y. Sáng tác

Về sự tưởng nhớ thuộc chính mình


Về sự tưởng nhớ thuộc chính mình

Viet Thanh Nguyen

Nguyễn Huy Hoàng dịch

Trích Nothing never dies


Nhatbook-Nothing never dies 2

LÁI XE DỌC THEO NHỮNG ĐƯỜNG CÁI của Việt nam trong bất cứ một khoảng xa nào và bạn có thể nhận ra, nếu bạn trông tìm chúng, những nghĩa trang sát ngay đường. Đánh dấu mỗi nghĩa trang là một cột bia, một đài tưởng niệm, hoặc một điêu khắc thường là một bộ ba các anh hùng, đôi khi gồm cả một nữ anh hùng, đủ cao để nhìn thấy được ở tầm xa. Đến gần hơn và bạn sẽ thấy một tấm bia đá, có khắc tên của những người chết. Mọi thị trấn và làng đều có nghĩa địa riêng của nó, dành cho những tử sĩ đã chết trong những cuộc chiến tranh của thế kỉ hai mươi để thống nhất và giải phóng đất nước. Những khu mộ địa này cũng tồn tại ở Hoa kì nữa, và có lẽ nếu tôi lái xe trên các xa lộ và các thông lộ của Hoa kì để trông tìm chúng, tôi hẳn thấy chúng và nghĩ rằng Hoa kì quan tâm tới các chiến sĩ đã hi sinh. Điều này dường như cũng là trường hợp ở Việt nam, nhưng có thể chỉ bởi vì tôi tự đặt cho mình nhiệm vụ trông tìm những thành phố này của người chết, nên du hành để tìm ra chúng bằng xe gắn máy, xe đò, xe lửa, và xe hơi tư nhân. Những nghĩa trang này tác động địa lí trong một cung cách không thể nào có ở Hoa kì, bởi vì trong khi xứ sở Việt nam nhỏ hơn là bang California và lớn hơn bang Tân Mexico, có đến hơn một triệu người chết để kết toán, nếu bạn chỉ tính những người đã chiến đấu cho phía thắng cuộc. Những người chiến thắng đã chết này cư ngụ mọi xóm làng, những nơi an nghỉ của họ cấu thành những cái nhắc nhở hiển hiện và âm ỉ nhất trong cái xứ sở này có nền đạo đức để tưởng nhớ những người của chính mình.

Trong số những nghĩa địa này, cái hoành tráng nhất là Nghĩa trang Liệt sĩ Trường sơn. Tôi nghĩ về nó như thủ đô của người chết, một nơi chốn có trên năm mươi ngàn người nằm chôn trong lòng đất, gần bằng con số những người Hoa kì chết và được tưởng nhớ ở thủ đô Washington, Đặc khu Colombia (District of Columbia, viết tắt là DC), tại đài kỉ niệm cựu chiến binh Việt nam (the Vietnam Veterans Memorial). Nghĩa trang các liệt sĩ này nằm phía ngoài thị trấn Đông hà trong tỉnh Quảng trị, nét đặc trưng trội bật nhất của nó là một pho tượng trắng khổng lồ của Lê Duẩn, người đã nắm quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản khi sức khoẻ và ảnh hưởng của Hồ Chí Minh suy thoái. Cao khoảng năm mươi mét, pho tượng này ngất ngưởng bên trên một nền diễu hành trong trung tâm thành phố, cũng như một pho tượng tương tự của Hồ Chí Minh trong thành phố Vinh ở miên bắc, gần nơi sinh của ông. Có lẽ đối với những người địa phương, các pho tượng này gợi lên sự kính sợ, như chúng được thiết kế để làm như thế. Đối với tôi và có lẽ với những người bên ngoài khác, sự đồ sộ của chúng dường như không nhất trí với những nguyên lí của cộng sản đến phi lí. Nhưng trong miền đất của dân chủ và bình đẳng cho mọi người vẫn có âm ỉ một pho Lincoln đồ sộ ngồi trên ngai, cặp mắt đăm đăm vào ngọn tháp nhọn hình dương vật, màu trắng của đài tưởng niệm Washington. Bất kể hệ ý thức, một điều gì trong nhân loại dường như đòi hỏi các vị anh hùng và đài tưởng niệm ngất ngưởng, cũng như những khẳng định theo chiều ngang hơn của quần chúng. Quảng trị, cái tỉnh nơi Lê Duẩn được sinh ra và khung cảnh của sự ném bom và chiến trận khủng khiếp, cống hiến những tưởng nhớ mang tính dân chủ hơn kia. Chúng mang hình thức của những nghĩa trang cho mấy chục ngàn người chết vì chiến tranh, vẫn được đội ngũ hoá trong cái chết như trong lúc sống. Họ đã từng đứng cao; bây giờ họ nằm ngang.

