Một nguồn sử liệu cần tham khảo: Vùng đất Nam bộ dưới triều Minh Mạng


Một nguồn sử liệu cần tham khảo:
VÙNG ĐẤT NAM BỘ DƯỚI TRIỀU MINH MẠNG

Lê Nguyễn


Tác phẩm đặc khảo Vùng đất Nam Bộ dưới thời vua Minh Mạng gồm hai phần chính và 6 chương với các chủ đề khác nhau xoay quanh những năm 1820-1841. Bỏ qua những vấn đề liên quan đến kỹ thuật dịch thuật trong lần phát hành năm 2011 và trong lần hiệu đính năm 2019 này, chúng ta chỉ bàn đến nội dung một vài chi tiết lịch sử quan trọng được đề cập đến trong quyển sách.

Vùng đất Nam bộ dưới triều minh Mạng
Đặt sách tại đây: <LINK>

Trước hết xin bàn rộng về chương II với chủ đề “Gia Định thành tổng trấn và Lê Văn Duyệt” với nhiều điểm cần làm rõ:

*VỀ TÊN GỌI VÀ TỔ CHỨC CỦA GIA ĐỊNH THÀNH
– Một đôi chỗ trong tác phẩm, vẫn chưa có sự phân biệt giữa hai cụm từ “Gia Định Thành” và “thành Gia Định” như thói quen (sai lầm) của các cây bút viết về lịch sử triều Nguyễn dưới hai triều Gia Long và Minh Mạng. Thậm chí, không rõ dựa vào đâu mà tác giả Choi Byung Wook dùng cụm từ “Gia Định Thành Tổng trấn” để chỉ “Gia Định Thành” là một trong hai tổ chức hành chánh đặc biệt do vua Gia Long thành lập năm 1808 và vua Minh Mạng giải thể năm 1832.
-Theo tổ chức hành chánh vào thời kỳ này, Bắc thành bao gồm đến 11 trấn (tỉnh sau này) và Gia Định Thành gồm 5 trấn, cả hai chiếm đến 2/3 lãnh thổ quốc gia.Trong khi đó, “thành Gia Định” chỉ là một thành trì nằm trong trấn Phiên An (sau là tỉnh Gia Định).
Nhầm lẫn giữa “Gia Định Thành” và “thành Gia Định” là một nhầm lẫn rất đáng tiếc, kể cả của Tổ phiên dịch Viện Sử học trong bộ Đại Nam Thực Lục do nhà xuất bản Giáo dục ấn hành những năm 2002 – 2007. Trong bộ sách này, ở nhiều nơi, thay vì chỉ phiên âm 3 từ “Gia Định Thành” từ bản chữ Hán, tổ phiên dịch sử học đã dịch chúng thành “thành Gia Định”! Đó là chứng cứ cho thấy dịch thuật lịch sử từ một ngoại ngữ không chỉ cần có vốn ngôn ngữ đó, mà còn cần ở kiến thức sử học nữa.
Sự nhầm lẫn về một số chi tiết tế nhị trong lịch sử là điều mà các nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về sử Việt khó tránh khỏi. Điều này buộc người dịch sách lịch sử phải nắm vững để dịch lại cho đúng, hoặc ít ra vẫn dịch (sai) theo nguyên văn của tác giả nhưng phải phụ chú cho người đọc phân định đúng sai ở chỗ nào.
– Lần đầu tiên, tổ chức “tào” được đặt ra tại Bắc Thành và Gia Định Thành. Hai tổ chức này có thể được xem là hình thức trung ương tản quyền của triều Nguyễn, do vua Gia Long chủ trương. Theo hình thức này, quyền hành được phân phối rộng rãi cho Bắc Thành và Gia Định Thành, song khác địa phương phân quyền, với trung ương tản quyền, quyền kiểm soát và hỗ trợ vẫn còn thuộc về bộ máy chính quyền trung ương.
Do Bắc Thành và Gia Định Thành bao gồm hai vùng đất rộng lớn ở phía bắc và phía nam Tổ quốc, vua Gia Long cho đặt ra 6 tào tại mỗi địa phương, tương ứng với 6 bộ tại triều đình và cử các quan đại thần chức Tham tri (tòng nhị phẩm, tương đương Thứ trưởng ngày nay) tại mỗi bộ phụ trách các tào. Viên chức này vừa làm việc dưới quyền các Tổng trấn, vừa đại diện các bộ tại triều đình, góp phần giải quyết các vấn đề phát sinh trong mối quan hệ giữa trung ương và địa phương.

