Tư liệu

Tư tưởng “Đại nhất thống” và “Đại thống nhất” của Trung Quốc


Tư tưởng “Đại nhất thống” và “Đại thống nhất” của Trung Quốc

Nguyễn Hải Hoành


Lịch sử cho thấy các chính trị gia Trung Quốc (TQ) xưa nay dù thuộc ý thức hệ nào cũng đều theo đuổi mục tiêu thực hiện một quốcgia “Đại Thống Nhất” và “Đại Nhất Thống”.

Đại thống nhất (大統一ĐTN) là nói sự thống nhất lãnh thổ, các địa phương đều phục tùng sự lãnh đạo của một chính quyền trung ương. Đại Nhất Thống (大一統,Great unity, ĐNT) là nói trong một quốc gia phải thực hiện tập trung thống nhất cao độ về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, không cho phép có quan điểm khác nhau(hoặc đa nguyên như cách nói hiện nay).

Hai khái niệm trên tuy khác nhau nhưng đã hòa trộn thành một thứ tư tưởng mọc rễ trong giới chính trị gia TQ, triển khai thành hành động bành trướng lãnh thổ trên đất, trên biển với quy mô khiến thế giới phải cảnh giác. Thứ đặc sản tư tưởng này sinh ra tại một đất nước đông dân, đãtồn tại mấy nghìn nămnay và có lẽ còn lâu nữa.

Người TQ thường ca ngợi vương triều Tần có công chinh phục, thống nhất 6 nước trong thời gian 230-221 TCN. Thực ra đó là sự xâm chiếm, sáp nhập 6 nước đó vào nước Tầnthành một quốc gia lớn; sau đó vua Tần là Doanh Chính xưng Hoàng Đế, hiệu Tần Thủy Hoàng, lần đầu tiên ở TQ lập nên một đế chế có vị trí quốc tế. “Tần”tiếng Anh thời xưa đọc “Chin”,vì thế phương Tây gọi người TQ là “Người Tần”(Chin-ese), chứ không gọi “Người Hán” (Han-ese), “Người Hoa” (Hwa-n).

KM-tiki-xách ba lô lên và đi

Dường như giới chính trị TQ xưa nay đều ưa chinh phục, thống nhất nước khác vào nước mình và thực hành ĐNT. Đường lối ĐTN và ĐNT này từng phải trả giá bằng hàng triệu nhân mạng, kể cả trong thời bình [1]; bởi thế cần phải kịch liệt lên án.

Sau đời Tần tuy có những cuộc hỗn chiến thay đổi triều đại nhưng cuối cùng đều dẫn đến kết quả ĐNT. Sử TQ cho rằng các vương triều Tần, Tây Hán, Huyền Hán, Đông Hán, Tây Tấn, Tùy, Đường, Bắc Tống, Nguyên, Minh, Thanhđã thực hiện ĐNTdài hạn; các thời Tân Mãng, Tào Ngụy, Dân Quốc chỉ thực hiện ĐNT ngắn hạn. Thời Dân Quốc (1911-1949) ĐNT được 16 năm; từ 1927 hai phái Quốc Dân và Cộng sản đánh nhau liên tục. Các triều đại ĐNT đều phát triển văn minh TQ. Các chính quyền đại thống nhất mà không ĐNT đều nhanh chóng tan rã. Dường như ĐNT là vị thuốc tăng tuổi thọ cho các chính quyền TQ.

ĐNT dướitriều Hán Vũ Đế (156-87 TCN) là một ví dụ điển hình. Về chính trị: cả nước thống nhất chống lại sự xâm lược của Hung Nô; về kinh tế: cả nước làm kinh tế tiểu nông, lưu hành quan điểm trọng nông, chèn ép thương mại; về văn hóa tư tưởng: “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, xác lập địa vị thống trị của Nho giáo trong giới tư tưởng TQ suốt 2000 năm sau. Từ đó trở đi Nho giáo đã ảnh hưởng vô cùng lớn đến đời sống chính trị – tư tưởng ở TQ và Việt Nam, Triều Tiên…

Hiện nay Bắc Kinh cũng yêu cầu cả nước tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Trung ương, thẳng tay diệt mọi mầm mống các “sứ quân”kiểu Bạc Hy Lai, đề cao uy quyền của người lãnh đạo cao nhất, và đòi TQ có chủ quyền trên 90% diện tích Biển Đông.

