Chuyện học hành ngày xưa (kỳ 2)


Chuyện học hành ngày xưa (kỳ 2)

Lê Nguyễn

Dịch giả Cuộc Nổi Dậy Của Nhà Tây Sơn

Xem lại kỳ 1: <LINK>


Hoc hành ngay xua

Sau một thời gian rút kinh nghiệm về việc dạy học không thấy sách sử ghi rõ vào năm nào – cổ nhân đã soạn ra một số sách giáo khoa cho học trò mới nhập môn học trước khi vào hai bộ sách lớn kể trên. Đó là các sách sau:

* Nhất Thiên Tự: gọi là “một nghìn chữ” nhưng thực ra có đến 1.015 câu, toàn lục bát, mỗi chữ Hán đều có kèm theo nghĩa bằng chữ Nôm:
Thiên trời, Địa đất, Vân mây
Vũ mưa, Phong gió, Trú ngày, Dạ đêm….
* Tam Thiên Tự: Sách có tất cả 3.000 chữ, từng cặp chữ kế tiếp nhau và bắt vần cho nhau: Thiên trời, Địa đất, Cử cất, Tồn còn, Tử con, Tôn cháu, Lục sáu, Tam ba, Gia nhà, Quốc nước, Tiền trước, Hậu sau …
* Ngũ Thiên Tự: có 5.000 chữ, cũng ghép theo thể lục bát như Nhất thiên tự nhưng ghép riêng từng đề mục như: thiên văn, địa lý, quốc chính, luân thường…
* Sơ học vấn tân: tóm tắt lịch sử Trung Quốc, lịch sử nước Nam và cách xử thế.
* Ấu học ngũ ngôn thi: Nói về lạc thú của việc học, mơ ước đỗ đạt của người học trò.
Phương pháp sư phạm thời ấy không đi dần từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp mà ngay từ đầu, học trò đã gặp những bài hóc búa bởi vì mục đích quan trọng của việc dạy học khi xưa là truyền đạt cho học trò đạo nghĩa, cương thường theo đúng câu “tiên học lễ, hậu học văn”.
Về văn bài để luyện thí có thơ phú, kinh nghĩa (bài văn giải thích một câu trích trong kinh truyện) văn sách (bài văn trả lời những câu hỏi ở đầu đề bài để tỏ rõ kiến thức của mình), chiếu (lời vua ban bố hiệu lệnh cho thần dân), chế (lời vua phong thưởng công thần), biểu (bài văn của thần dân dâng lên vua). Trừ thi, phú thông dụng trong sinh hoạt hàng ngày, các loại văn khác chỉ dùng trong kỳ thi (Dương Quảng Hàm – Việt Nam văn học sử yếu)
Vào thời nhà Nguyễn, mỗi địa phương có một chức quan coi về giáo dục: Cấp Tỉnh có Đốc học, cấp Đạo (tỉnh nhỏ) có Điển học, cấp Phủ có Giáo thụ (Cao Bá Quát từng làm Giáo thụ Phủ Quốc Oai – Sơn Tây) và cấp Huyện có Huấn đạo. Các vị này có nhiệm vụ coi sóc việc dạy học ở các làng xã và tổ chức các cuộc sát hạch chuẩn bị cho kỳ thi Hương.
Để luyện cho học trò quen với văn bài, thường một năm trước kỳ thi Hương, quan Đốc học ra đầu bài hàng tháng, cho niêm yết ở dinh Đốc học. Học trò đến nơi chép lấy đề bài về nhà làm và khoảng nửa tháng sau mang lên nộp. Đến cuối tháng, quan Đốc học cùng các vị khoa bảng có tiếng trong tỉnh họp nhau chấm bài và tổ chức buổi bình văn. Học trò trong tỉnh lũ lượt kéo về dự. Những bài văn hay được đọc lên toàn bài hoặc trích đoạn, nêu tên tuổi, quê quán tác giả. Ai được xướng danh và bình văn sẽ rất hãnh diện với bạn bè và xóm làng. Loại hình sinh hoạt này tạo không khí sôi nổi trong học tập và kích thích học trò rất nhiều trong việc cố gắng đèn sách.
Các buổi bình văn không chỉ được tổ chức dưới triều Nguyễn mà đã định hình từ thời Lê –Trịnh. Trong tác phẩm Vũ Trung Tùy Bút, danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) có bài viết “Cuộc bình văn trong nhà Giám”, kể lại một buổi bình văn diễn ra tại trường Quốc tử giám, Hà Nội, với sự chủ trì và tham dự của các quan Tham tụng, Bồi tụng thuộc phủ chúa Trịnh, quan Tri Quốc tử giám (Hiệu trưởng) và đông đảo học trò tại kinh đô (Phạm Đình Hổ – Vũ Trung Tùy Bút – Bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến – NXB Trẻ 1989 – trang 81- 82)
Mỗi năm một lần, quan đầu tỉnh (Tổng đốc hoặc Tuần phủ) và quan Đốc học tổ chức tại tỉnh một kỳ thi gọi là Khảo khóa với số đề bài giới hạn gồm: thi, phú, văn sách. Những người đậu kỳ thi này được gọi là “thầy Khóa” và được miễm làm công tác phu đài, tạp dịch trong một năm. Quan trọng hơn cả đối với học trò là kỳ Tỉnh hạch mở khoảng 4, 5 tháng trước kỳ thi Hương. Chỉ những người thi đỗ trong kỳ thi này mới được quan Đốc học lập danh sách và gởi về bộ Lễ để bộ này phân phối đi các trường thi. Những người đậu đầu trong kỳ thi Tỉnh hạch được gọi là “Đầu xứ” (Paul Cordier – sđd – trang 160-161 – xem thêm truyện “Báo oán” trong tập “Vang Bóng Một Thời” của nhà văn Nguyễn Tuân)
