Tư liệu

Những truyền thuyết đời thượng cổ của nước ta


Những truyền thuyết đời Thượng cổ của nước ta

Đào Duy Anh

Tri Tân Tạp chí số 30 – 1942


Theo truyền thuyết thì nhà vua đầu tiên của nước ta là họ Hồng bàng, sáng nghiệp từ năm 2879 trước tây lịch.

Nguyên cháu ba đời vua Thần Nông nước Trung Hoa là Đế Minh, sinh được con trai là Đế Nghi rồi đi tuần thú xuống phương Nam. Đến miền Ngũ Lĩnh, Đế Minh gặp một cô tiên, lấy làm vợ và sinh được một người con trai đặt tên là Lộc Tục. Đế Minh thấy Lộc Tục thánh, trí, thông minh, nên yêu chuộng lắm, muốn truyền ngôi cho, nhưng Lộc Tục không chịu. Sau Đế Minh truyền cho Đế Nghi làm cua ở phương Bắc và Lộc Tục làm vua ở nước Xích Quỉ, ở phương Nam, Hiệu là Kinh Dương Vương.

Một hôm Lộc Tục gặp một người con gái chăn dê tự xưng là con gái vua hồ Động Đình là Thần Long, lấy làm vợ và sinh được một con trai đặt tên là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, là con gái Đế Lai, con trai của Đế Nghi. Âu Cơ sinh được 100 cái trứng nở thành một trăm người con trai. Một hôm Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng mà nàng là giống tiên, thủy hỏa khác nhau, không thể ở cùng nhau được”. Hai người bèn chia con, 50 người theo mẹ lên miền núi, 50 người theo cha xuống miền biển. Người con trưởng theo Long Quân được nối ngôi vua, đặt tên nước là Văn Lang. Đông giáp biển, Tây giáp đất Ba Thục, Bắc đến hồ ĐỘng ĐÌnh, nam đến nước Hồ Tôn tức là nước Chiêm Thành ngày nay.

KM-Sách ngoại giá nội

Đó là chuyện nòi giống Tiên Rồng của người Việt Nam vậy.

Xét truyền thuyết ấy, ta có thể nhận thấy ngay tính chất hoang đường của nó ở những chỗ gặp tiên nữ, gặp Long nữ, cùng đẻ trứng. Ta càng xét kỹ, ta càng thấy nó là hoang đường, vì cháu vua Thần Nông là nhân vật thần thoại (1), không thể nào đi tuần thú ở miền Ngữ Lĩnh là miền đến đời Tần mới thuộc vào bản bộ nước Trung Hoa, vì nước Văn Lang không thể gồm cả nửa phía Nam Trung Quốc và nửa phía Bắc Việt Nam ngày nay theo như giới hạn kể trên.

Cái tên Hồng Bàng cũng đã không phải là một tên thiệt. Hồng Bàng, cũng như Hồng Mông (Trang Tử), hay là Bàng Hồng (Trương Hành), nghĩa là nguyên khí chưa chia, trạng thái lộn xộn mù mịt buổi đầu. Xét nghĩa chữ ấy, ta có thể đoán rằng người xưa đặt ra để gọi triều Vua thứ nhất của giống ta là chỉ cốt chỉ phiếm cái thời kỳ tối tăm trong lịch sử.

Tại sao người ta lại tìm nguồn gốc ở tận giòng dõi Thần Nông? Điều ấy là do cái ý của người ta muốn cho nòi giống mình là cao quý. Do điều ấy ta lại có thể nhận thấy rằng truyền thuyết xưa đã bị xếp đặt lại trong thời kỳ Bắc thuộc rồi.

Chuyện Lộc Tục gặp con gái Thần Long mà sinh ra lạc Long Quân chỉ là một di tích của chế độ tô-tem. Đến như việc Âu Cơ sinh một trăm con, một nửa theo cha, đó chẳng qua là lịch sử thần thoại hóa của các rợ ở miền Ngũ Lĩnh mà sách sử xưa gọi là các rợ Bách Việt do nước Xích Quỷ chia ra. Chữ Bách Việt vốn không phải là tên nước, chỉ là tiếng gọi chung của các rợ ấy, phần nhiều là giống Anh-đô-nê-diêng, đương còn ở trạng thái cởi truồng hay đóng khố (Xích quỉ là quỉ ở truồng).

