Chính sách ngoại giao của triều Nguyễn tại Đà Nẵng nửa đầu thế kỷ XIX


Chính sách ngoại giao của triều Nguyễn tại Đà Nẵng nửa đầu thế kỷ XIX

Nguyễn Minh Phương


Sau khi thiết lập vương triều, nhà Nguyễn đã thực thi nhiều biện pháp trong chính sách ngoại giao nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước. Mặc dầu có nhiều cố gắng nhưng nhìn toàn cục, nhà Nguyễn đã đánh mất chính sách ngoại giao nhu viễn, khôn khéo của các triều đại trước với các nước lân bang. Điều này được thể hiện rõ qua chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn tại Đà Nẵng nửa đầu thế kỷ XX.

Trận Đà Nẵng

Sơ lược chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với các nước lân bang

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã đứng trước những khả năng to lớn để xây dựng đất nước. Sau hơn 200 năm đất nước bị chia cắt trong cục diện “Đàng trong, Đàng ngoài”, Việt Nam đầu thế kỷ XIX thực sự là một quốc gia thống nhất với sự hoàn chỉnh về cương vực quốc gia, thống nhất thị trường, tiền tệ, có thể xây dựng kinh tế xã hội mạnh mẽ, mở rộng những quan hệ ngoại thương quốc tế, canh tân đất nước, vượt qua sự can thiệp, xâm lược của các thế lực thực dân phương Tây.

Tuy nhiên, ngay từ đầu, nhà Nguyễn đã bộc lộ yếu điểm cơ bản về chính trị, đó là: Khác với các triều đại trước được thiết lập trên cơ sở thắng lợi của những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hoặc sau khi hoàn thành nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, củng cố quốc gia… còn triều Nguyễn, vương triều cuối cùng lại được dựng nên bằng một cuộc nội chiến mà kẻ thắng đã dựa vào thế lực của ngoại bang, và như vậy về khách quan là đi ngược lại nguyện vọng và quyền lợi của dân tộc.

Chính vì thế, nhìn toàn cục, bức tranh kinh tế, chính trị, xã hội thời nhà Nguyễn là đa dạng, phức tạp, đôi khi như tự mâu thuẫn giữa cái tiến bộ và bảo thủ, lạc hậu, giữa cái mạnh và cái yếu…

Đối với nhà Thanh, nhà Nguyễn chủ trương thần phục. Ngay từ khi mới thiết lập, nhà Nguyễn đã cho sứ thần sang Trung Quốc xin quốc hiệu và cầu phong. Năm sau, nhà Thanh sai sứ sang phong vương cho Nguyễn Ánh (Gia Long). Từ đó, nhà Nguyễn phải định kỳ cống nạp. Ngay cả trong việc xây dựng bộ máy nhà nước, Nguyễn Ánh đã bộc lộ quyết tâm xây dựng một Nhà nước phong kiến tập quyền, chuyên chế mạnh theo mô hình của nhà Thanh. Nhiều người Châu Âu sống ở Việt Nam nhận xét: Nguyên lý quyền hành quá mức, hệ thống chính quyền quân chủ tuyệt đối là đặc trưng chế độ chính trị của nhà Nguyễn. Ngay Tự Đức có lúc cũng thú nhận quan lại khắc nghiệt lấy giấy tờ pháp luật làm gông cùm, lấy dân đen làm cá thịt… Nhà Nguyễn cũng không ngần ngại đối đầu với nước Xiêm trong vấn đề “bảo hộ” Cao Miên (năm 1811) và biến Cao Miên thành một tỉnh (năm 1835), đổi tên Nam Vang thành Trấn Tây Thành và định sáp nhập Cao Miên vào hẳn lãnh thổ Việt Nam. Nhưng sau khi Minh Mạng qua đời (vào năm 1840), Thiệu Trị đã từng bước rút lui khỏi Cao Miên, để lại hậu quả hết sức nặng nề về chính trị cũng như tài chính. Năm 1827, nhà Nguyễn cũng đã buộc Lào phải thần phục.

Thông qua chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn phải nhìn nhận rằng nước ta dưới triều Nguyễn khá mạnh so với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ. Tuy nhiên, cũng dễ nhận thấy rằng chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn không còn giữ được “hòa khí” với các nước lân bang trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ.

Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn tại Đà Nẵng đầu thế kỷ XIX

Chủ trương của nhà Nguyễn trong chính sách ngoại giao tại Đà Nẵng

Sau khi lên ngôi (1802), vua Gia Long đã chọn Đà Nẵng làm nơi đón tiếp các sứ thần đến quan hệ ngoại giao, thương mại… Từ đây, cảng Đà Nẵng trở thành hải cảng chính thức và duy nhất thực thi chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn với các nước đến quan hệ qua đường biển.

Chọn Đà Nẵng làm cửa ngõ giao thương, mục đích của nhà Nguyễn là bảo đảm an ninh quốc gia, giám sát hoạt động của các giáo sĩ phương Tây, nghe ngóng tình hình của các nước trong khu vực và thế giới, tiếp nhận tinh hoa văn hóa thế giới tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

Giống như các chúa Nguyễn trước đây (9 đời chúa Nguyễn), đối với các nước trong khu vực Châu Á, nhà Nguyễn có quan hệ thân thiện hữu nghị với một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á; đối với các nước phương Tây là Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan… Tuy nhiên, nhà Nguyễn chỉ cho tiếp các nước phương Tây tại Đà Nẵng với những điều kiện hết sức chặt chẽ, khắt khe tùy theo mối quan hệ ấm lạnh, mà nguyên nhân của chính sách này là do hoạt động do thám của tàu thuyền các nước phương Tây và các giáo sĩ ở nước ta mà ra.

Chủ trương trên của nhà Nguyễn thể hiện sự kỳ thị đối với các nước phương Tây và sự lo xa về vấn đề an ninh quốc gia. Trước hết, đó là sự xâm nhập ngày càng sâu của Thiên Chúa giáo đối với nước ta khiến cho truyền thống “Tam giáo đồng quy” bị đe dọa nghiêm trọng. Điều này sẽ tạo nên sự phá vỡ vị trí của Nho giáo trong đời sống xã hội nước ta, mà Nho giáo là công cụ duy trì trật tự của xã hội, là công cụ giúp cho nhà nước phong kiến thiết lập nên một trật tự xã hội theo chiều hướng có lợi, bảo vệ vững chắc địa vị của giai cấp thống trị, đồng thời, Nho giáo đã có một thời gian dài ăn sâu, bám rễ, có vị trí khá vững chãi trong đời sống xã hội Việt Nam (cũng như một số quốc gia khác ở Phương Đông), được xã hội Việt Nam đón nhận và chấp nhận sự tồn tại, có thời kỳ đã trở thành quốc giáo ở nước ta. Thiên Chúa giáo không phù hợp với xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, đặc biệt có nguy cơ phá vỡ, làm lung lay, ảnh hưởng đến tôn ti, trật tự xã hội mà giai cấp phong kiến đã thiết lập và duy trì. Mặt khác, nhà Nguyễn còn lo xa bởi sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo cũng sẽ ảnh hưởng đến phong tục tập quán của dân tộc. Chính vì vậy, trong triều Nguyễn (đặc biệt sau khi cuộc chiến xâm lược của Thực dân Pháp nổ ra), tư tưởng chi phối từ cung đình xuống dân chúng, đó là 3 vấn đề chính: Chính đạo hay Tà giáo (Nho giáo hay Thiên Chúa giáo?), Chiến hay Hòa (đánh Pháp hay đầu hàng?), Duy tân hay Thủ cựu (ủng hộ cải cách hay không?). Tiếc rằng nhiều sĩ phu yêu nước đã quay lưng lại với xu hướng cải cách và ủng hộ việc “cấm đạo” của triều đình và được thi hành ngày càng gay gắt. Chính sách này tuy có hạt nhân hợp lý và có ý nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia, nhưng trong thực tiễn thì “lợi bất cập hại”.

