Việt Nam xưa đã thôn tính mấy nước?


Việt Nam xưa đã thôn tính mấy nước?

Trần Huy Bá

Tạp chí Tri Tân, số 15 1941


Nguồn: Wiki

Nước Việt Nam ta kể từ Đinh Tiên Hoàng (968-978) dẹp yên 12 sứ quân, dựng cờ tự chủ, gây thành một nước độc lập. Phía bắc đối với Trung Quốc, tuy vẫn nạp cống xưng thần, song đã bao phen chiến thắng họ. Đan cử như Lý Thường Kiệt đánh quân Tống, Trần Hưng Đạo đánh quân Nguyên, Lê Lợi đánh quân Minh, Nguyễn Huệ đánh quân Thanh… Trải qua Tống, Nguyên, Minh, Thanh, nhà nào cũng bị dân tộc ta chống cự kịch liệt, lắm phen “thiên triều” cũng phải hoảng sợ mà e dè. Nhưng kết cục rồi ta cũng phải theo cái lẽ nước nhỏ ở bên nước lớn, mà cầu hòa nạp cống, để được rảnh tay về phía bắc, mà tiến bước về phía nam.

Cứ theo sử sách ta chép thì Chiêm Thành, Vạn Tượng, Chân Lạp, Qua Ha, Tam Phật Từ và Mãn Thích Đa v.v… đều đã bị ta thôn tính. Có nước thì bị mất hẳn, có nước phải cắt đất cầu phong. Thực đã vẻ vang cho giống nòi Việt Nam lắm vậy!

Trừ ra Chiêm Thành, Chân Lạp và Vạn Tượng, sử sách đã nói đến nhiều rồi, duy còn mấy nước nhỏ phụ thuộc vào các nước ấy thì không thấy mấy nơi nhắc đến. Nay ta cũng nên lược qua lịch sử và địa dư của mấy nước ấy ra sau đây để cống hiến chư độc giả tiện bề khảo xét.

Theo sách Đại Minh Nhất Thống Chí và sách Việt Nam Tập Lược thì gốc tích các nước ấy đại lược như sau:

  1. Nước Qua Oa.

Nguyên xưa là A Lăng hay là Bồ gia Long có những thuộc quốc như là: Tô Cát Đan, Đả bản, Đả Võng Đề v.v…Đời Tống Nguyên gia năm thứ 9 (432) Qua Oa đã có giao thông với Trung Quốc. Đến năm Trinh Quan nhà Đường thứ 21 (647), vua nước Qua Oa là Trụy Bà La sai sứ sang cống hiến nhà Đường.

Đến năm Minh Thiên Thuận thứ tư (1460) vua nước Qua Oa là Đô Mã bản còn sang triều cống nhà Minh. Rồi sau bị nước Việt Nam ta thôn tính, chi làm hai nước gọi là Thủy Xá và Hỏa Xá.

Xét sử nhà Minh, thì nước ấy phía đông giáp nước Phù Nam, phía tây giáp nước Tam Phật Tề, phía Nam giáp nước Đại Thực, phía bắc giáp nước Chiên Thành. Bây giờ ở vào khoảng tỉnh Bình Thuận, Biên Hòa và bà Rịa.

  1. Nước Tam Phật Tề

Đời cổ gọi là Thiên Đà Lợi, ở về phía Nam nước Chiêm Thành, vào khoảng giữa nước Chan Lạp và nước Qua Oa, gồm 15 châu, có những thuộc quốc như Đơn Mã, Lệnh Lăng, Nha Tư, Bồng Phong, Đăng Nha, Nùng Tế Lan v.v…

Vua nước ấy gọi là Thiểm Ty, khoảng năm Thiên Hựu nhà Đường (904) đã giao thông với Trung Quốc. Hồi năm Kiến Long nhà Tống (960-962), vua nước ấy là Tất Lợi Hồ Thiên Hà Lý, sai sứ sang cống hiến Trung Quốc. Mãi đến năm Vĩnh Lạc thứ ba đười Minh (1405) nước Tam Phật Tề ấy hãu còn sang Tàu cống hiến.

Dân nước ấy thì giàu thịnh, tính hiếu dâm, thủy chiến rất giỏi. Ấy thế mà sau cũng bị nước Việt Nam ta thông tính hết. Cứ theo hình thế như trên đã kể thì nước ấy ở vào khoảng tỉnh Định Tường ngày trước, mà bây giờ thì là các tỉnh Tân An, Mỹ Tho và bến Tre v.v…

  1. Nước Mãn Thích Đa

Đời hán Quang Võ (25-57), Mã Viện sang đánh quận Giao Chỉ, thì nước ấy gọi là Tây ĐỒ Di. Về sau, gọi là Ca La Phu Sa; kinh đô ở xứ Đồ Bà, nên gọi là Đại Đồ bà hay là Trọng Già La. Năm Vĩnh lạc nhà Minh thứ ba (1405), vua nước ấy là Tây Lợi Bát Nhi Đạt Thích sai sứ sang cống hiến Trung QUốc. Đến năm 1412 nhà Minh sai quan Thái Giám là Trịnh Hòa làm chánh sứ, sang phong cho vua nước ấy làm Mã Đa Thích Quốc Vương. Và dựng bia làm mốc để ngăn nước Tiêm La khỏi sang xâm lấn.

Sau truyền dến Tô Đan mang Tốc Sa, năm inh Thiên Thuận thứ ba (1459), còn sang triều cống nhà Minh. Sau đó không bao lâu, bị nước Chiêm Thành chinh phục, rồi nước Chiêm Thành lại bị Việt Nam ta thôn tính, sáp nhập vào xứ Nam Kỳ, tức là một giải sông vào khoảng mấy tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Sa Đéc bây giờ vậy.