KM-Đọc sách siêu tốc

Quảng trị là nơi có khu phi quân sự đã chia đôi đất nước. Gần đó là Đường Trường sơn huyền thoại, được người Mĩ và phần lớn thế giới biết như là Đường mòn Hồ Chí Minh (the Ho Chi Minh Trail). Đây là một quang cảnh nhớ lại chiến tranh và ôm nó cận kề. Vùi trong lòng đất là những tàn dư bùng nổ của chúng ta, các trái bom, vỏ đạn, và những trái mìn không nổ như được thiết kế. Ngủ yên và chết chóc, chúng đôi lúc hoạt động và tiếp tục làm tròn định mạng của chúng, chấm dứt mạng sống của trên bảy ngàn cư dân trong tỉnh kể từ khi cuộc chiến chính thức kết thúc, và gây thương tật cho còn nhiều người hơn nữa. Không có đài tưởng niệm nào tưởng nhớ những người chết rủi ro này, ngoại trừ những tay chân giả gắn vào những công dân của tỉnh Quảng trị bị mất thi thể. Trong một phòng thí nghiệm sạch trơn và hữu hiệu, trên cơ sở nước ngoài huấn luyện cho những kĩ thuật viên địa phương để chế tạo những cánh tay và cẳng chân nhân tạo này. Người bạn đồng hành với tôi, một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, cố tìm cách chụp ảnh những tay chân này. Anh ta không thể tìm ra một góc nhìn khiến nah hài lòng. Mọi cuộc chiến đều có những hậu quả nhân sự này, vốn không dễ để lên khuôn trong những cung cách khiến họ dễ được tiếp nhận hơn, những người mất tay chân này, những người mù loà này, những người u uất này, những người muốn tự sát này, những người mất trí này, những người không công ăn việc làm này, những người không nhà này, những người chịu hậu quả phụ và hậu quả thiển hạn này mà sự tồn tại giữ cho những kí ức về chiến tranh sống động khi hầu hết các công dân thà muốn quên đi, hay, tốt nhất, nhớ lại trong cung cách dè dặt.1

Những thành thị của người chết làm tròn mong muốn này về một kí ức được khoanh kín cả về không gian và về thời gian, vì việc chôn người chết là việc chôn một kí ức hay lây. Như Marc Auge ghi nhận về nghĩa trang chiến tranh ở vùng Normandie [ở bờ biển Tây bắc nước Pháp], “không ai có thể nói rằng cái đẹp được xếp ngay hàng thẳng lối này là không cảm động, nhưng cảm xúc nó khơi dậy nảy sinh từ sự hài hoà của các hình thể,” vốn “không khơi dậy những chiến trận hung bạo, cũng chẳng nỗi sợ hãi của những người đàn ông, không gì về những cái của những sự thật sự phục hồi phần nào của quá khứ một cách hiện thực được sống bởi những người lính được chôn” ở đó.2 Những nghĩa trang chiến tranh đẹp đẽ, tĩnh lặng che đi sự nhất định, được ghi lại trong nhiều ảnh chụp, rằng những người chết này đã chết thành đống, thành mảnh mún, thành chồng chất, thành vãi vụn, những chi thể của họ xếp gập trong những góc không thể nào tả và những áo quần lấm bùn của họ đôi khi bị giằng xé khỏi thân thể họ do tốc độ của sức mạnh nhân tạo đã đoạt lấy mạng sống của họ. Những đá bia của họ trở thành cái Milan Kundera gọi là “những đoá hoa âu sầu của lãng quên.”3 Vào những ngày tưởng niệm chung hay những kì giỗ riêng tư, các gia đình tụ hội nơi đá bia của những người chết của họ, vốn thường yểu mệnh dưới hay mới chớm đôi mươi. Nhưng suốt phần còn lại của năm, những người chết chỉ được nhận biết bởi những kẻ chăm sóc nghĩa trang, họ làm công việc của mình như những con bò lang thang giữa các nấm mồ.

