Đào Duy Anh: Từ chí sĩ yêu nước đến học giả lỗi lạc


Đào Duy Anh: Từ chí sĩ yêu nước đến học giả lỗi lạc

Vương Xuân Nguyên


Những năm tháng vinh dự được gần gũi nhiều nhân sĩ trí thức, nhà khoa học, nhà hoạt động cách mạng đã giúp chúng tôi có điều kiện nghiên cứu tìm hiểu rõ hơn thân thế sự nghiệp cách mạng của họ. Những tư liệu cho thấy, nhiều nho gia vào Kinh thành Huế làm quan lập nghiệp và có những đóng góp to lớn cho cách mạng ngay ở giai đoạn đầu của Thế kỷ XX như gia đình cụ Phan Bội Châu, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, cụ Đào Duy Anh và họ Tạ ở Hoành Sơn…Một trong những điểm chung của những Nho gia yêu nước là luôn phát huy truyền thống gia đình, tinh thần yêu nước nông nàn và gắn bó mật thiết sự nghiệp của cá nhân, gia đình, dòng họ với vận mệnh dân tộc.

Đọc “Nhớ nghĩ chiều hôm” của học giả Đào Duy Anh, chúng ta thấy cuộc đời và sự nghiệp của ông, cũng như nhiều Nho gia cùng thời là sự diễn biến của tinh thần yêu nước, yêu văn hóa dân tộc nồng nàn đến hoạt động nghiên cứu khoa học luôn trăn trở trước vận mệnh dân tộc và chăm lo tới đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Cuốn sách dày 600 trang gồm 30 mục phần hệ thống lại những nhóm đề tài lớn mà ông đã dành tâm huyết nghiên cứu qua các giai đoạn lịch sử: Từ sơ lược về cuộc đời sự nghiệp, những nghiên cứu trước cách mạng tháng Tám; Nghiên cứu Từ điển học, Sử học; Nghiên các các dòng trào lưu tư tưởng ảnh hướng đến văn hóa Việt Nam; Chủ nghĩa Mác, tư tưởng của thời đại…Đến những vấn đề Dân tộc học, văn hóa học; Hồ Chí Minh với dân tộc, Trí thức Việt Nam với dân tộc và cách mạng; Thanh niên, tương lai của dân tộc; Vận mệnh và sứ mệnh của dân tộc…

Từ tinh thần yêu nước đến học giả lỗi lạc

Học giả Đào Duy Anh (1904 – 1988) sinh tại Thanh Hóa, nguyên quán làng Khúc Thủy, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Tổ tiên họ Đào thế kỉ XV có Anh liệt tướng quân Đào Đình Lãng đã từ Khúc Thủy tìm vào Lam Sơn theo phò Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập Tổ quốc, được phong Thượng tướng khinh xa.

Năm 1923, tốt nghiệp Thành chung (cấp 3) tại Trường Quốc học Huế, Đào Duy Anh đã chọn nghề nhà giáo, dạy Trường Tiểu học Đồng Hới (Quảng Bình) chứ không chịu làm công chức cho chính quyền thực dân Pháp. Sau buổi tiếp xúc với chí sĩ Phan Bội Châu tại Đồng Hới, Đào Duy Anh đã từ chức giáo học để “thoát chốn ao tù”, dấn thân vào hoạt động chính trị văn hoá “tìm nơi trời cao biển rộng” để có điều kiện “mở mang tri thức”.

Năm 1926, khi bắt đầu viết báo chữ Pháp và thấy những bài viết của mình nói về thời sự trong nước đều được đăng tải trên tờ báo Echo Annamite của Nguyễn Phan Long ở Sài Gòn, Đào Duy Anh hào hứng làm báo.

Năm 1927, ông gia nhập tổ chức yêu nước có tên Việt Nam cách mạng Đảng. Cùng với cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông ra báo Tiếng dân tờ báo Việt đầu tiên của xứ Trung Kỳ. Sau đó, ông trở thành Tổng Bí thư của tổ chức yêu nước Việt Nam Cách mạng Đảng khi mới 24 tuổi.