Theo sử xưa thì các nước Bách Việt là do nước Việt ở miền Giang Tô Chiết Giang bị nước Sở đánh mà tan rã đi ở rải rác ở miền nam nước Trung hoa. Trong các rợ ấy, trọng yếu nhất là rợ Miêu, rợ Lô Lô từ xưa ở miền Hồ Nam, rợ Má xưa ở miền Chiết Giang, cùng rợ Kinh man xưa ở miền trung lưu sông Dương Tử vào khoảng hồ Động ĐÌnh, mà nhà Trung Hoa học Aurousseau cho là thủy tổ của các rợ Việt. Các rợ ấy hẳn là thuộc về một chủng tộc, mà theo các nhà nhân chủng học ngày nay thì hậu duệ của họ, hiện ở miền Nam nước Trung Hoa và miền thượng du xứ Bắc Kỳ, là về giống Anh-đô-nê-diêng.

Một rợ trong đám Bách Việt ấy, tức là rợ Lạc Việt, sau cuộc chinh phục của Tần Thủy Hoàng (221 trước kỷ nguyên) sẽ lại với giống Mông Cổ mà thành tổ tiên của giống Việt Nam ngày nay.

Truyền thuyết nói Lộc Tục gặp con gái thần Long ở hồ Động Đình, và cho rằng nước Văn Lang xưa phía Bắc giáp đến hồ, ấy là nhơ lại nơi phát tích của rợ Việt (vốn là rợ Kinh man) vậy.

Truyền thuyết nói Lạc Long Quân là con Lộc Tục lấy Âu Cơ là con Đế Lai, mà Đế Lai là con Đế Nghi là anh ruột của Lộc Tục. Đó là một dấu hiệu khiến ta có thể nhận rằng bấy giờ là xã hội mẫu hệ. Long Quân và Âu Cơ theo phụ hệ thì là một họ, mà theo mẫu hệ thì chẳng có quan hệ gì với nhau.

Việc Âu Cơ đem 50 con trai lên miền núi lại là một dấu hiệu của chế độ mẫu hệ nữa. Việc Lạc Long Quân đem 50 con trai xuống miền biển và phong cho con đầu làm vua ở nước Văn Lang khiến ta có thể xem đó là dấu hiệu của cuộc cách mệnh do chế độ mẫu hệ chuyển sang chế độ phụ hệ, mà có lẽ là chế độ phong kiến cha truyền con nối.

Con trưởng của Lạc Long Quân làm vua nước Văn lang, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương. Nhà Trung hoa học H. Maspero đã đính chính chữ Hùng Vương bằng những chứng cứ rất chắc chắn, mà nói rằng chính là chữ Lạc Vương, cứ không phải Hùng Vương. Ta muốn biết rằng rợ Việt mà truyền thuyết của ta gọi là nước Văn Lang, vốn tên là Lạc Việt; ta có thể cắt nghĩa chữ ấy là: rRợ Việt họ Lạc, hay là rợ Việt thuộc về thị tộc (clan) Lạc. Tổ tiên tô-tem của rợ ấy lad rồng hay rắn, truyền thuyết bèn gọi là Lạc Long Quân. Ruộng nương của họ gọi là lạc điền, dân cày ruoojgn ấy bèn gọi là lạc dân. Chữ Hùng Vương hay Lạc Vương là tên gọi của các vua phong kiến tiếp nối nhau, cũng như lãnh chủ ở bậc dưới thì gọi là Lạc hầu, lạc tướng.

***

Truyền thuyết cho rằng HÙng vương đời cuối cùng có con gái là Mỵ Nương, nhan sắc rất đẹp. Vua nước Thục nghe tiếng muốn cầu hôn, Hùng Vương thuận gả, nhưng Lạc hầu (chức phong kiến ở dưới vua) can và nói rằng đó là mưu của vua nước Thục muốn cướp nước mình. Bị khước, vua Thục giận lắm. sau đó có hai người đàn ông đến bái yết nhà vua và xin kết hôn với Mỵ Nương. Vua lấy làm lạ, hỏi thì đáp rằng một người là Sơn Tinh, một người là Thủy tinh. Nhà vua bối rối không biết nhận lời ai, bèn hẹn sáng mai ai đem sính lễ đến trước thì được vợ. Sáng mai, Sơn Tinh đem đồ châu báu bạc vàng, cùng các sơn cầm dã thú đến làm lễ, vua bèn gả con gái cho. Sơn Tinh rước vợ về núi Tản Viên. Thủy Tinh đến chậm, hối hận không kịp, bèn nổi mây mưa và dâng nước lên, và đốc suất các loài thủy tộc đuổi theo. Sơn tinh dăn lưới sắt để ngăn sông ở phía trên Từ Liêm, Thủy Tinh lại theo dòng sông khác mà vào miền chân núi Quảng Uy, lên cửa Hát Giang, chỗ nào cũng xoi thành đầm thành vực để chứa nước mà hãm núi Tản Viên. Sơn Tinh bèn dùng phép, gọi người Mán đan tre làm rào để chặn nước và dùng nỏ mà bắn, các loài tôm cá trúng tên chạy trốn cả, Thủy tinh phải lui. Nhưng từ đó, mỗi năm thủy Tinh vẫn nhớ giận xưa, cứ dâng nước lên để toan đánh Sơn Tinh.

