Khoa học xã hội

Nguồn gốc người Việt: hướng tiếp cận từ ngôn ngữ


Nguồn gốc người Việt: hướng tiếp cận từ ngôn ngữ

Hồ Trung Tú


Tiếng Việt, nhiều người vẫn tin chắc rằng nó đã có từ thời Hùng Vương, hai Bà Trưng, có thể khác với ta hôm nay chút ít nào đó nhưng chắc chắn nó cũng phải là thứ tiếng Việt ta có thể nhận ra và nghe hiểu được. Thế nhưng có điều lạ, mặc dù nó đã được các nhà ngôn ngữ nói đến từ lâu, rằng tiếng Việt ta dùng hôm nay có đến 70% là tiếng hán, 30% còn lại thì phần lớn là Môn-Khơmer, phần còn lại là Tày – Thái. Vài cí dụ nhỏ như: chó má thì chó là Môn-Khơmer còn má là Tày Thái; chợ búa cũng vậy, chim chóc, rừng rú, đẹp đẽ, mặn mà… cũng đều vậy. Vậy tiếng Việt ở đâu? Đâu là tiếng Việt mà ta hay tự hào là đã có từ thời Hùng Vương? Và Bà Trưng nói thứ tiếng Việt nào? Liệu lúc đó Bà Trưng chỉ nói tiếng Hán hay chỉ nói tiếng Tày Thái, tiếng Môn-Khơmer và chưa có sự hòa nhập cả 3 thành một như hiện nay? Và quan trọng hơn, nếu không nói là quan trọng nhất là sự hòa hợp đó đã xảy ra ở đâu, bao giờ và như thế nào vì qua đó sẽ giuso ta giải mã được một cách rốt ráo nguồn gốc người Việt hiện nay.

Có ý kiến cho ằng người Việt từ Hồ Động Đình xuống nên 70% tiếng Hán đó chính là Việt cốt lõi rồi các tộc người khác mới hòa nhập vào tạo nên tiếng Việt nay. Luận điểm này thoạt nghĩ thấy đúng, thế nhưng trong cấu trúc ngôn ngữ thì ta lại thấy tiếng hán chỉ chiếm phần thượng tầng (những từ thể hiện trình độ phát triển của xã hội), tức những vốn từ có tính trừu tượng cao thuộc về chính trị, văn hóa, tôn giáo, triết học; còn những từ thuộc sinh hoạt đời sống hàng ngày thì lại thuộc về Môn-Khơmer và tày Thái… Lẽ nào tiếng hán không có những từ cơ bản như mắt, tai, lưỡi, ruộng, đồng, gò, bãi, lúa, gạo, chó, mefi…? Các nhà ngôn ngữ đã thống nhất từ lâu rằng chính lượng vốn từ cơ bản này mới quyết định một ngôn ngữ thuộc về ngữ hệ nào, dân tộc nào, những từ thượng tầng thường là vay mượn. Như trường hợp Thái lan, lào, Campuchia cũng vậy, những vốn từ thượng tầng đều vay mượn từ Ấn Độ khi họ du nhập chữ viết và tôn giáo. Cả châu Âu cũng vậy, vốn từ thượng tầng cũng đều vay mượn từ ngôn ngữ latin cổ.

Chính vì lý do này mà ban đầu, vào đầu thế kỷ XXX, Henry Maspero đề xuất xếp tiếng Việt vào ngữ hệ Tày-Thái, và sau đó, vào năm 1953, qua hai bài báo A.G.Hadricourt khẳng định lại, và được công nhận cho đến ngày nay, là tiếng Việt thuộc về ngữ hệ Môn-Khơmer.

Kết luận của Hadricourt xuất ohast từ việc so sánh những từ cơ bản ông thấy nó hoàn toàn thuộc ngữ hệ Môn-Khơmer, hơn nữa những đặc điểm Tày-Thái – Thái trong tiếng Việt như thanh điệu ông cũng chứng minh được nó là sự biến đổi từ nguyên gốc Môn-Khơmer.

Thế nhưng có điều lạ là ngữ pháp tiếng Việt thì lại thuộc về Tày-Thái. Xác định một ngữ pháp thuộc hệ nào, các nhà ngôn ngữ lấy phương pháp tạo từ mới làm chuẩn trước hết. Nếu tiếng Việt tạo từ mới bằng cách ghép, láy (ví dụ như rừng khi thêm rú thì sẽ có nghĩa khác, đỏ nhưng láy đo đỏ thì sẽ có màu ắc khác), trong khi đó thì người hệ Môn-Khơmer (ở Việt Nam gồm các nhóm dân tộc như nhóm Khmer, nhóm Bahnar, nhóm katu, nhóm Việt Mường,…) thì phương pháp tạo từ của họ là thêm các phụ tố (như tiếng Anh thêm các tiếp đầu ngữm tiệp vị ngữ). Ví dụ ở tiếng katu: cha là ăn, thì Chna: thức ăn; trcha: ăn qua ăn lại; prcha: ăn tiệc; pacha: cho ăn.

Rõ ràng sự hòa nhập của các tộc người, của các cộng đồng dân cư trên vùng đất hình chữ S này là sâu sắc, đến độc nó đã tạo ra một thứ hoàn toàn mới so với những gì nguyên mẫu trước đó. Việc đi tìm một nguồn gốc người Việt từ xa xưa, bất biến, thống nhất xuyên suốt từ nhiều ngàn năm qua rõ ràng là một hướng tìm kiếm thiếu khôn ngoan, nếu không nói là lạc hậu so với sự phát triển thế giới trong nghiên cứu lịch sử. Giáo sư sử học Liam Kelly không phải không có lý khi đọc tham luận về “một nền sử học đã chết” trong hội thảo Việt Nam Học lần thứ tư.

Vấn đề quan trọng không phải ở chỗ ta trả lời được nguồn gốc tiếng Việt hiện nay đang dùng mà phải trả lời cho được câu hỏi sự hòa nhập đó đã diễn ra như thế nào và bao giờ. Và đó mới là điều quan trọng nhất để có thể hiểu được nguồn gốc người Việt.

Đi tìm nguồn gốc người Việt luôn là niềm cảm hứng bất tận và thực tế cũng đã có rất nhiều người “đâm đầu” vào cuộc tìm kiếm như khó có kết thúc này. Nguồn sử liệu gần như đã được khai thác cạn kiệt và nhiều người đang tìm hướng mới ở truyền thuyết, huyền thoại, thần tích, thần phả. Tất cả gần như không có gì mới nữa, dường như các mảnh ghép đã có đủ nhưng bức tranh đâu là nguồn gốc người Việt vẫn chưa hiện lên rõ ràng.


Nguồn: Xưa và Nay, số 479 2017


*

KM-Tiki Nestcafe capuchino

Gửi phản hồi