Năm 1928, học giả Đào Duy Anh sáng lập Quan Hải tùng thư với sự cộng tác của nhiều trí thức yêu nước như: Võ Liêm Sơn, Trần Đình Nam, Phan Đăng Lưu…để xuất bản những sách phổ cập về tư tưởng khoa học, tư tưởng duy vật lịch sử nhằm mở mang dân trí, ngầm truyền bá tinh thần yêu nước. Ông cũng dịch nhiều đầu sách để góp phần đấu tranh chính trị và văn hóa lúc bấy giờ nhằm bước đầu truyền bá những tri thức khoa học xã hội và những tư tưởng tiên tiến của thời đại.

Đọc
Cuốn hồi ký chú giải rõ những nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh

Do đứng đầu tổ chức yêu nước, hoạt động cách mạng nên ông và người vợ chưa cưới, bà Trần Thị Như Mân, bị thực dân Pháp bắt giam từ năm 1929 đến năm 1930. Ra tù, ông bà cưới nhau, bà mở cửa hàng sách báo và một trường tư thục là Trường Nữ giáo cho học sinh nữ ở các tỉnh miền Trung vào học. Đào Duy Anh quay lại sự nghiệp dạy học ở trường này, rồi dạy thêm ở trường tư thục Thuận Hóa.

Những công trình ông nghiên cứu biên soạn trước năm 1931 như: Lịch sử các học thuyết kinh tế, Tôn giáo là gì? Dân tộc học là gì?…Từ điển học là lĩnh vực ông quan tâm nghiên cứu đầu tiên. Ông đã hoàn thành và xuất bản hai bộ từ điển lớn “Hán – Việt từ điển” (1932) và “Pháp – Việt từ điển” (1936). Đây là những sách công cụ tra cứu rất cần thiết lúc bấy giờ. Đồng thời là cây cầu nối giữa hai lớp người, xóa bỏ “khoảng cách thế hệ” trước hết về mặt ngôn ngữ, tạo ra tiếng nói chung giữa lớp người già theo Nho học và lớp người trẻ theo Tây học.

Đứng trước những vấn đề của thực tiễn văn hóa dân tộc, cũng như nhiều trí thức khác, khát vọng của ông là gây dựng được một nền văn hóa riêng cho dân tộc mình, một nền văn hóa có bản sắc, có khả năng thâu thái tinh hoa của các dân tộc khác nhau và nhất là phải độc lập trong quá trình tiếp xúc, giao lưu với thế giới. Cả cuộc đời ông đã đeo đuổi, kiên trì và nhất quán cho sự nghiệp tinh thần đó với một niềm tin mãnh liệt vào sức sống của dân tộc cũng như con đường mình đã lựa chọn, cần cù lao động khoa học và với một tấm lòng yêu văn hóa dân tộc tha thiết, bất chấp những sóng gió trong cuộc đời mà không dễ gì có thể vượt qua.

Học giả Đào Duy Anh là nhà sử học, từ điển học, nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng của Việt Nam, tác giả của những công trình lịch sử, văn hóa có giá trị như: Hán – Việt từ điển (1932); Pháp – Việt từ điển (1936); Việt Nam văn hóa sử cương (1938); Khổng giáo phê bình tiểu luận (1938); Trung Hoa sử cương (1942); Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943); Lịch sử Việt Nam (giáo trình đại học, 1956); Cổ sử Việt Nam (giáo trình đại học, 1956); Lịch sử cổ đại Việt Nam (1957) gồm 4 tập: “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam”, “Vấn đề An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc”, “Văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc Việt”, “Giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến”; Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam (1957); Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (2 tập, 1958); Đất nước Việt Nam qua các đời (1964); Từ điển Truyện Kiều (viết xong năm 1965, xuất bản năm 1974); Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến (1975)…

Ngoài ra, ông còn hiệu đính, biên dịch, chú giải: Lịch triều hiến chương loại chí(1961 – 1962); Đại Nam thực lục (1962 – 1977); Phủ biên tạp lục (1964); Đại Việt sử ký toàn thư (1967 – 1968); Đại Nam nhất thống chí (1969 – 1971); Binh thư yếu lược (1970); Gia Định thành thông chí; Nguyễn Trãi toàn tập (1969); Khóa hư lục (1974); Sở từ (1974); Truyện Hoa Tiên (1978); Thơ chữ Hán Nguyễn Du” (1988); Chú giải Kinh Thi, “Đạo Đức Kinh và học thuyết của Lão Tử”…

Qua những công trình trên có thể thấy, lĩnh vực sử học là lĩnh vực ông dành nhiều tâm sức xuyên suốt cuộc đời. Ở ông nổi bật đó chính là tinh thần tự học, tự nghiên cứu, là lòng hăng say tích lũy tri thức, không ngừng bổ sung cập nhật, là ý thức tìm tòi, khám phá trong học thuật.

