Quan Điểm

Đường chín đoạn: pháp lý kiểu Trung Quốc


Đường chín đoạn: pháp lý kiểu Trung Quốc

Douglas Guilfoyle

Phan Văn Song dịch


Trung Quốc đưa ra những yêu sách khét tiếng về các quyền đặc biệt trên biển ở Biển Đông bên trong “đường chín đoạn” trên bản đồ chính thức của Trung Quốc. Nguồn gốc chính xác của đường này vẫn còn mờ mịt. Đường chín đoạn không hề xuất hiện trên bản đồ chính phủ trước năm 1947 hoặc trong các bản đồ tư nhân trước năm 1933. Cho tới năm 2013, các học giả hàng đầu của Trung Quốc đã chấp nhận rằng Trung Quốc chưa bao giờ nói rõ ý nghĩa pháp lý của đường này.

Những tuyên bố gần đây của Trung Quốc đối với quyền tài phán độc quyền với các nguồn tài nguyên nằm bên trong đường đó đã làm tăng căng thẳng không những về dầu mỏ, mà còn về nguồn thủy sản bị khai thác quá mức và đang suy giảm, “nền tảng cho an ninh lương thực của cư dân ven biển có số lượng hàng trăm triệu người”. Nhưng lập luận pháp lý của Trung Quốc về Biển Đông cần được nhìn trong cả bối cảnh lịch sử lẫn dưới ánh sáng của chủ thuyết chiến tranh thông tin của Trung Quốc.

Luật pháp đóng một vai trò quan trọng trong tranh chấp về đường chín đoạn vì đường này cắt sâu vào những khu vực mà các quốc gia ven biển khác, trong đó có Việt Nam và Philippines coi là vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) của họ theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS). Điều mỉa mai là trong các cuộc đàm phán dài hơi dẫn đến UNCLOS, Trung Quốc là nước chính yếu bênh vực khái niệm EEZ, khi chính họ liên kết với các nước đang phát triển chống lại Nga và Hoa Kỳ.

KM-Tiki sach dinh ti

Rất có ích khi xét lại các vấn đề vốn là mối quan tâm cơ bản của Trung Quốc trong các cuộc đàm phán UNCLOS. Những vấn đề này đã được lưu giữ lại trong các văn bản diễn giải của Trung Quốc nộp cho Ủy ban đáy biển của Liên Hiệp Quốc vào đầu những năm 1970, và trong các phát biểu mà Trung Quốc đưa ra trong quá trình đàm phán.

Trung Quốc bênh vực cho 5 quan điểm chính:

Một là không có chiều rộng tối đa cố định cho lãnh hải – kích cỡ lãnh thổ biển của một quốc gia là một quyết định có tính chủ quyền phải được hình thành bởi nhu cầu kinh tế và an ninh.

Hai là tàu chiến không có quyền tự động đi qua vô hại xuyên qua lãnh hải và eo biển.

Ba là eo biển Quỳnh Châu và vịnh Bột Hải rộng lớn của Trung Quốc có trạng thái (status) đặc biệt là “nội thủy”.

Bốn là ranh giới biển phải được giải quyết chỉ bằng tham vấn và UNCLOS không nên đưa ra quy định nào cho việc giải quyết bằng luật pháp các tranh chấp đó.

Năm là một quốc gia lục địa có chủ quyền đối với một quần đảo xa bờ có thể vẽ đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo đó và dùng nó để tính lãnh hải.

Đáng chú ý, mặc dù Trung Quốc yêu sách rõ ràng trạng thái đặc biệt đối với một số vùng biển, nhưng họ chưa từng làm điều như vậy với Biển Đông. Trung Quốc vẫn luôn giữ yêu sách đối với eo biển Quỳnh Châu và vịnh Bột Hải suốt các cuộc đàm phán cùng lập trường về tàu chiến và việc đi qua vô hại. Nhưng Bắc Kinh đã từ bỏ lập trường về chiều rộng của lãnh hải và về “quần đảo xa bờ”. Ghi nhận lịch sử này cho thấy việc Trung Quốc gần đây tự cho mình được có “quyền lịch sử đặc biệt” bên trong đường chín đoạn là sản phẩm của một yêu sách pháp lý rất mới.

Một đòn mạnh giáng vào lập trường của Trung Quốc và ủng hộ các quốc gia ven biển được hưởng EEZ “bình thường” của họ là vụ Philippines kiện Trung Quốc ra Tòa trọng tài thường trực The Hague. Kể từ đó, Chính phủ Trung Quốc quay lại phiên bản lập luận “quần đảo xa bờ” mà họ từ bỏ trước đây trong các cuộc đàm phán UNCLOS, một lập luận được Hội Luật quốc tế Trung Quốc hồi sinh trong bài “nghiên cứu có phê phán” về phán quyết của trọng tài vụ Philippines kiện Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc khẳng định họ có thể gom nhiều thực thể địa lý biển khác nhau nhập thành “quần đảo”, bao bọc chúng trong đường cơ sở thẳng và từ đó tính ra EEZ mới!