Do nhiều lý do chủ quan và khách quan, trong sinh hoạt văn hóa, thời Nguyễn có nhiều thành tựu độc đáo, phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nhưng trong lĩnh vực tư tưởng, chủ yếu là Tống Nho vẫn được đề cao, thậm chí được coi là hệ tư tưởng chính thống, vua quan nhà Nguyễn đều lấy Tống Nho làm hệ quy chiếu và tồn tại quan niệm “xưa nay hơn”, “nội Hạ ngoại Di”. Năm 1804, Vua Gia Long đã phán: “Người Hồng Mao gian giảo trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ hẳn khác, không cho họ ở lại, ban cấp ưu hậu cho họ mà bảo họ về, không nhận phẩm vật họ hiến”. Lo ngại cho an nguy quốc gia trước sự bành trướng của các nước thực dân phương Tây, nhà Nguyễn đã cho đóng chặt cổng ngõ đồng thời ra lệnh đàn áp đạo Thiên Chúa nhằm ngăn ngừa hậu họa đạo Thiên Chúa sẽ thông qua việc truyền đạo để do thám, làm nội gián, mở đường cho việc xâm lược của các nước phương Tây.

Thời Minh Mạng, chính sách ngoại giao đối với các nước phương Tây càng khắt khe, cứng nhắc. Năm 1835, vua Minh Mạng ra đạo dụ kiên quyết chỉ cho “…tàu Tây đậu tại cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được vào, phép nước rất nghiêm, chẳng nên làm trái… Từ nay về sau, người Tàu phải đi tàu buôn nước Tàu, mới cho vào cửa biển, người Tây phải đi tàu nước Tây vào cửa Hàn thông thương, không được ghé vào các cửa biển khác…” Các sứ thần phương Tây đến Đà Nẵng phải có đủ hai điều kiện, đó là phải có quốc thư của nước xin giao thương và lễ vật. Lễ vật thường là những đồ vật hiếm lạ, hiếm và có thể là quý giá của quốc gia đó nhưng không là điều kiện bắt buộc như quốc thư phải có mới được đón tiếp. Sứ giả không có quốc thư là không đủ tư cách, dù là sứ giả nước Pháp – nước có nhiều ơn nghĩa với nhà Nguyễn cũng không được đón tiếp. Ví dụ như năm 1817 “tàu Pháp đến đậu ở Đà Nẵng, đưa cho Nguyễn Văn Thắng xin được vào dâng sản vật nhưng không có quốc thư, vua không tiếp”. Và khi có đủ các điều kiện vua vẫn không tiếp vì vấn đề an ninh hoặc vấn đề tế nhị khác, tuy nhiên một quan đại thần thay vua vào Đà Nẵng đón tiếp sứ thần.

Như vậy, chủ trương của nhà Nguyễn không muốn mở rộng quan hệ với các nước phương Tây, nhất là khi âm mưu bành trướng xâm lược của phương Tây ngày càng lộ rõ thì nhà Nguyễn hạn chế giao thương, đồng thời tăng cường phòng phủ Đà Nẵng. Đà Nẵng được chú trọng trong công tác tổ chức phòng thủ hơn là chú trọng trong công tác ngoại thương. Chủ trương và biện pháp giao thương chặt chẽ còn biểu hiện trong hoạt động ngoại giao diễn ra tại Đà Nẵng. Thông thường, tàu thuyền của sứ thần các nước đến cảng Đà Nẵng, sau khi có thông báo có quốc thư và lễ vật xin đệ trình lên vua của các quan sở tại, tàu thuyền của họ sẽ được cập cảng sau khi đã qua khám xét, sau đó được phép cử người lên bờ có sự giám sát của quan binh địa phương mua những nhu yếu phẩm cần thiết như thực phẩm, nước uống, than củi… Và tất cả ở lại trên tàu chờ các quan địa phương viết báo cáo xin ý kiến của nhà vua. Chỉ thị của vua thường đến sau 10 đến 15 ngày sau khi tàu cập cảng. Những trường hợp cấp bách thì phản hồi của triều đình trong vòng vài ba ngày.

Nghi thức ngoại giao tổ chức tại Đà Nẵng khá long trọng, được quy định cụ thể trước năm Gia Long thứ 17 (1817), khi tàu các nước đến “kéo cờ và bắn 21 phát đại bác chào mừng, đồng thời trên thành Điện Hải cũng phát 21 tiếng súng”. Nhưng về sau chỉ cho phép bắn từ 3 đến 6 phát súng chào mừng quý khách mà thôi. Việc đón tiếp chính thức của nước chủ nhà có thể diễn ra ở triều đình Huế nếu vua đồng ý, nhưng thường tổ chức ở Đà Nẵng do đại diện triều đình hoặc là quan của ty Thương Bạc vào phối hợp với quan binh sở tại. Tuy không quy định cụ thể, tùy theo hoàn cảnh và tùy theo sứ thần thuộc quốc gia nào, chức vụ gì và đi thuyền chiến hay thuyền buôn lớn hay bé mà nghi lễ đón tiếp được tổ chức quy mô long trọng hay đơn giản khác nhau.

Chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn tại Đà Nẵng đối với các nước

Thời nhà Nguyễn, sứ thần Hoa Kỳ đến xin giao thương sớm nhất là năm đầu tiên triều Minh Mạng (1820) do thuyền trưởng White dẫn đầu đến Gia Định. Năm 1832, đặc sứ Edonod Roberta mang quốc thư của Tổng thống Andrew Jackson đến Vũng Lấm (Phú Yên) xin bang giao và buôn bán được Nguyễn Tri Phương thay mặt triều đình phối hợp với quan binh sở tại đón tiếp, đã thông báo cho Hoa Kỳ quan điểm giao thương của Việt Nam là “việc vào Việt Nam buôn bán của Hoa Kỳ không trở ngại, nhưng phải theo các điều kiện: Tàu thuyền chỉ được vào cảng Đà Nẵng. Tuân giữ điều luật trong nước và không được lập cơ sở trên đất liền. Quy định của nhà Nguyễn được phía Hoa Kỳ chấp thuận đã cho thuyền cập cảng Đà Nẵng năm 1836. Như vậy, trong thời gian đầu, các sứ thần Hoa Kỳ được đón tiếp ân cần. Tuy nhiên, đến năm Tự Đức thứ 3 (1850), sau sự kiện tư lệnh hải quân Hoa Kỳ John Percival chỉ huy tàu Constitution đến Đà Nẵng năm 1845 bắt con tin gây áp lực với triều đình đòi thả giám mục Lefebre người Pháp bị giam tại Huế không thành làm cho quan hệ giữa ta và Hoa Kỳ ngày càng lạnh nhạt và chấm dứt năm 1850.

Quan hệ thương mại của các thương nhân Anh ở Đà Nẵng diễn ra tốt đẹp dưới thời đầu triều Nguyễn. Đại diện triều đình thường đặt mua hàng của các tàu thuyền Anh hơn các quốc gia khác và quan hệ thương mại giữa các thương nhân Anh với triều đình Nguyễn rất gắn bó tin tưởng. Thương nhân Anh thường được ưu ái về thuế khóa, về thanh toán tiền mua hàng hóa và cả khoản đãi trong thời gian lưu trú buôn bán ở Đà Nẵng.

Tuy nhiên, trong quan hệ ngoại giao thì khác hẳn, suốt nửa đầu thế kỷ XIX nước Anh chỉ cử 4 phái đoàn sang xin lập quan hệ bang giao với nước ta thì rất thấp. Lần đầu vào năm 1803, một phái đoàn Anh do Roberts với đủ điều kiện xin bang giao và nhượng đất ở Sơn Trà để lập phố buôn bán nhưng vua Gia Long không tiếp, đã xuống dụ “Hải quan là nơi quan yếu, sao lại cho người ngoài được! Không cho, sai trả lại vật phẩm và bảo về”. Năm sau (1804), Roberts trở lại lần thứ hai nhưng vẫn không đạt được mục đích. Đến lần thứ 3 (năm 1822), Crawfurd là thống đốc Sigapore được toàn quyền Ấn Độ cử sang Việt Nam làm nhiệm vụ bang giao. Lần này mục đích của người Anh khiêm tốn hơn nhiều, chỉ xin được buôn bán như các nước khác chứ không đòi đất lập phố xá hay kho hàng nữa. Năm 1847, lợi dụng triều Nguyễn phẫn nộ hai tàu chiến Pháp bắn phá Đà Nẵng, thống đốc Anh ở Hồng Kông là Davis mang quốc thư của Nữ hoàng Anh Victoria gửi hoàng đế Việt Nam, xin triều kiến để bàn việc ký một liên minh quân sự giúp Việt Nam chống Pháp tấn công xâm lược, phía Việt Nam nhượng cho Anh một pháo đài ở cảng Đà Nẵng để phòng vệ và trên pháo đài dựng cờ hai nước. Vua Thiệu Trị đã thẳng thừng khước từ đề nghị của Anh. Dã tâm của Anh bộc lộ khá rõ qua các lần đến Đà Nẵng xin bang giao nên quan hệ giữa triều đình Huế với Anh không mấy tốt đẹp.