Lược sử tư tưởng Đại Nhất Thống

KM-Sách ngoại giá nội

Từ “Đại Nhất Thống” chính thức xuất hiện lần đầu trong “Công Dương Truyện-Ẩn Công nguyên niên” 公羊傳隱公元年. Cùng Tả Truyện và Cốc Lương Truyện, đây là 3 bộ sách sử ra đời vào thời Chiến Quốc (475-221 TCN). Sách viết: 元年者何?君之始年也。者何?歲之始也。者孰謂?謂文王也。曷為先言而後言正月?王正月也。何言乎王正月?大壹統也。Tạm dịch: “Nguyên niên” là gì? Là năm đầu tiên vua lên ngôi. “Xuân” là gì?  Là mùa đầu tiên bắt đầu một năm. “Vương” là nói ai? Nói Chu Văn Vương. Vì sao nói “Vương” trước rồi mới nói “tháng Giêng”? Bởi lẽ đây là tháng Giêng do Chu Văn Vương xác lập. Tại sao nói tháng Giêng của Chu Văn Vương? Là đểbiểu thị sự Đại Nhất Thống.”

ĐNT ban đầuchủ yếu là lý luận giải thích sự thay đổi các vương triều, là ý tưởng sơ khai về xây dựng nhà nướccủa TQ; về sau mới mở rộng thành sự thống nhất cao độ của nhà nướctrên các lĩnh vực chính trị và văn hóa.

Tại TQ, quan niệm thống trị nhà nướckhởi nguồn từ thời Tam Đại (Hạ-Thương-Chu), các thế hệ vương triều hình thành từ sự ngưng tụ mối quan hệ huyết thống thị tộc; tức trong một thời kỳ nào đó, thế hệ đế vương thì dựa vào chế độ kế thừa dòng chính nối tiếp cha con. Khi quyền lực tối cao nắm trong tay một thành viên hoàng gia thì xã hội mới có thể cho rằngquyền lực tối cao ấy là hợp pháp; ngược lại là bất hợp pháp.

Lịch sử TQ tạo ra một truyền thống chính trị quan trọng: Để xây dựng một quốc gia đích thực, được thừa nhận, thì phải chiếm cứ một vùng đất đặc biệt và phải có một quyền lực tập trung. Vùng đặc biệt đó là vùng Trung Nguyên (còn gọi Hoa Hạ, sau này gọi là Trung Quốc), tức vùng trung – hạ lưu Hoàng Hà (trong phạm vi tỉnh Hà Nam hiện nay), nơi khởi nguồn văn minh Trung Hoa. Thế lực nào chiếm cứ vùng này thì sẽ có ý thức tự tôn mãnh liệt, tự cho có quyền cai trị, thậm chí đánh chiếm vùng khác. Nếu thế lực thống trị Trung Nguyên suy yếu thì các thế lực mạnh quanh đó sẽ tìm cách cướp lấy vùng này. Nhà Thương thay nhà Hạ, nhà Chu thay nhà Thương… đều phải giành được Trung Nguyên đã rồi mới giành được địa vị chính thống.

Vùng Trung Nguyên TQ nằm ở giữaĐông Á. Sau mấy nghìn năm,ngườiTrung Nguyên đã xây dựng được một nền văn minh rực rỡ, có những nhà tư tưởng, nhà phát minh… làm cho vùng này trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế, KHKT và chính trị, có sức hút đối với các vùng xung quanh.

Cho dù thời Tam Đại đã có quan niệm ĐNT nhưng đó chỉ là loại ý thức mơ hồ, chưa hệ thống hóa, lý luận hóa, bởi lẽ thời ấy TQ chưa xuất hiện các nhà tư tưởng.