Trong ánh sáng ban ngày, thủ đô của người chết là môt nơi chốn an bình và tôn kính, tránh khỏi những đám đông và sự huyên náo của những thành thi của người sống. Bầu không khí trầm trầm nhưng không thê lương, những ngôi đền mái đỏ với những đầu đao trang hoàng uốn lượn thanh thoát và những nâm mộ được chăm sóc và ngăn nắp. Nhiều tính chất của thủ đô này san sẻ với những thành thị nhỏ hơn của người chết, quan trong nhất trong đó là Nghĩa trang Liệt sĩ Mai Dịch ở Hà nội, dành riêng cho những vị anh hùng của Đảng Cộng sản. Đằng sau những bức vách có cổng, mười chín linh quan an nghỉ trên một đại lộ ưu tú, cơ ngơi danh tiếng được sóng hàn với những nấm mồ cẩm thạch đen cho những người như là Lê Duẩn; Tố Hữu, nhà thơ được choàng vòng nguyệt quế của đảng; và Lê Đức Thọ, người thắng Giải Nobel Hoà bình cùng với Henry Kissinger vì những thương thuyết của họ cho các Hiệp định Hoà bình ở Pari (Kissinger tiếp nhận phần thưởng của mình nhưng Lê Đức Thọ từ khước, vì chẳng có hoà bình nào để nói tới vào năm 1973). Đại lộ này dẫn tới trung tâm của những nền được chăm sóc nơi có đứng một bia khác, được khắc với chữ Tổ Quốc Ghi Công. Khẩu hiệu này được khắc trên những nơi người chết cinh danh cư ngụ. Đảng Cộng sản rút ra sinh lực từ cốt tuỷ của những xương ấy, phần lớn được thấy trong những nghĩa trang kém phần nguy nga rất nhiều so với Mai Dịch.4 Trong những nền đất chôn mang tính vô sản hơn này, hai chữ Vô Danh ghi dấu trên nhiều nấm mộ—không tên tuổi, không thân thích, chẳng ai biết đến. Phần lớn những người chết mất đi khi xa nhà, và trong khi họ không bị bất kính, họ thường tồn tại trong những hoàn cảnh trừu tượng, quá xa xôi để thân thích viếng thăm, được những người dân địa phương nhiều ghi nhận vì họ tự cho là đã bị những liệt sĩ này chinh phục. Các nghĩa trang ở hàng tỉnh của họ thường đóng bụi và bị bỏ ngơ, cỏ úa, các nấm mộ nằm thành hàng xè xè mặt đất, những cái tên trên bia đá và trong đền bị phai nhoà.

Trong những nghĩa trang này, quần thể những người chết nằm bất động như những sự kiện, một triệu con người, đó là không tính đến những sự kiện đối nghịch của những kẻ thua và những kẻ đứng vòng ngoài. Những sự kiện này không phải là kí ức nhưng được thông giải, làm sống lại, và đặt vào những câu chuyện bởi những cơ chế của kí ức, những câu chuyện biến đổi từ thời gian này sang thời gian khác cho phù hợp với những quyền lợi của người sống. Nhà văn nữ Joan Didion nói, “kí ức nhạt nhoà, kí ức thích nghi, kí ức điều chỉnh với cái chúng ta nghĩ là chúng ta nhớ.”5 Kí ức biến hoá và có thể nhào nặn kêu gọi một cảm thức về đạo đức, một hướng đạo về cách chúng ta nhớ trong những đường lối thích hợp. Có lẽ nhu cầu này về một hướng đạo là đặc thù khẩn cấp khi đến với việc nhớ về những người chết, là những kẻ đã chết vì chúng ta hay cộng đồng mà chúng ta thuộc về, những người chúng ta có thể đã biết hoặc những người ai đó giết nhân danh chúng ta. Nhu cầu để nhớ người chết một cách chính đáng trải rộng tới tất cả những ai mà chúng ta coi là thân bằng quyến thuộc, bằng máu mủ, bằng liên kết, đồng hoá, cộng đồng, đồng cảm, và cảm thông. Đây là những người gần kề và thân thương, như triết gia Avishai Margalit gọi họ, những người mà một cách tự nhiên chúng ta cảm nhận một sự gắn bó vì họ thuộc về chúng ta qua điều ông gọi là những quan hệ “đậm đặc” (“thick” relations) về gia đình, bằng hữu, và đồng bằng.6

