (1803) nhưng mục đích và chức năng của loại trường công này cũng chỉ nhằm đào tạo con cháu giai cấp quyền quý ở kinh đô, thảng hoặc con cháu thường dân học hành xuất sắc cũng được cho vào học (nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt).
Trong lúc các bậc hiển nho có thể bước thấp bước cao trên hoạn lộ gập ghềnh, thấp cũng Tri huyện, cao có thể đến Tổng đốc, Thượng thư, thì công việc dìu dắt thế hệ con cái thường dân được mặc nhiên dành cho các bậc ẩn nho là những người có tài, đỗ đạt nhưng không chịu ra làm quan, chỉ thích sống ẩn dật, và hạng hàn nho là những người tương đối có tài nhưng năm lần bảy lượt lều chõng đi thi vẫn không gặp vận may, đành lấy nghề dạy học làm kế sinh nhai (Dương Quảng Hàm – Việt Nam văn học sử yếu – Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục – Sài Gòn 1968 – trang 80).
Nếu nhà thầy tương đối khang trang, có sân trước, sân sau, có bể cá, ao bèo thì nhà thầy sẽ kiêm luôn nhà học. Nhưng nếu nhà thầy chật hẹp quá, vợ thầy thuộc dạng phụ nữ “lặn lội bờ ao” thì thầy sẽ quảy một gánh sách Thánh hiền đến nương náu ở một nhà điền chủ hay một phú hộ nào đó để vừa dạy dỗ đám quý tử của chủ nhà, vừa kết nạp thêm học trò từ làng trên xóm dưới. Nhưng dù điều kiện nào, trong cái nhìn của xã hội xưa, các thầy đồ vẫn luôn là một tầng lớp được kính nể, trọng vọng, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” hay “ không thầy đố mày làm nên”…
Ở thôn quê, khi trẻ em được 6,7 tuổi, các bậc cha mẹ dẫn chúng đến xin thầy cho thụ giáo để có được dăm bảy chữ Thánh hiền. Thầy hỏi ý kiến gia chủ và thông thường chủ nhà ưng thuận luôn, coi đây cũng là một vinh dự cho nhà mình. Thế là lễ nhập môn được tổ chức vào một ngày lành tháng tốt với mâm xôi, con gà, be rượu… Trong cái ngày trọng đại đó, cha mẹ cậu bé được mời ở lại nhâm nhi cùng thầy và gia chủ, nhân tiện bàn về tướng mạo, tuổi tác, tính tình tương lai của cậu học trò mới (Nguyễn Duy Diễn – Việc học và việc thi chữ nho ngày trước – Nguyệt san Gió Mới số 6, 7 – tháng 9 & 10/1961).
Thực hành đúng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” trong những tháng đầu tiên, cậu học trò chỉ được dạy chủ yếu cách khoanh tay, cúi đầu, chào hỏi, bẩm thưa… cho đúng lễ phép, đồng thời làm những việc vặt: quét sân, quét lớp, mài mực cho thầy… Những sai sót trong cung cách ăn ở, cư xử đã được hướng dẫn phải trả giá bằng các trận đòn roi mây tím thịt. Sau giai đoạn học lễ, học trò mới được học chữ thánh hiền. Trong trường lớp, chỗ ngồi của thầy là một chiếc giường trải chiếu hoa, trên có đầy đủ những tiện nghi thời thượng: tráp, bút, nghiên, điếu… Học trò ngồi trên những chiếc phản kê sát nhau, đối diện với thầy.Tuổi tác học trò rất chênh lệch nhau: từ cậu bé tóc còn để chỏm đến anh chàng có vợ, chuẩn bị thi Hương, tất cả tập trung trong một lớp, thầy hết giảng cho nhóm này thì quay sang giảng cho nhóm kia. Ở những lớp học đông, thầy chỉ định hai anh trưởng trường để giúp thầy coi sóc mọi việc. Anh trưởng trường nội lo những công việc trong phạm vi trường lớp, thay thầy giải quyết công việc chung. Anh trưởng trường ngoại lo những việc từ cổng trường trở ra, gặp những việc rắc rối thì anh bàn với anh trưởng trường nội để cùng giải quyết.