Thời Xuân Thu, xã hội TQ loạn lạc, chia rẽ. Trong tình hình đó Khổng Tử (551-479 TCN) đã thiết kế một mô hình xã hội có trật tự, đề xuất “Lễ Nhạc Chinh phạt tự Thiên tử xuất”, nghĩa là Thiên Tử (đế vương) phải nắm quyền lực điều hành toàn bộ thiên hạ. Lão Tử chủ trương lấy “Nhất” làm gốc: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Mạnh Tử nói “Thiên vô nhị nhật, dân vô nhị vương” (Trời không có hai Mặt Trời, Dân không có hai vua)….Nhiều nhà tư tưởng khác cũng góp phần phát triển tư tưởng ĐNT. NhưĐổng Trọng Thư là người đã thực sự phát huy tư tưởng này một cách hệ thống hóa. Đổng nói “Xuân Thu đại nhất thống giả, thiên địa chi thường kinh, cổ kim chi thông nghị dã”. Ý nói: ĐNTthời Xuân Thu là đạo lý xưa nay của trời đất, không thể thay đổi. Có nhà nướcĐNTắt phải có tư tưởng thống nhất của nhà nước ấy; chỉ khi nào có sự thống nhất trên dưới thì mới bảo đảm thực thi thuận lợi các pháp chế, mệnh lệnh, quy tắc.

Một số yếu tố sau đây đã xúc tiến TQ thực hiện ĐNT:

– Thời xưa người của hai bộ lạc Viêm Đế và Hoàng Đế hòa huyết làm nên tộc Hoa Hạ (sau gọi là người Hán). Các vương triều TQ đều chủ trương di dân từ Trung Nguyên đến các vùng mới chiếm nhằm đồng hóa người bản xứ, hòa trộn họ vào tộc Hoa Hạ.

– Chữ Hán thuộc loại chữ biểu ý, vì thế nó có tác dụng như một chữ viết siêu ngôn ngữ, siêu dân tộc; các tộc người khác tiếng nói (khác phươngngữ) ở TQ cũng như các dân tộc ở gần TQ đều có thể dùng chung chữ Hán.

– Người TQ có văn hóa thờ tổ tiên, con cháu bao đời đều giữ ký ức về một cội nguồn, nhờ thế dễ hòa hợp đểthành một dân tộc, một quốcgia.

Tần Thủy Hoàng thực hiện Đại Thống Nhất và Đại Nhất Thống

Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) tên Doanh Chính, là nhà chính trị, nhà cải cách, nhà cai trị bàn tay sắt, người hoàn thành ĐNTHoa Hạ. Năm 247 TCN, cha là Tần Tương Vương chết, Doanh Chính 13 tuổi lên ngôi vua; năm 22 tuổi đích thân lo việc triều chính, gạt bỏ Thừa tướng Lã Bất Vi, trọng dụng Lý Tư. Năm 238 TCN, vua Tần theo kế của Lý Tư xác lập chính sách “Diệt chư hầu, thành Đế nghiệp, vi thiên hạ nhất thống” tức “Tiêu diệt các nước chư hầu, dựng cơ nghiệp đế vương, thực hiện ĐNT thiên hạ”. Theo “Sử ký – Lý Tư liệt truyện” thì “Thành đế nghiệp” là chủ trương chính trị của Nho giáo.

Thời gian 230-221 TCN nhà Tần dùng sách lược “Viễn giao cận công” để diệt dần từng nước chư hầu, lần lượt chiếm cả 6 nước.

Trước tiên diệt Hàn, nước nhỏ yếu nhất ở cạnh Tần. Chỉ bằng cách dùng nội gián mà Tần buộc Hàn phải đầu hàng. 45 vạn quân nước Triệu đến giúp Hàn tuy đã ra hàng nhưng vẫn bị giết hết. Vua Hàn Vương An bị xử tử theo hình phạt “Ngũ mã phanh thây”. Sự tàn ác khủng khiếp của quân Tần khiến cho các nước chư hầu kinh sợ

Nước Triệu duy nhất đủ sức chống Tần, nhưng do sai lầm chiến thuật mà lụn bại dần. Tần dùng kế ly gián khiến vua Triệu giết tướng giỏi Lý Mục, vì thế quân Triệu thua phải đầu hàng, vua Triệu bị giam cho tới chết.

Thấy Hàn, Triệu bị Tần diệt nhanh và tàn ác thế, nước Ngụy mất hết sức chiến đấu. Kinh đô Đại Lương của Ngụy ở vào chỗ trũng; tướng Tần Vương Bôn tháo nước sông cho ngập thành làm chết 10 vạn người nước Ngụy. Vua Ngụy đầu hàng rồi cũng bị giết.