Sau khi Mỵ Nương lấy Sơn Tinh, vua Thục lại càng căm tức nữa, trước khi chết dặn lại con cháu thế nào cũng phải đánh lấy nước Văn lang để rửa thù.

Chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh là một cách giải thích thần bí của dân chúng đối với cái hiện tượng ngập lụt hàng năm là cái tai nạn không kém gì họa chiến tranh cho nhân dân ở miền lưu vực sông Hồng Hà. Thao các nhà cổ học thì những chuyện truyền kỳ đem nước và lửa hoặc biển và núi đối kháng nhau như chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh và chuyện lạc Long Auan và Âu Cơ chia con rất phổ thông trong cổ truyền của các rợ về giống An-đô-nê-diêng, có lẽ vì giống người ấy tự miền lục địa Châu Á tỏa ra miền biển ở phía đông đã từng lấn lướt giống người thổ trước các xứ họ chinh phục, duồng đuổi vào miền núi mà chiếm lấy đất đồng bằng và bờ biển.

***

Về nửa thế ỷ thứ 3 trước kỷ nguyên, sau khi thống nhất nước Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng muốn chinh phục các xứ Bách Việt, trước là để từ những dân tộc láng giềng hiếu chiến có thể gây rối ở biên thùy, sau là để chiếm lấy những miền đất phì nhiêu và rất giàu những những sản vật quí như sừng tê, ngà voi, san hô, tân châu, vàng bạc. Năm 221 TCN, vua Tần bèn phái đại đội binh mã, chia ra 5 đạo, mỗi đạo 10 vạn người, qua 5 cửa ải của Nam Lĩnh. Đạo thứ nhất lấy được rợ Đông Âu, rvaf rợ Mân Việt ở Thiết Giang vá Phúc Kiến, thẳng đường xuống liên hợp với hai đạo kasc đã đánh được rợ Nam Việt ở miền Quảng Đông. Đạo thứ tư và đạo thứ năm thì đánh Quảng Tây và lưu vực sông Tây Giang. Sau những cuộc thắng lợi dễ dàng thu được trong khoảng một năm, quân nhà Tần muốn thẳng đường đánh luôn Tâu Âu. Nhưng đến đấy thì cuộc chinh phục trở thành gay go: Người Âu Việt chống cự rất kịch liệt. Trong vòng 3 năm quân Tần không làm gì nổi, một là vì giống Tây Âu vốn dũng cảm hơn các rợ kia, hai là vì vận lương hiểm trở lắm. Nhưng sau nhờ Sử Lộc đào kênh để vận lương đến miền Tây Giang và phía bắc Bắc Kỳ, quân Tần mới thắng trận và giết được tù trưởng là Địch Hữu Tống. Nhưng người Tần càng tiến thì người Tây Âu càng lui trốn vào trong rừng rú, không chịu thần phục, rồi sau lựa những người kiệt tuấn tôn lên làm tướng, thình lình trổ ra phản công, giết được viên hiệu úy quân Tần là Đồ Thư. Quân Tần phải lùi lại. Nhưng vào khoảng năm 218-217 TCN, nhà Tần phái Nhân Hiêu làm quan úy quận Nam Hải và Triệu Đà làm quan Lệnh huyện Long Xuyên, đem vô số những người tù tội bị đày để đóng giữ những đất đã chiếm được và thêm sức cho quân đội chinh phục. “Sử không chép quân nhà Tần sang đánh lại rợ Tây Âu thế nào. Nhưng ta có thể tưởng rằng cuộc chinh phục ấy được hoàn toàn thành công, nhờ có cuộc thực dân và tổ chức binh bị” (2).