Xem như thế, ta thấy trong cái học ngày xưa, phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” và tinh thần tôn sư trọng đạo được đề cao và thực hiện triệt để. Bên cạnh đó, ta cũng dễ nhận ra những mặt lạc hậu của nền học vấn từ chương khoa cử đang cần chỉnh đốn, đổi mới. Triều đình nhà Nguyễn cũng thấy điều đó. Tháng 1 AL năm 1824 nhân lúc bàn luận với quần thần về việc học, vua Minh Mạng có nói: “… Văn cử nghiệp chỉ câu nệ lối hủ lậu mà khoe với nhau, mỗi nhà lập riêng mỗi cách học, cao hay thấp, khoa trường lấy hay bỏ đều theo nề nếp ấy, vì lối học như thế nên nhân tài ngày càng kém dần đi. Nhưng thói quen đã lâu, đổi ngay cũng khó, vài năm sau sẽ lần lần đổi lại…” (Minh Mạng Chính Yếu – tập III NXB Thuận Hóa – Huế 1994, tr.81)
Tháng 8 AL năm 1835, triều đình nhà Nguyễn đã cho lựa những người trẻ tuổi, lanh lợi, thông minh cấp lương tiền cho học “tiếng các nước xa gần”, để xét dùng về sau. Đến tháng 6 năm sau thì “định ra chương trình dạy học trò ở quán Tứ Dịch, học tập văn tự ngoại quốc. Mấy tháng đầu thời học chữ Tây, mỗi ngày 2 – 3 chữ Xiêm mỗi ngày 7- 8 chữ; đến năm tháng sau, mỗi ngày học chữ Tây 6 – 7 chữ, chữ Xiêm mỗi ngày 11 – 12 chữ…” (Quốc Triều Sử Toát Yếu – NXB Văn Học – Hà Nội 2002, tr. 259-260). Song song với việc học ngoại ngữ, vào thời kỳ này, những môn toán pháp, đo lường, địa lý… cũng bắt đầu được dạy xen vào chương trình học cũ.
Khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ, họ nhận thấy sự quảng bá đường lối, chính sách cho dân thuộc địa bằng chữ Hán là một việc khó khăn, vì tầng lớp cai trị (quan lại Pháp) và tầng lớp bị trị (dân nghèo) đều không rành chữ Hán. Ngay từ năm 1863, Pháp đã ban hành quyết định số 44 ngày 31.3.1863 qui định việc học tại Nam Kỳ, theo đó vẫn giữ lại các chức quan Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo, nhưng đưa thêm vào chương trình học tiếng Việt viết bằng chữ La tinh (Bulletin Officiel de l’Expédition de Cochinchine (BOEC)- No4/1863 –trang 310-313).
Tuy nhiên, vào thời kỳ mới mẻ này, chương trình học tiếng Việt la tinh hóa (chữ Quốc ngữ) chỉ có tính cách nhiệm ý, chưa có tính bắt buộc. Mười sáu năm sau, các nghị định của Thống đốc Nam kỳ ký ngày 17.3.1879 và 14.6.1880 tổ chức lại nền học chính ở Nam kỳ, qui định việc dạy và học song hành cả hai thứ chữ: chữ Hán và chữ Quốc ngữ.
Đến năm 1911, theo thông tư số 86 ngày 23.11.1911 của quyền Khâm sứ Trung kỳ, các thí sinh dự kỳ thi Hương năm 1912 phải hiểu biết chữ Quốc ngữ, do đó các nhân viên học chính phải thiết lập bên cạnh trường dạy chữ Hán một trường dạy chữ Quốc ngữ cho thí sinh các kỳ thi Hương.
Năm 1918, là năm mở kỳ thi Hương cuối cùng trong lịch sử học và thi chữ Hán trên đất Việt Nam. Kỷ nguyên chữ Quốc ngữ thật sự bắt đầu từ đó. Ý đồ của thực dân Pháp trong việc cổ xúy, cưỡng bách một nền văn hóa giáo dục chữ Quốc ngữ là điều đã được các nhà văn hóa, sử học thảo luận, tranh cải nhiều. Nhưng dù với ý nghĩa nào, thực tế cuộc sống đã đưa chữ Quốc ngữ trở thành một phương tiện truyền thông giúp nhân dân ta sớm tiếp thụ những tiến bộ văn hóa, khoa học kỹ thuật của thế giới.
Thập niên 1930-1940, người ta đã không còn nghe tiếng ê a của thầy đồ dạy học sau lũy tre xanh và hoàn cảnh cuộc sống đã đẩy một lớp sĩ phu cửa Khổng sân Trình trôi dạt ra ngoài phố thị:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua… 
(Ông Đồ- Vũ Đình Liên)

Cách học xưa đã mai một, mực tàu thay bằng bút bi, giấy đỏ thay bằng giấy trắng, nhưng nền học cũ vẫn còn để lại tinh thần tôn sư trọng đạo sống mãi trong truyền thống đạo lý Việt Nam.


Nguồn: FB Lê Nguyễn


*

để lại phản hồi