*

Xét ra mấy nước ấy hồi thế kỷ thứ mười lăm vẫn còn hưng thịnh, thường vào cống hiến nhà Minh, đến khi suy nhược, bị Chiêm Thành thôn tính thì sử không nói rõ vào hồi nào song ta có thể đoán định rằng các đười chúa Nguyễn mở mang bờ cõi ở phía nam thôn tính dần dần. Đến năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu đánh nước Chiêm Thành, lấy nốt Phan Rang và Phan Rí, thì nước Chiêm Thành bấy giờ mới bị diệt hẳn, Lại dến năm 1739, đờichúa Nguyễ Phúc Khoát lấy được sáu tỉnh Nam Kỳ của Thủy Chân Lạp. Thế thì biết rằng mấy nước ấy đã bị tiêu diệt vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười bảy hay đầu thế kỷ thứ mười tam.

Ấy đại để những nước đó mấy trăm năm  trước khi bị ta chiếm đã từng hiển hách ở trên bán đảo chữ S này. Thế mà bây giờ chỉ còn mang mấy chữ tên, ghi trong sử sách, còn nòi giống thì bị ta đồng hóa cả rồi! Thực cũng đáng ngậm ngùi cho cuộc thịnh suy và lữ hưng ong của các dân tộc ấy.

Ôi, cái lý “mạnh được, yếu thua, khôn sống, mống chết” xưa nay vẫn thế, ta cũng nên ngắm trước mà nghĩ sau…

***

Nhatbook, Nam tiến

Bản đồ dẫn qua cuộc nam tiến của nước Việt Nam:

  1. Năm 1067, vua Lý Thánh Tôn đánh nước Lâm Ấp. Chế Củ bị bắt xin dâng 3 châu để chuộc tội, là Địa Lý, Mã Linh và Bố Chính, gồm cả quận Nhật Nam tức là Quảng Bình, Quảng Trị bây giờ.
  2. Năm 1307, vua Trần Anh Tôn nhận 2 châu Ô và Lý của Chế Mân dâng làm lễ cưới Huyền Trân Công Chúa, bèn đổi tên là Thuận Châu và Hở Châu, tức tỉnh Thừa Thiên bây giờ.
  3. Năm 1402, Hồ Quý Ly sai Đỗ Mẫn đánh nước Chiêm Thành. Vua nước ấy là Ba Đích dâng đất Chiêm Động (thủ Thăng Bình tỉnh Quảng Nam). Quý Ly lại bắt phải dâng đất Cổ Lũy, gồm lại đặt thành 4 châu, tức phía bắc đất Quảng Ngãi bây giờ.
  4. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn đánh Trà Toàn ở thành Đồ bàn (Vjaya) và cửa Thị Nại (tỉnh Bình Định), gồm cả Đồ Bàn, Đại Chiêm và Cổ Lũy, lập thêm đạo Quảng Nam.
  5. Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng đánh Chiêm Thành, lấy đất lập ra phủ Phú Yên, có 2 huyện Đồng Xuân và Tuyên Hóa (phía nam tỉnh Bình Định bây giờ)
  6. Năm 1653, chú Nguyễn Phúc Tần đánh Chiêm Thành, lấy tỉnh ‘Kauthara, tức tỉnh Khánh Hòa bây giờ.
  7. Năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu đánh lấy đất Phan Rang và Phan Lý, gồm hai phủ Yên Phúc và Hòa Đa. Thế là nước Chiêm Thành từ đó mất hẳn!
  8. Nước Qua Oa ngày trước (Biên Hòa, Bình Thuận bây giờ) nhập vào bản đồ Việt Nam, năm 1759 đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Trước gọi là Thủy Xá và Hỏa Xá, thuộc xứ Thủy Chân Lạp.
  9. Nước Tam Phật Tề ngày trước cùng bị thông tính vào hồi chúa Nguyễn Phúc Khoát (vào khoảng mấy tỉnh Tân An, Mỹ Tho và Bến Tre bây giờ).
  10. Nước Mãn Thích Đa ngày trước cũng chung một số phận như 2 nước trên, vào hồi nước Việt Nam thôn tính xứ Thủy Chân Lạp. (tức là một giải sông vào khoảng mấy tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh và Sa Đéc bây giờ)
  11. Xứ Thủy Chân Lạp bị thôn tính vào khoảng năm 1759, sau lập ra 6 tỉnh Nam Kỳ, do võ công chiến thắng của các đời chua Nguyễn.
    1. Kinh thành Phật Thệ (Yudrapura) ở làng Nguyệt Biểu, tỉnh Thừa Thiên. Vua nước Lâm Ấp là Dương Đà bài lập nên từ năm Thuần Hóa nhà Tống (990-994).
    2. Kinh đô Trà Kiệu (Simhapura) gần Trà Kiệu tỉnh Quảng Nam là một kinh đô rất phồn thịnh của nước Chiêm Thành vào hồi từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII.
    3. Kinh Đo Chà bàn (Vijaya). Sách Việt Nam văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh trang 22 nói Chà bàn tức là thành Phật Thệ đời trước, ở huyện Tuy Viễn tỉnh Bình Định. Năm 1470 vua Lê Thánh Tôn đánh Chiêm Thành, cua nước ấy là Trà Toàn bị giết, thành Chà bàn bị mất từ đó.

*

để lại phản hồi