Một cảm thức về tương liên tự nhiên là điều ban cho đạo đức của việc nhớ những gì của riêng mình cái quyền năng lớn lao của nó, cái công năng của nó để lôi cuốn những cảm xúc của chúng ta và kích động những tình tự trải dài từ ấm lòng đến sôi máu. Chúng ta ở trong sự đậm đặc của sự thật khi đến với loại đạo đức này, tình tự của chúng ta sâu dày và những phản ứng của chúng ta mau lẹ, dù là chúng ta nói tới thương yêu trong thế giới riêng tư hay lòng ái quốc trong thế giới công cộng. Bởi những đạo đức này hiện xuất từ những mối quan hệ mà chúng ta xem là tự nhiên, chúng thường dẫn tới sự thuỷ chung không chất vấn với những ai chúng ta nhớ tới, ít nhất trong phiên bản anh hùng của những nền đạo đức này. Khi đề cập chiến tranh, chúng ta thường nhớ những người của chúng ta như là cao quý, đức hạnh, khổ đau, và hi sinh. Những câu hỏi không thoải mái về những vị anh hùng này là không thể nghĩ đến được hoặc rút vào bối cảnh, trừ khi hoàn cảnh buộc chúng ta phải giáp mặt với chúng. Nếu có và khi nào chúng ta sau cùng có thể thừa nhận rằng những người thuộc phía chính chúng ta phạm vào những hành vi không thể hoà giải với pháp luật và luân lí, đôi khi chúng ta xá miễn cho những hành vi ấy và những tác nhân của chúng bằng việc đổ lỗi cho những hoàn cảnh giảm khinh, như là sự căng thẳng của giao tranh. Tệ nhất, chúng ta có thể coi những hành vi này là phản ứng và được biện minh đơn giản vì kẻ thù hành động một cách vô luân trước tiên. Dù cho như thế, chúng ta tiếp tục nghĩ rằng những người thuộc phía chúng ta là có nhân tính, đòi hỏi thấu hiểu và cảm thông, như những con người được phú bẩm với những sự đa phức về cảm xúc, trải nghiệm và viễn kiến. Những kẻ thuộc về phía bên kia, những kẻ thù của chúng ta, hoặc ít nhất những kẻ không thân thiện hoặc xa lạ với chúng ta, thiếu sót những tính phức hợp ấy. Để mượn lấy ngôn ngữ của tiểu thuyết gia E. M. Forster, họ xuất hiện trong tri giác của chúng ta như là những nhân vật “phẳng dẹt.”7 Những người thuộc phía của chính chúng ta thường là “tròn trịa,” có ba chiều kích, có thể quan sát được từ mọi góc cảnh, đâm đặc trong thịt, xương, cảm tính, và lịch sử. Khi họ cảm nhận, và những gì họ cảm nhận, chúng ta cũng làm như thế.