Với tinh thần của một nhà nho yêu nước, tiếp xúc với những luồng tư tưởng canh tân và đứng trên lập trường của Chủ nghĩa Mác-xit, Học giả Đào Duy Anh coi lịch sử là phương tiện tốt nhất để thức tỉnh hồn nước, đặc biệt là để nhận diện ở tầm học thuật vấn đề bức thiết khẳng định vị thế của Việt Nam trong nền sử học thế giới và khu vực.

Người thầy của nhiều nhà khoa học uy tín

Sau Cách mạng Tháng Tám, học giả Đào Duy Anh không nhận đề nghị làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong Chính phủ mà chỉ nhận chức vụ Ủy viên Ủy ban Kiến thiết Quốc gia theo Sắc lệnh số 78 ngày 31/12/1945 cùng với các nhân sĩ trí thức khác để tập trung vào công việc nghiên cứu và hoạt động văn hóa. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), ông đảm nhận nhiều công tác văn hoá và giáo dục quan trọng ở Trung ương và Liên khu IV (Uỷ viên Chi hội văn nghệ kháng chiến; Trưởng ban Văn – Sử – Địa thuộc Bộ Giáo dục; Giáo sư trường Dự bị đại học và Trường Sư phạm cao cấp Liên khu IV).

Từ năm 1955 – 1960, ông là Chủ nhiệm khoa Sử Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau đó làm chuyên viên Viện Sử học thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam. Ông có công lao to lớn trong việc đào tạo cán bộ nghiên cứu Sử học Việt Nam. Đây chính là giai đoạn học giả Đào Duy Anh có những công trình quan trọng về sử học, văn học, văn bản học. Nhiều người đã trở thành những nhà giáo, nhà khoa học giữ vai trò đầu ngành trong sự nghiệp phát triển nền sử học Việt Nam hiện đại, trong đó có “tứ trụ” của ngành Sử học ngày nay là GS Hà Văn Tấn, GS Trần Quốc Vượng, GS Phan Huy Lê và GS Đinh Xuân Lâm…

Đọc
Vợ chồng Giáo sư Đào Duy Anh và các hậu bối là những nhà khoa học có uy tín

Trong những năm từ 1960 đến 1970, ông dịch, hiệu đính chú giải nhiều bộ sách lớn về văn hoá, sử học như: Lịch triều hiến chương loại chí lục của Lê Quý Đôn, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Thơ chữ Hán của Nguyễn Du… Ngoài ra ông còn biên khảo chữ nôm – nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, dịch Khoá hư lục của Trần Thái Tông…

Có thể nói, học giả Đào Duy Anh là một nhà từ điển học đặt cơ sở cho nền từ điển học hiện đại Việt Nam. Trên lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, văn học, tác phẩm “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh cùng với “Văn minh An Nam” (La Civilization Annamite, 1944) của Nguyễn Văn Huyên là những công trình khoa học đặt nền tảng cho sự hình thành nền văn hóa học hiện đại Việt Nam một cách khoa học.

Với giới nghiên cứu trong và ngoài nước, học giả Đào Duy Anh là một trong những người có công xây dựng nền khoa học xã hội – nhân văn hiện đại của Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu của ông đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Nga và trở thành những cẩm nang nghiên cứu về Việt Nam học đối với người nước ngoài. Trong đó, cuốn Cổ sử Việt Nam (1955), được Viện Phương Đông Liên Xô dịch in. Năm 1957, công trình đó được bổ sung thành Lịch sử cổ đại Việt Nam, được Viện Khoa học Trung Quốc dịch in năm 1959 tại Bắc Kinh.

Các sách của học giả Đào Duy Anh được tái bản gần đây: <LINK>


Nguồn: Văn Hiến


*

để lại phản hồi