Nhưng khoảng tháng 7-8 năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng mất, khiến nước Tủng Hoa vừa mới thống nhất nhờ bà tay sắt của của vị hoàng đế anh hùng ấy, lại phải chìm vào một cuộc loạn lạc lâu daafi. Có lẽ trong khoảng loạn lạc ấy, nhân Tượng quận là đất xa xôi, và quân đồn trú yếu sức, nên một người cháu vua nước Thục nào đó (3) chắc rằng Trung Quốc có loạn, bèn đánh chiếm lấy Tượng QUận, giết những Lạc Vương và Lạc hầu, Lạc tướng trọng yesu, và áp phục các phong kiến chúa khác, dựng lên một triều vua thứ nhất của giống Việt Nam, tức là nhà Thục. Vua Thục đặt tên nước là Âu Lạc, lấy hiệu là An Dương Vương, đinh đô ở Phong Khê và xây Loa Thành (hiejn nay là làng Cổ Loa, tỉnh Vĩnh Yên) để giữ nước.

Trong khi ấy thì ở Trung Hoa, đầu năm 208, Nhâm Hiêu gần chết, cho gọi Triệu Đà đến và khuyên Triệu Đà nên nhân dịp loại ấy mà độc lập. Nhâm Hiêu mất, Đà thay Hiêu lên làm quan Úy quận Nam hải. Sau đó Triệu Đà chiếm cứ luôn cả quận Quế Lâm và Tượng Quận.

Theo truyền thuyết của ta thì Triệu Đà đem quân đánh nước Âu Lạc, nhưng An Dương Vương đã nhờ được thần Kim Qui giúp cho đắp được Loa Thành lại cho một cái móng để làm nẩy nỏ – đem nỏ thần ra bắn tan được quân của Triệu Đà. An Dương Vương dẫu thắng trận mà cũng chia đất cho Triệu Đà để giảng hòa. Con Đà là Trọng Thủy kết hôn với con gái An Dương Vượng là Mỵ Châu. Trọng Thủy lừa vợ để xin xem nỏ thần rồi ăn cắp lẩy lỏ và trở về xui cha tiến binh. An Dương Vương đã mất nỏ thần, bị quân Đà đánh, phải bỏ thành đem con chạy trốn. Chạy đến chỗ núi Mộ Dạ, Phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ngày nay. An Dương Vương thấy trước mặt là biển, sau lưng là giặc, không chạy được nữa, bèn cầu cứu với thần Kim Qui. Thần Kim Qui nổi lên mặt nước bảo cho vua rằng giặc tức là con gái nhà vua. An Dương Vương giận con, rút gươm chém, nhưng trước khi chết, Mỵ Châu nguyện được hóa làm châu ngọc để tỏ lòng trung trinh. Máu Mỵ Châu chảu xuống biển, hóa ra ngọc trai. An Dương Vương sau khi chém con thì nhảy xuống biển mà biến mất. Còn Trọng Thủy nhờ được lông ngỗng của vợ rải trong khi chạy trốn để đánh dấu đường, tìm được đến nơi thu xác vợ về chôn ở Loa Thành và thương xót quá, nhảy xuống cái giếng là nơi Mỵ Châu thường tắm rẳ mà chết theo.

Sách xưa của người Trung QUốc không chép việc Triệu Đà đánh An Dương Vương để chiếm cứ Tượng Quận, nhưng cứ truyền thuyết ấy, nếu ta bỏ đi những yếu tố hoang đường, thì cũng còn lại cái kỷ niệm của một cuộc chiến tranh hẳn có.

Nhưng truyền thuyết cho rằng nhà Thục lập quốc từ năm 257 thì sai, vì An Dương Vương chiếm được đất Lạc Việt là nhờ cuộc rối loạn sau khi Tần Thủy hoàng chết, vào cuối năm 210. Vậy thì nhà Thục chỉ trị vì được từ năm 210 đến năm 208 là năm Triệu Đà xưng vương nước Nam Việt.

***

Chú thích:

(1). Xem bài “Truyền thuyết đời thượng cổ của nước Tàu” ở Tri Tân số 24.

(2) la Premiere conquete Chinoise des pays annamites par Auroussau B.E.F.E.O. XXIII p237

(3) Theo truyền huyết, Phán là cháu ông vua nước Thục trước kia cầu hôn Mỵ Nương, con vua Hùng Vương cuối cùng mà không được.


Bản scan tại đây: <LINK>


*

Advertisements
KM-Tiki sach dinh ti

Categories: Tư liệu

Tagged as: ,

Gửi phản hồi