Với nước Pháp thì quan hệ ngoại giao được thiết lập từ sớm, từ cuộc nội chiến chống khởi nghĩa Tây Sơn của Nguyễn Huệ. Năm 1777, trong khi lẩn tránh khỏi sự truy đuổi của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã gặp và được cha cố Georges Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) che chở. Năm 1874, Nguyễn Ánh đã nhờ Bá Đa Lộc mang thư cùng con trai 4 tuổi là hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh sang làm con tin cầu cứu nước Pháp. Được sự ủy nhiệm của Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc đã ký với triều đình Pháp bản hiệp ước 10 điều vào năm 1787. Theo đó, vua Pháp cam kết giúp đỡ Nguyễn Ánh về quân sự để giành lại đất nước. Về phần mình, vua Pháp được quyền sở hữu cảng Hội An và đảo Côn Lôn. Do cách mạng Pháp bùng nổ, hiệp định này không được thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục nhận được chi viện của những người phương Tây.

Vì vậy, khi xây dựng vương triều, Nguyễn Ánh đã dành những ưu ái cho Pháp trong quan hệ, nhất là trong nghi lễ đón tiếp. Còn nguyên tắc quốc gia vẫn không thay đổi mặc dù so với các nước, nước Pháp kiên trì và quyết tâm nhất trong mục đích ngoại giao của mình với Việt Nam, nhưng vẫn không có kết quả tốt đẹp hơn các nước khác và đã kết thúc bằng cuộc tấn công Việt Nam tại Đà Nẵng năm 1858.

Năm 1817, đại tá Kergariou nhận lệnh của vua Loui XVIII đến Việt Nam xin được tái bang giao sau một thời gian dài gián đoạn do khó khăn của nước Pháp. Khi cập cảng Đà Nẵng được chào mừng long trọng bằng 21 loạt đại bác nhưng do quên mang quốc thư nên không được tiếp. Năm 1822, nước Pháp lại cử Hello chỉ huy tàu Clêopâtre đến Việt Nam vẫn không được triều Nguyễn đón tiếp mặc dầu được sự vận động tích cực của hai quan người Pháp là Chaigneau (Shenhô) và Vannier (Vaniê) được Gia Long tin dùng trong triều chính và đặt tên Việt là Nguyễn Văn Chấn và Nguyễn Văn Thắng. Năm 1824, nước Pháp lại cử đại tá Bougainville chỉ huy tàu chiến Thétis được trang bị vũ khí hùng hậu, có sự hộ tống của tàu chiến Espérance do trung tá hải quân Paul Nourguer de Camper đến Đà Nẵng với quyết tâm đạt được việc thông hiểu và thương mại. Tuy nhiên, do nước Pháp và nước Anh có quan hệ không tốt, năm trước nhà Nguyễn đã khước từ không tiếp sứ thần nước Anh cho nên nay nhà Nguyễn cũng khéo léo khước từ không tiếp đại tá Bougainville. Tuy nhiên, nhà Nguyễn đã ra chỉ dụ cho quan binh Đà Nẵng đón tiếp phái đoàn theo nghi lễ quốc gia và cuộc đón tiếp đã được tổ chức chu đáo, trọng thị. Tuy quyết tâm nhưng sứ mạng của Bougainville không thành như các phái đoàn khác nên đành nhổ neo rời khỏi Đà Nẵng. Từ đây, nước Pháp ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho một phương thức ngoại giao mới – ngoại giao bằng vũ lực, để đạt được mục đích độc quyền giao thương ở Việt Nam. Thông qua các hoạt động truyền giáo, các giáo sĩ người Pháp đã do thám nước ta nói chung và cảng Đà Nẵng nói riêng dưới nhiều danh nghĩa khác nhau như nghiên cứu khoa học, xin bang giao hay tạm nghỉ để tiếp nguyên liệu, thức ăn hay nước uống nhằm do thám, tìm hiểu nước ta. Tháng 2 năm 1830, tàu chiến Favorite đã lén lút vẽ bản đồ duyên hải Bắc Kỳ rồi đến Đà Nẵng lên núi Tam Thai để khảo sát khoa học đã làm vua Minh Mạng tức giận cách chức cả Thành thủ và Thủy ngự ở đài An Hải và Điện Hải. Liên tục thời gian sau, tàu Pháp đã cập cảng Đà Nẵng nhằm hoạt động do thám làm cho vua Minh Mạng rồi Thiệu Trị lo lắng và nhắc nhở thường xuyên cảng Đà Nẵng tăng cường cảnh giác, canh thuyền và cảnh giác chặt chẽ với các tàu thuyền cập cảng. Cần phải nói thêm rằng, đầu những năm 30 của thế kỷ XIX, khi mà những phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình ở cả trong Nam lẫn ngoài Bắc ngày càng mạnh mẽ, trong đó, có sự tham gia của một số cố đạo và giáo dân như khởi nghĩa Phan Bá Vành, khởi nghĩa Hoàng Trọng Khôi, khởi nghĩa Hoàng Trọng Kiều…