Vua Sở là Xương Bình Quân, thủa nhỏ cùng sống với Doanh Chính, thân nhau lắm. Sau khi bức Lã Bất Vi chết, vua Tần chọn Xương làm Thừa tướng. Nhưng khi Tần cử Lý Tín đem 20 vạn quân đánh Sở thì cuối cùng Xương vẫn trở về tổ quốc mình, đánh cho Lý Tín đại bại. Về sau Tần Thủy Hoàng cử Vương Tiễn đem 60 vạn quân đánh Sở lần nữa. Cuối cùng Sở thua, Xương Bình Quân chết.

Yên là nước thứ 5 bị nhà Tần đánh. Nước Yên nhỏ yếu nên biết chắc nếu bị đánh là thua. Vả lại vua Yên vốn có tư thù với Tần Thủy Hoàng: Thái tử Đan từng phái Kinh Kha đi Hàm Dương ám sát Tần Thủy Hoàng nhưng không thành. Vua Yên hèn nhát, dâng nhà Tần thủ cấp Thái tử Đan để Tần hoãn chiếm Yên 4 năm. Nhưng cuối cùng nhà Tần vẫn cứ chiếm nước Yên rồi giết vua Yên.

Tề quốc là nước thứ 6 trong “Chiến quốc Thất hùng” bị Tần “chinh phục, thống nhất”. Sau khi diệt 5 nước, nhà Tần rất mạnh, khiến quân Tề sợ hãi, rối loạn. Tần Thủy Hoàng phái người đến bảo vua Tề là nếu đầu hàng thì sẽ ban cho 500 dặm đất. Vua Tề cả tin nên nước mất nhà tan, bản thân bị bỏ vào rừng sâu rồi chết đói.

Giết vua của 6 nước nhưng nhà Tần lại biệt đãi các cung phi của họ. Ai xinh đẹp đều được đưa về ở Cung A Phòng tráng lệ làm nô lệ tình dục cho Hoàng đế.

Đại thắng nhưng Tần Thủy Hoàng chưa thỏa mãn: Năm 219 TCN lại sai Đồ Tuy và Triệu Đà đem 40 vạn quân vượt Trường Giang xuống phía nam đánh chiếm vùng đất mênh mông, quê hương của các bộ lạc mà người Hoa Hạ gọi gộp là “Bách Việt”. Đánh chiếm không khó khăn vì Bách Việt chưa phải là các quốc gia có chính quyền trung ương và quân đội. Chỉ khi đánh Lĩnh Nam, quân Tần mới gặp sự chống cự ác liệt của bộ lạc Lạc Việt thạo đánh du kích. Đồ Tuy tử trận, Nhâm Hiêu lên thay. Đến năm 214 TCN nhà Tần mới chiếm xong Lĩnh Nam. Người Lạc Việt chạy về vùng núi phía tây, sau này gọi là người Tráng, dân tộc thiểu số đông người nhất TQ hiện nay.

Năm 210 TCN Tần Thủy Hoàng chết sớm ở tuổi 49 sau khi đã thực hiện được ước mơ “thống nhất thiên hạ”, mở mang bờ cõi rộng gấp nhiều lần, tự xưng Hoàng đế, mở đầu đế chế phong kiến Trung Hoa độc tài khét tiếng tàn bạo cũng như về các cải cách hành chính theo hướng pháp trị.

Tần Thủy Hoànglà người đầu tiên trong lịch sử TQ lập nênmột quốcgia ĐNT, mở đầu lịch sử mấy nghìn năm người Hán liên tục xâm chiếm các vùng xung quanh (trong đó có những vùng xa xôi mênh mông như Mông Cổ, Tây Tạng, Tân Cương…) để mở rộng lãnh thổ, trở thành một nước siêu lớn khiến cả thế giới kiêng nể.

Do thi hành đường lối cai trị tàn bạo, giết quá nhiều người và chủ trương “Đốt sách, chôn nhà Nho”mà Tần Thủy Hoàng bị chê là bạo quân; khắp nơi trong nước nổi lên chống lại; rốt cuộc triều đại nhà Tần chỉ tồn tại có 15 năm (221-206 TCN). Nhưng sử TQ đánh giá cao công trạng thống nhất đất nước và cải cách hành chính của nhà Tần. Như đã xây dựng được một bộ máy chính quyền tập trung, cai trị đất nước chặt chẽ, hiệu quả hơn hẳn hệ thống chính quyền lỏng lẻo dưới thời Thương – Chu. Thiên Tử của các triều đại trước đều không có nhiều quyền lực như Hoàng đế thời Tần.