Giờ học trong ngày thời xưa cũng khác bây giờ nhiều lắm. Sáng sớm, khoảng 6 giờ, học trò lục đục đến nhà thầy để trả bài, xong rồi mới về ăn cơm sáng và trở lại học vào khoảng 9 giờ, học một mạch đến 3 giờ chiều mới nghỉ. Số ngày học trong tuần là 7/7, không nghỉ thứ năm, chủ nhật hay ngày lễ như bây giờ. Thời gian nghỉ dài hạn trong năm cũng khác. Nhằm tạo điều kiện cho học trò có thể giúp đỡ cha mẹ trong cao điểm của việc đồng áng, hàng năm có ba kỳ nghỉ dài gọi là ba cái tết: Tết Đoan ngọ, nghỉ khoảng hơn một tháng để học trò phụ giúp cha mẹ gặt lúa, Tết cơm mới vào tháng 10, nghỉ khoảng một tháng cho vụ gặt và Tết Nguyên đán nghỉ khoảng hai tháng.
Việc đền đáp công sức thầy dạy được thể hiện dưới hai hình thức:
-Tiền học phí: Mỗi năm nộp cho thầy làm một hay hai lần, tất cả khoảng 4 quan tiền. Riêng chủ nhà (nơi thầy ăn ở để dạy học) thì mỗi năm may cho thầy 2 quần, 2 áo dài, ba áo cộc.
-Tiền tết thầy vào các kỳ nghỉ: tùy hảo tâm của cha mẹ học trò để thầy có chút tiền mua sắm và về quê thăm nhà. Thuở ấy, các học trò lớn thường kính cẩn tiễn chân thầy về, có trường hợp đưa thầy bình yên về đến quê nhà rồi học trò mới xin phép quay trở lại.
Ngoài hai khoản tiền trên, còn có một khoản đóng góp bất thường mà bản thân thầy cũng như thân nhân thầy đều không muốn thu nhận. Đó là “tiền đồng môn” đóng trong trường hợp cha mẹ thầy, vợ thầy hay chính thầy chết. Lúc đó, anh Trưởng trường nội sẽ căn cứ vào danh sách tất cả học trò (từ lớp đầu tiên) và tùy vào hoàn cảnh mỗi người mà định khoảnđóng góp. Những học trò cũ của thầy dù đang làm quan to cỡ Tổng đốc, Tuần phủ, cũng không thoát ra ngoài bảng danh sách do anh Trưởng trường nội lập. Danh sách lập xong, được giao cho anh Trưởng trường ngoại thi hành. Ngày xưa hành vi trốn thuế Triều đình còn được dư luận châm chước chứ hành vi trốn đóng góp tiền đồng môn bị coi là một vi phạm luân lý nặng nề, một hình thức vong ân bội nghĩa không thể tha thứ được!
Thời vua Minh Mạng (1820 -1841), có những năm bị mất mùa hoặc ở những địa phương nghèo, sự chăm sóc của cha mẹ học sinh cho thầy dạy không được chu đáo. Triều đình phải chuẩn cho các địa phương trích ruộng công đặt làm “ruộng hương học” để dành nuôi thầy dạy các em trong làng. Sự quan tâm của triều đình, sự kính trọng, chăm sóc chu đáo của dân làng đối với thầy dạy là cả một niềm an ủi và tự hào dành cho tầng lớp sĩ phu đem sở học và cái đạo làm người truyền cho đời sau.
Về chương trình học, trong hơn một thiên niên kỷ, hầu như hai bộ sách căn bản mà thầy phải dốc công dạy và trò phải dốc tâm học là Tứ thư và Ngũ kinh. Tứ thư gồm 4 quyển: Đại Học, Luận Ngữ, Trung Dung, Mạnh Tử, chủ yếu ghi lại những lời nói, những câu trao đổi với người đồng thời, những lời khuyên dạy học trò của Khổng Tử (kèm theo những lời giảng giải của các môn sinh xuất sắc của ông). Còn Ngũ kinh gồm có Kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu cũng là những công trình sưu tập hoặc san định của Khổng Tử dành cho đời sau (Nguyễn Duy Diễn – bđd; – Paul Cordier – Notions d’Administration Indochinoise – Hanoi 1911 – trang 160)

Đọc tiếp kỳ 2: <LINK>


Nguồn: FB Lê Nguyễn


*

KM-tiki 99 sale

Categories: Tư liệu

Tagged as: ,

Gửi phản hồi