Lập luận này vừa mang tính xét lại về mặt lịch sử, vừa không thuyết phục về mặt pháp lý. Tuy nhiên, bên cạnh việc tạo ra các yêu sách EEZ, việc mô tả lại các thực thể địa lý biển là các đảo hoặc quần đảo còn cho phép Trung Quốc khẳng định các tàu chiến Mỹ bị hạn chế trong việc đi lại gần các thực thể địa lý biển đó. Hoa Kỳ vẫn luôn cho rằng các thực thể như vậy không có khả năng tạo ra lãnh hải và rằng họ đang thực hiện quyền tự do đi lại áp dụng trong EEZ, hoặc trên vùng biển khơi (quốc tế). Nhưng tại sao Trung Quốc lại bận tâm đưa ra những lập luận như vậy?

Trung Quốc hiểu rõ sức mạnh của luật pháp. “Tam chiến pháp” (thuyết “Ba cuộc chiến”) của họ vạch một bộ ba phương pháp phi động lực (một cách gọi khác của “bất chiến tự nhiên thành”) để đạt được các mục tiêu quốc gia của Trung Quốc: chiến tranh dư luận, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý (“đấu luật”) được học giả Doug Livermore giải thích là “tận dụng các chế độ và quy trình pháp lý hiện có để hạn chế hành vi của đối thủ, tranh cãi các điều kiện bất lợi, làm mơ hồ án lệ và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Chức năng của ba cuộc chiến là tăng cường tính chính đáng cả bên trong lẫn bên ngoài Trung Quốc. Tranh cãi về các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông tự nó được xem là nỗ lực làm suy yếu tính chính đáng của Trung Quốc. Nhận thức lập luận pháp lý đưa ra chống lại họ như một dạng xung đột chiến lược, Trung Quốc tự coi mình bị bao vây bởi các mối đe dọa bên trong và bên ngoài.

Hi vọng rằng Trung Quốc – trong tư cách một cường quốc biển đang trỗi dậy – sẽ có lập trường về pháp lý gần gũi hơn với các cường quốc hàng hải truyền thống hơn đã chưa thành hiện thực. Các học giả về luật và quan hệ quốc tế cần nhận thức rõ rằng các lập luận pháp lý của Trung Quốc trong lĩnh vực biển, dù có tính cơ hội, không phải là không có nguồn gốc lịch sử trong tư duy pháp lý của Trung Quốc. Trung Quốc cũng hiểu rằng để tận hưởng và khai thác những gì đạt được bằng vũ lực đòi hỏi phải có sự củng cố qua luật pháp. Tranh luận các yêu sách biển là một cuộc đấu tranh pháp lý được thực hiện trong lĩnh vực ý tưởng. Luật pháp Trung Quốc không chỉ đơn giản là tô vẽ cho việc “chiếm đoạt đất, biển”. Nó là một phần của việc chiếm lấy đất đấy.■

***

(*): Douglas Guilfoyle là phó giáo sư luật quốc tế và an ninh tại Đại học New South Wales (UNSW), Canberra, Úc. Ông chủ trì nhóm nghiên cứu an ninh hàng hải ở UNSW. Nhóm nghiên cứu này thu hút các học giả quan tâm đến an ninh trong lĩnh vực hàng hải vượt qua các ranh giới chuyên ngành, thực hiện cách tiếp cận rộng đối với an ninh hàng hải, một vấn đề không chỉ bao gồm các mối quan tâm về an ninh cứng truyền thống, mà còn cả an ninh con người, tội phạm hàng hải và ‘kinh tế xanh’. Nhóm này có trình độ chuyên sâu về luật, lịch sử, chiến lược quốc tế, các vấn đề hải quân và một loạt các viễn cảnh khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Trọng tâm hiện tại của nó bao gồm luật biển, tranh chấp biển Đông, và các vấn đề rộng lớn hơn về cương quốc biển và đấu tranh luật pháp. Nhóm bao gồm các nhà nghiên cứu của trường, các nhà nghiên cứu hậu đại học, các nghiên cứu sinh và hợp tác với các cộng tác viên bên ngoài thuộc nhiều lĩnh vực học thuật, chính phủ và chính sách.


Nguồn: Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Nhatbook đặt lại tựa


 

Advertisements
KM-Đọc sách siêu tốc

Gửi phản hồi