Nhà Tần đã thực hiện nhiều cải cách nhằm tạo thuận tiện phát triển văn hóa, kinh tế như thống nhất chiều dài trục xe, thống nhất chữ viết, thống nhất tiền tệ và chế độ đo lường… Thực ra các ý tưởng cải cách này đã có từ thời Xuân Thu (770-476 TCN). Ví dụ sách “Lễ ký-Trung dung”chương 28 viết: “Kim thiên hạ, xa đồng quỹ, thư đồng văn, hạnh đồng luân”, coi việc thống nhất chiều dài trục xe, chữ viết và phong tục tập quán là phận sự mà bậc Thiên Tử phải làm. Nhưng việc này vô cùng khó, chỉ có bàn tay sắt của chế độ độc tài Tần Thủy Hoàng mới thực hiện được.

Tình hình ngôn ngữ ở TQ thời xưa cực kỳ phức tạp. Có rấtnhiều tiếng địa phương (phương ngữ), thậm chí một huyện có tới vài phương ngữ, nghe không hiểu nhau, và thói quen rắc rối này không thể sửa được. Chữ viếtcó 7 loại: Giáp cốt văn, Kim văn, Tiểu triện, Lệ thư, Khải thư, Hành thư, Thảo thư, mỗi nơi dùng một loại. Vì thế người cùng một nước mà nghe nói vàđọc chữ không hiểu nhau, đất nước không thể ĐNT.Sau khi thống nhất lãnh thổ, Tần Thủy Hoàng đã tiến hành thống nhất chữ viết, gọi là Thư đồng văn (thư là viết, văn là chữ, đồng là thống nhất), quy định cả nước chỉ viết một loại chữ Tiểu Triện. Nhờ thế tuy dân các nơi vẫn nói tiếng địa phương, vẫn nghe không hiểu nhau nhưng doviết cùng một loại chữ nên vẫn có thể hiểu nhau qua bút đàm, khiến mọi người cảm thấy họ cùng một nòi giống dân tộc, làm cho tư tưởng ĐNTđi vào lòng dân. Thống nhất chữ viết là công trạng lớn nhất của Tần Thủy Hoàng.

Nhưngnhà Tần chỉ thống nhất được chữ viết, còn tiếng nói thì quá khó thống nhất. Mãi tới thế kỷ XX, người TQ mới đề xuất “Nói cùng một thứ tiếng”(Ngữ đồng âm), phấn đấu đến năm 2020 mới thực hiện cả nước cơ bản nói cùng một thứ tiếng Phổ thông.

Thời xưa khi làm đường chạyxe, ngườitachỉ làm mặt cứng (như lót đá, lót gỗ…) cho hai vệt đường mà bánh xe đè lên, chứ khônglàm cứng toàn bộ mặt đường.Đểcho xe nước khác không thể đi vào đường nước mình, mỗi nước đềuquy định khoảng cách giữa hai vệt đường khác với nước kề bên, tứcxe mỗi nước đều dùng trục xe có độ dài riêng.Nhà Tần đã thực hiện “Xa đồng quỹ”, quy định cả 7 nước đều dùng trục xe có cùng một độ dài, hai vệt trên mặt đường có cự ly thống nhất, tiêu chuẩn hóa.

Việc chiếm 6 nước và thực hành cải cách mọi mặt đã làm nước Tần giàu mạnh lên. Nhờ thế chỉ 2 năm sau “thống nhất”,năm 219 TCN nhà Tần đã có thể huy động 40 vạn quân đánh xuống vùng phía nam Trường Giang và di cư mấy chục vạn dân tới định cư ở các vùng mới chiếm để đồng hóa dân bản xứ. Đến năm 214 TCN, biên giới nam TQ đã mở rộng đến nam Trung bộ Việt Nam. Ngoài ra đã huy động sức dân xây dựng nhiều công trình vĩ đại như cung A Phòng, Vạn lý Trường thành, lăng mộ Tần Thủy Hoàng …

Lịch sử cho thấy, vì mục tiêu đại thống nhất và ĐNT, phong kiến TQ không tiếc hy sinh mạng người, của chúng hoặc của vùng đất bị xâm lược. Số người chết trong chiến tranh tính bằng đơn vị “vạn” (10.000). Hiếm nước nào có năng lực giết người và chịu bị giết tới mức dã man khủng khiếp như TQ.