Như vậy, trong giai đoạn đầu, do còn giữ ân tình với Bá Đa Lộc và những người Pháp đã giúp đỡ mình, Gia Long đã thi hành chính sách tương đối cởi mở với Pháp và đạo Thiên Chúa. Nhưng đến thời Minh Mạng, triều Nguyễn đã khước từ dần quan hệ với các quốc gia phương Tây. Thậm chí nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đàn áp Công giáo. Năm 1824, hai quan người Pháp là Chaigneau (Shenhô) và Vannier (Vaniê) buộc phải xin về nước. Năm 1825, chính phủ Pháp đề nghị được đặt lãnh sự tại Việt Nam nhưng bị cự tuyệt.

Với những lợi thế riêng, ngay từ buổi đầu thiết lập, nhà Nguyễn đã chọn Đà Nẵng làm cửa ngõ đối ngoại chính thức của nước ta đối với các nước phương Tây. Trong hoàn cảnh các nước phương Tây tranh nhau tìm kiếm thị trường, với sức mạnh kinh tế và quân sự mỗi quốc gia phương Tây khi cử đặc sứ đến xin quan hệ với các nước phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng đều muốn quốc gia sở tại dành riêng cho quốc gia mình đặc quyền giao thương, đã làm cho cảng Đà Nẵng trở thành nơi thu hút các sứ thần phương Tây đến xin quan hệ nhưng nhiều nhất là các phái đoàn các nước Hoa Kỳ, Anh và Pháp – những quốc gia phát triển mạnh nhất lúc bấy giờ. Điều đó làm cho chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn đối với các nước phương Tây muốn vừa cẩn trọng, chặt chẽ và công bằng giữa các nước, lại vừa muốn đảm bảo độc lập tự chủ của đất nước, đã không làm hài lòng các nước phương Tây, nhất là nước Pháp – nước có nhiều “ơn nghĩa” với nhà Nguyễn.

Có thể nói, chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn nói chung và tại Đà Nẵng nói riêng không sai, thậm chí có phần khôn ngoan. Tuy nhiên, chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn còn quá nặng nề, khắt khe cho nên đã đánh mất đi sự khéo léo trong quan hệ bang giao so với các triều đại trước. Do quá lo sợ về nguy cơ thực dân, triều Nguyễn đã từng bước thực thi chính sách “đóng cửa”, ngày càng tìm cách hạn chế ảnh hưởng của phương Tây trên đất Việt Nam. Mặt khác, nhà Nguyễn áp dụng những biện pháp cực đoan nhằm gia cố thêm ý thhức hệ Nho giáo với tư cách là bệ đỡ tư tưởng của nhà nước quân chủ. Nhà Nguyễn ngày càng tỏ ra bảo thủ, đưa đất nước ngày càng lún sâu vào tình trạng trì trệ, lạc hậu đến nỗi suy kiệt khả năng tự vệ. Chính đó là nguyên nhân trực tiếp, như một hệ quả tất yếu của quy luật “nhân quả” trong việc Pháp xâm lược nước ta năm 1858 và cũng thật “trớ trêu” khi Đà Nẵng lại là nơi đầu tiên gánh chịu những phát súng xâm lược của thực dân Pháp./.


Nguồn: Văn Hóa Học


*

để lại phản hồi