KM-tiki-xách ba lô lên và đi

Một ngoại lệ cho sự trội bật của những nhân vật tròn trịa đối với loại này về đạo đức anh hùng đó là rằng những ai thuộc về phía của chính chúng ta cũng có thể là những nhân vật phẳng dẹt, chừng nào họ mang tính tích cực. Rốt ráo, chẳng có gì đẹp lòng hơn những người chết trong một nghĩa trang, được vận dụng như những nhân vật vào một bản tự sự không phải do chính họ tạo ra. Họ vẫn còn vâng lời các viên tước là các chính khách tiếp tục lên tiếng về phần họ, kể lại câu chuyện rằng Tổ quốc ghi nhớ công ơn hi sinh của họ. Câu chuyện này của Việt nam tiếc thương nhưng đắc thắng tiêu biểu cho cái đạo đức về việc nhớ những người của riêng phía mình, thống nhất những nghĩa trang với những đài tưởng niệm những kỉ niệm và những viện bảo tàng tưởng nhớ cuộc chiến, nơi người chết và người sống xuất hiện như vừa tròn trịa và vừa phẳng dẹt.8 Nhân vật vĩ đại nhất và phẳng dẹt nhất trong truyện kể và kí ức Việt nam đương đại là Bác hồ. Trong khi Hồ Chí Minh thuộc lịch sử là tròn trịa và phức hợp, trong đời sống và trong những tiểu sử của ông, Bác Hồ hư cấu mà hình tượng được thấy khắp nơi là phẳng dẹt, đường nét trội bậc nhất trên tờ giấy bạc của xứ sở này. Bác Hồ này là thuần khiết, chân thực, và hi sinh, thể hiện mọi lí tưởng của những ngày đau đớn và vinh quang của cuộc cách mạng. Ông là một nhân vật hoàn toàn lôi cuốn đến nỗi một số những người thuộc phe thua trận cũng thuận thụ gọi ông là Bác. Bác Hồ mang tính thuyết phục, khổng lồ, và anh hùng minh chúng tuyên xưng của Forster rằng các nhân vật phẳng dẹt không nhất thiết là xấu tệ hơn, về mặt thẩm mĩ, so với những nhân vật tròn trịa. Những nhân vật phẳng dẹt và tròn trịa đơn giản chỉ là phục vụ cho những mục đích khác nhau. Bác Hồ được làm cho phẳng dẹt này là người mà cách mạng phải nhớ, hình ảnh và thánh tượng của ông tiếp tục thôi thúc lên nhân dân cái phiên bản anh hùng của đạo đức về việc nhớ đến những cái của riêng mình, nơi căn cước của họ hoà làm một với căn cước của đảng, nhà nước, và xứ sở.

Những nhân vật phẳng dẹt, anh hùng là phổ thông, thậm chí còn thời thượng, ở Việt nam. Họ là sao trên những tấm biển kia giăng khắp xứ sở đốc thúc các công dân cư xử một cách cao quý và lao động cho đất nước. Những tấm biển này có những nguồn gốc về phong cách trong những tấm bích chương tuyên truyền thời chiến tô điểm những vị anh hùng nam nữ, đạo đức và tươi cười, sắc nét và dũng mãnh, hô hào nhân dân đoàn kết và chiến đấu. Những nhân vật phẳng dẹt cũng thống ngự trong các viện bảo tàng, từ Bảo tàng Mĩ thuật của Hà nội tới Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh/, nơi những câu chuyện san sẻ một sự như nhau làm mụ người. Trong bản tự sự chung của những bảo tàng của xứ sở này, một kẻ ngoại xâm, người Pháp và sau này là người Mĩ, chiếm cứ đất đai và khủng bố nhân dân. Những người cách mạng cộng sản, với tổn thất vĩ đại cho tự thân, vận động và tổ chức nhân dân. Đi theo sự hướng đạo của Bác Hồ, Đảng Cộng sản đưa nhân dân tới thắng lợi. Về sau, với Bác Hồ đã ra đi nhưng dưới ánh mắt nhân từ của ông, Đảng Cộng sản di chuyển từ chiến tranh toàn diện tới công nghệ tập thể, định hình cho nền kinh tế ngày càng thịnh vượng tăng thêm của xứ sở. Bảo tàng Cách mạng tiều tuỵ ở Hà nội trình ra câu chuyện này cho cả nước, khởi đầu với những ảnh chụp tài liệu đen trắng về những tàn khốc của thực dân và những nhà cách mạng truyền kì, kết thúc với những phô bày tội nghiệp không cố ý của vinh quang về kinh tế: những xưởng dệt và những máy may và những nồi cơm điện đằng sau cung kính.