Phản ứng với Đại Nhất Thống

Dư luận TQ phổ biến ca ngợi tư tưởng ĐNT. Đó là do họ mơ ước nước họ lớn mạnh nhất thế giới. Chương I sách “Giấc mơ Trung Quốc” của đại tá quân đội TQ Lưu Minh Phúc mở đầu bằng câu “Nhất thế giớilà giấc mơ trăm năm của TQ.

Muốn vậy TQ phải bành trướng lãnh thổ, trở thành một nước đất rộng, dân đông và thực hiện ĐNT. Trên thực tế họ đã làm như vậy trong hàng nghìn năm qua.

TQ xưa nay không ngừng tìm cách mở rộng cương vực nước mình. Giờ đây họ đang đòi chiếm tới 90% Biển Đông.Thậm chí còn chấp nhận “Một nước hai chế độ”, tức dưới tiền đề một nước TQ, trong đó chủ thể của quốc gia (là đại lục TQ) kiên trì thực hiện chủ nghĩa xã hội, còn Đài Loan, Hong Kong, Macau vẫn giữ chế độ tư bản lâu dài. Tất cả chỉ nhằm để thực hiện ĐNT trên lãnh thổ rộng hơn![2]

Dư luận quốc tế cũng phê phán chế độ chính trị ĐNTđã bóp chết sức sáng tạo, buộc toàn dân suy nghĩ theo một người; làm cho tư duy của người TQ thiếu tính logic, rập khuôn xơ cứng, tạo thói quen phục tùng quyền lực, sùng bái cá nhân, tình trạng thiếu dân chủ tự do. Einstein từng nói “Không thể nào làm cho người TQ tư duy logic được”[3]

Ví dụ chủ trương “Bãi truất Bách gia, Độc tôn Nho thuật” đượcHán Vũ đế chuẩn y, sau đó thực thi liền 2.000 năm đã bóp chết các hệ tư tưởng khác, khiến văn minh Trung Hoa trì trệ, khác hẳn thời Chiến Quốc “Trăm nhà đua tiếng”xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng, nhà tư tưởng làm cho nền văn minh tỏa sáng một thời.

Người TQ hay chê các nước châu Âu do dùng ngôn ngữ khác nhau nên không thể thống nhất như TQ; vì thế sức mạnh tổng thể yếu, tuy người Âu có sức sáng tạo cao. Nhưng có lẽ hầu hết người châu Âu phản đối ĐNT, cho dùhọ biết thống nhất sẽ có sức mạnh lớn hơn và Liên minh châu Âu EU ra đời là vì thế. Tuy vậy gần đây EU bắt đầu nứt rạn. Brexit là một ví dụ. Những tiểu quốc Hà Lan, Thụy Sĩ có đời sống cao chắc chẳng muốn để các nước Đông Âu nghèo “dây phần”với họ.

Có thể suy ra: cho dù người Tráng ở TQ có GDP đầu người cao hơn người Việt Nam, nhưng chắc hẳn chẳng người Việt Nam nào muốn nước mình trở thành một phần của TQ như kiểu Khu Tự trị người Tráng Quảng Tây. Tất cả chỉ vì dân tộc ta từ xa xưa đã coi “Không có gì quý hơn độc lập tự do”là lẽ sống muôn thủa của mình.

 

Ghi chú

[1] Ví dụ các phong trào do Mao Trạch Đông phát động những năm 50-60 đã làm chết hàng chục triệu dân.

[2] Tham khảo: Nguyên TBT Lê Duẩn kể: Năm 1963, trong một lần tiếp anh Trường Chinh và tôi, Mao Trạch Đôngtuyên bố: “Tôi sẽ là Chủ tịch của 500 triệu bần nông và tôi sẽ mang một đạo quân đánh xuống Đông Nam Á.”… Khi đã ra ngoài, tôi bảo anh Trường Chinh: “Anh thấy đấy, một âm mưu cướp nước ta và cả Đông Nam Á. Bây giờ chuyện đã minh bạch. [Đồng chí B nói về âm mưu chống VN của bè lũ phản động TQ; New Evidence on the Cold War in Asia].

[3] “Einstein the Anti-Racist? Not in His Travel Diaries” New York Times, 14/6/2018


Nguồn: Văn Hóa Nghệ An


*

KM-Đọc sách siêu tốc

Gửi phản hồi