* CƯƠNG VỊ TỔNG TRẤN GIA ĐỊNH THÀNH TRONG BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN TRIỀU NGUYỄN
Với một tổ chức hành chánh gồm từ 5 đến 11 trấn, chức vị Tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành do hai võ quan vào hàng Chánh nhất phẩm nắm giữ (Tiền quân và Tả quân) và có dưới tay 6 tào do các Tham tri phụ trách, nên không thể nói là chức vụ này nhỏ hơn chức Thượng thư (Bộ trưởng) như có lần, ở chương III (Giải thể quyền lực ở vùng đất Nam Bộ), tác giả Choi Byung Wook đã xác định khi bàn về Thượng thư Bùi Đức Minh. Tại các bộ, mỗi Thượng thư (hàm chánh nhị phẩm) chỉ có dưới tay từ 1 đến 2 Tham tri (Thứ trưởng), trong khi tại Gia Định Thành, vị Tổng trấn (hàm chánh nhất phẩm) có dưới tay từ 4 đến 6 Tham tri phụ trách 6 tào. Các tác giả Pháp thế kỷ XIX đã đúng khi tạm dịch chức Tổng trấn (Bắc Thành và Gia Định Thành) và chức Kinh Lược sứ là “vice-roi”, để chỉ một đại thần có cương vị của “phó vương”.

* VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỔNG TRẤN LÊ VĂN DUYỆT VÀ VUA MINH MẠNG
Về vấn đề này, tập quán chung của giới nghiên cứu sử gần đây là tô đậm và phóng đại sự bất đồng giữa hai nhân vật lịch sử trên. Đi đầu trong việc làm này là các nhà báo có dụng ý tạo cho bài viết của họ những ấn tượng đậm nét để lôi cuốn độc giả. Họ đưa ra ít nhất các sự kiện sau để minh chứng cho nhận định của họ:
– Tả quân Lê Văn Duyệt đã hai lần cùng Trung quân Nguyễn Văn Thành đề nghị bác bỏ tư cách là người kế vị ngai vàng của hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm (sau là vua Minh Mạng). Lần thứ nhất khi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (mẹ hoàng thái tử Cảnh) qua đời năm 1814, vua Gia Long hỏi ý kiến quần thần về việc chọn người chủ tế lễ tang; lần hai vào năm 1816, khi nhà vua cần chọn người sẽ kế vị (thái tử).
Về điểm này, tác giả sách, TS Choi Byung Wook, đã nhắc lại quan điểm của TS Nguyễn Phan Quang ủng hộ nhận định trên và cho rằng “vì nguyên nhân này nên Minh Mạng đã điều ông (Lê Văn Duyệt) đi xa, đến tận Gia Định”.
Tuy nhiên, những gì được ghi trong bộ chánh sử Đại Nam Thực Lục đã phủ nhận quan điểm trên, vì trong cả hai lần (năm 1814 và 1816), chỉ có Nguyễn Văn Thành đề nghị công tử Mỹ Đàng là con trai hoàng thái tử Cảnh làm chủ tế và phong Thái tử, với lẽ “đích tôn thừa trọng”, Tả quân Lê Văn Duyệt không hề có một đề nghị nào trái ý vua Gia Long và bất lợi cho hoàng tử Đảm. Lập luận vì không ưa ông Duyệt mà vua Minh Mạng “điều ông đi xa, đến tận Gia Định” càng không đứng vững. Năm 1820, ông Duyệt trở vào Gia Định Thành chỉ là để tiếp tục một nhiệm vụ còn bỏ dở từ năm 1815, chứ có phải là vào lần đầu đâu mà lập luận như thế. Thậm chí, khi Tả quân Lê Văn Duyệt vào bệ kiến vua Minh Mạng để lên đường vào Gia Định, nhà vua còn ban cho ông quyền “…truất thăng quan lại, hưng lợi trừ hại, tất cả việc thành và việc biên cương đều cho tùy nghi mà làm” (Đại Nam Thực Lục – tập hai – NXB Giáo dục – Hà Nội 2004, trang 62). Quyền hạn này được các nhà nghiên cứu sử xem là quyền “tiền trảm hậu tấu” (giết trước, tấu trình sau)
– Tả quân Lê Văn Duyệt “đã giết cha vợ vua Minh Mạng”. Khi nhấn mạnh vào yếu tố này, nhiều người quên là vua Minh Mạng có đến 142 người con, điều đó có nghĩa rằng ông phải có từ 50 -70 đến hàng trăm phi tần trong cung, vai trò của hàng trăm ông cha vợ đó không khác hơn người thường bao nhiêu.
Sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt trở lại nhiệm sở Gia Định Thành, quân và dân tại đây đã tố Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý, cha của một trong những nàng hầu của vua Minh Mạng về 10 việc, trong đó có việc tham nhũng và sách nhiễu dân trong công cuộc đào một con kênh tại Sài Gòn.
Đến đây là sự đối chọi giữa tin giả và tin thật. Không rõ căn cứ vào đâu, có lẽ từ một vài cây bút người Pháp, người ta loan rằng ngay sau khi vừa nhận được tố cáo đối với Huỳnh Công Lý, Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã lấy quyền “tiền trảm hậu tấu” chém ngay viên phụ tá, đặt vua Minh Mạng trước việc đã rồi, không thể thực hiện ý đồ che chở cho ông cha vợ bằng cách lệnh đưa ông ta về triều.
Song sự thật lịch sử lại một lần nữa tố cáo mưu định dùng một kịch bản dàn dựng nhằm làm xấu đi mối quan hệ giữa vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt. Sách Đại Nam Thực Lục chép rằng ngay sau khi nhận được lời tố cáo Huỳnh Công Lý, ông Duyệt đã tâu ngay về triều và vua Minh Mạng đã cho đình thần hội bàn và quyết định giữ Lý ở lại Gia Định để dễ truy xét, đồng thời cử người ở bộ Hình về cùng phối hợp với Tào Hình ở Gia Định Thành để xét hỏi. Không có sự bao che nào cả!
Trong các phiên họp với đình thần, nhà vua thường xuyên đem trường hợp của Huỳnh Công Lý ra để làm gương. Cuối cùng, đến tháng 5 âm lịch 1821, sau khi việc tra xét đã hoàn tất, vua Minh Mạng ra lệnh giết Lý, tịch thu toàn bộ gia sản, trả lại cho binh dân (Đại Nam Thực Lục – tập hai – sđd – trang 134). Không có chuyện tiền trảm hậu tấu của Tả quân Lê Văn Duyệt! Thậm chí, ngay sau vụ việc này, vua Minh Mạng đã thưởng cho Tả quân “gia một cấp quân công” (ĐNTL – sđd – trang 195)
– Nếu có một bất đồng ngấm ngầm nào đó giữa vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt thì có lẽ đáng nói nhất là vấn đề Cơ Đốc giáo. Có thể vì đã từng chiến đấu chung với nhiều người Pháp (Chaigneau, Vannier, Le Brun, De Puymanel …) trong thời kỳ nội chiến với nhà Tây Sơn, Lê Văn Duyệt có một cái nhìn nhẹ nhàng hơn về Cơ Đốc giáo, trong khi từ thập niên 1820, vua Minh Mạng đã bắt đầu chiến dịch chống lại sự rao giảng tôn giáo này.
Những năm 1826 -1827, triều đình lấy cớ hai viên chức người Pháp là Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng) và Vannier (Nguyễn Văn Chấn) đã xin về Pháp (1824), không còn ai làm thông ngôn, yêu cầu các địa phương vận động giáo sĩ Pháp về Huế đảm trách giúp việc này. Trong chức trách của mình, Lê Văn Duyệt vận động hai giáo sĩ Gagelin và Odorico ra Huế; nhưng không lâu sau, ông được biết việc tìm thông ngôn chỉ là cái cớ, mục đích chính của triều đình Huế là giam lỏng hầu hết các giáo sĩ tại kinh thành, trong đó có cả Giám mục Taberd.
Cảm thấy có trách nhiệm trong chuyện này, Lê Văn Duyệt vội vàng cho sao một số trong 14 bức thư mà chúa Nguyễn Ánh đã viết gửi cho Giám mục Bá Đa Lộc cùng một số giáo sĩ và viên chức Pháp (để yêu cầu hỗ trợ đánh nhà Tây Sơn) vào những thập niên cuối thế kỷ 18, rồi xin ra Huế bệ kiến nhà vua. Sau một thời gian chờ đợi, ông được vua Minh Mạng cho về triều để dự lễ lục tuần khánh tiết (mừng thọ 60 tuổi) của Thuận Thiên Hoàng Thái hậu. Mấy tháng sau chuyến đi đó của ông, Giám mục Taberd và các giáo sĩ được thả về địa phương. Trong bức thư đề ngày 8.2.1828 đăng trên Tập san Truyền bá Đức tin (tập IV), Giám mục Taberd đã viết về ông như sau:”…Ông xứng đáng được người Pháp nhớ ơn…Ông được gọi là Thượng công, là người đầu tiên và cũng là người duy nhất trong số các quan lại được nhà vua nễ sợ… Những quan lại khác cũng rất yêu mến ông, bởi vì họ biết rằng ông là người chính trực; bọn trộm cướp rất sợ ông vì chúng biết là rơi vào tay ông sẽ bị chém đầu, mà không có hi vọng gì dùng tiền bạc để mua chuộc ông, như đã mua chuộc nhiều người khác….” (Bulletin des Amis du Vieux Hue số 1 năm 1926, trang 2-3)
Tuy nhiên, mối bất đồng trên không phải là lý do chính để giải thích về sự ra đời của bản án buộc tội ông Duyệt vào năm 1835, sau khi cuộc nổi dậy tại thành Phiên An (Gia Định) bị dẹp tan.

* MẤY CÁI SAI CỦA CHOI BYUNG WOOK VỀ MẶT LỊCH SỬ
Ngoài sự nhầm lẫn khi cho rằng chức vụ Thượng thư cao hơn chức Tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành như đã trình bày ở phần trên, đây đó trong sách của mình, Choi Byung Wook để lộ một số sai sót đáng tiếc, xin đơn cử hai sự kiện tiêu biểu:
– Khi đề cập đến cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi và binh lính thành Phiên An năm 1832, Choi đã viết ngay những dòng mở đầu chương IV: “ … cuộc cải cách hành chính năm 1832 đưa vùng Gia Định vào sự quản lý trực tiếp của triều đình Huế. Gia Định Thành bị bãi bỏ và ngay lập tức, người dân Gia Định nổi dậy chống lại triều đình Huế” (!). Trên thực tế, việc vua Minh Mạng bãi bỏ tổ chức Bắc Thành vào cuối năm 1831 và Gia Định Thành vào cuối năm 1832, sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt đã qua đời, không hề kéo theo phản ứng nào của người dân thời đó. Sự nổi dậy ở thành Phiên An khởi nguồn từ việc Bố chánh Bạch Xuân Nguyên khủng bố, bắt giữ, tống giam nhiều người từng là tướng sĩ tâm phúc của ông Duyệt.
– Về tổ chức cấp tỉnh tại Nam Bộ sau cuộc cải cách hành chánh năm 1832 của vua Minh Mạng, Choi Byung Wook đã đúng khi xác định các viên chức đứng đầu tại mỗi tỉnh có Tổng đốc (tỉnh lớn hay 2-3 tỉnh), Bố chánh, Án sát, Lãnh binh và Đốc học. Tuy nhiên, ông sai khi cho rằng tại các tỉnh nhỏ, người đứng đầu là Tuần phủ, kế đó là Bố chánh. Trên thực tế, Bố chánh chỉ có mặt tại những tỉnh có Tổng đốc, ở những tỉnh chỉ có Tuần phủ thì viên chức này kiêm luôn chức Bố chánh (Đại Nam Thực Lục – tập Ba – NXB Giáo dục 2007, trang 394).
Cái sai về chi tiết trên không đáng trách, vì không mấy người Việt đọc sử nhận ra sự tế nhị này. Tất nhiên, với từng cái sai của tác giả, một nhà nghiên cứu nước ngoài không thể nắm bắt được hết những chi tiết lịch sử tế nhị của ta, người hiệu đính lần này đều lưu ý và giải thích với người đọc ở phần ghi chú cuối trang.

* VỀ CHÍNH SÁCH ĐẠC ĐIỀN VÀ CÔNG NHẬN QUYỀN TƯ HỮU RUỘNG ĐẤT DƯỚI TRIỀU MINH MẠNGChương VI là phần mà TS Choi Byung Wook đã đầu tư nhiều công sức trong việc tham khảo và sàng lọc các tư liệu xưa về kỹ thuật đạc điền (đo ruộng đất) và xác định quyền tư hữu ruộng đất của dân. Đây là chương mà người đọc có thể nắm bắt được những nét cơ bản trong chính sách ruộng đất của triều Minh Mạng qua việc phân định rõ công điền công thổ quốc gia thuộc sự quản lý của chính quyền và tư điền thuộc quyền sở hữu tư nhân mà mỗi người dân có thể tích lũy và cho thuê hay mua bán. Tác giả trưng dẫn nhiều trường hợp cụ thể của một số cá nhân cụ thể được ghi trong sổ sách thời Minh Mạng, giúp người đọc có một cái nhìn rõ ràng hơn về quyền tư hữu ruộng đất thời kỳ này.
– Điều cuối cùng xin bộc bạch là người hiệu đính (năm 2019) đã rất nỗ lực để cải thiện một bản dịch vốn bị chỉ trích khá nhiều trong lần phát hành đầu tiên năm 2011. Bạn đọc nào đã có trong tay cả hai bản dịch trước và sau sẽ nhận thấy điều này.

Đặt sách tại đây: <LINK>


Nguồn: FB Lê Nguyễn


Ấn bản năm 2011 có thể đọc tại đây: <LINK>

*

để lại phản hồi