Trong một phạm vi nhỏ bé hơn và ở khúc giữa của xứ sở, Bảo tàng Sơn mĩ tưởng nhớ vụ thảm sát ở Mỹ lai tập trung vào bi kịch riêng lẻ của năm trăm con người bị hạ sát—một số bị cưỡng bức—bởi lính Mĩ. Tổng kết cho câu chuyện của họ cũng giống với bản tự sự chung, cách mạng đắc thắng sau cùng biến cải quang cảnh bị chiến tranh tàn phá của làng và tỉnh thành những cánh đồng xanh tươi mơn mởn, những cây cầu mới, những trường học sinh động, và nhân dân thắm tươi. Trong khi những ảnh chụp trang hoàng cho những bảo tàng này nêu ra những con người thực, thì những ghi chú phụ đề phía dưới đã đóng dấu cho họ thành phẳng dẹt, như trong bảo tàng Sơn mĩ trưng bày bức ảnh chụp nổi tiếng nhất của Ronald được phụ đề như thế này: “Khoảnh khắc cuối cùng của đời sống cho đàn bà và trẻ em trong làng dưới một cây bông gòn trước khi bị lính Mĩ tàn sát.” Bất cứ những người dân sự và lính tráng này là ai trong đời sống phức hợp và tiểu sử phức tạp của họ, họ tồn tại trong phụ đề như những nạn nhân là những tên khốn nạn trong một thảm kịch biện minh cho cách mạng và đảng. Phụ đề như loại hình lặp lại khẩu hiệu như loại hình, từ Noi theo Tấm gương Sáng ngời của Bác Hồ đến Không có gì Quý hơn Độc lập Tự do. Những khẩu hiệu như thế này tiêu biểu cho câu chuyện của Đảng Cộng sản về tự thân, và đến bây giờ đã trở thành câu chuyện chính thức của xứ sở và quốc gia.

Vượt qua những phụ đề, khẩu hiệu và tưởng nhớ chính thức, những nhân vật tròn trịa quả có tồn tại và cũng là một thành phần của đạo đức về việc nhớ lại những gì của chính mình. Họ bước đi và hít thở trong một vài tác phẩm nghệ thuật đi xuyên khỏi câu chuyện thống ngự và tuy thế vẫn tìm được lối tới người đọc và người xem. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là một thứ trong số đó, một cuốn tiểu thuyết ghi dấu mốc bộc lộ, lần đầu tiên, cung cách cuộc chiến tranh cao quý để giải phóng Tổ quốc thường khi là kinh hoàng đối với những người lính chiến đấu trong. Cuốn tiểu thuyết bắt đầu vào những tháng theo sau sự kết thúc của cuộc chiến, với một toán đi tìm những người bị mất tích và những người chết trong khu rừng già có tên gọi là Truông Gọi Hồn. Kiên, người lính ở trung tâm của cuốn tiểu thuyết, nghe quá rõ những tiếng hồn ma. Đã từng là người tình nguyện đi bộ đội vì lí tưởng và bây giờ là người đi thu thập các thây ma, anh đã bị “chiến tranh chà nát.”10 Là kẻ duy nhất sống sót trong trung đội của mình, anh nhớ lại một cách sinh động những người đàn ông và đàn mà anh đã giết cũng như những đồng chí đã chết của mình. Anh vẫn có thể có khả năng chịu đựng những sự kinh hoàng này, nếu không có sự tỉnh mộng lở lói của những năm hậu chiến. Người lái chiếc xe tải chở những người chết, trong đó Kiên ngủ vùi lên tiếng, “Nền hoà bình này?… Hừ tôi thấy hình như các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bầy ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra—để làm gì?”11 đây là câu hỏi chung hết của người lính tỉnh mộng.

Trong một cố gắng để tạo nghĩa cho cái chết và sự tỉnh mộng, của việc bị vây quanh bởi người chết, Kiên trở thành một nhà văn. Anh chủ ý áp đặt một cốt truyện lên quá khứ, “nhưng ngòi bút lại chẳng tuân theo… song một cách không thể cưỡng lại, các trang bản thảo dựng dậy hết cái chết này qua cái chết khác, dần dần đi sâu mãi vào những cánh rừng nguyên thuỷ của chiến tranh, lặng lẽ nhóm lên mãi cái lò lửa tàn khốc ấy của kí ức.”12 Những luồng hình ảnh quay cuồng từ cái lò lửa này cho đến khi chúng an định lại gần cuối cuốn tiểu thuyết, để lại cho anh với hai kí ức chấn thương.13 Kí ức thứ nhất là số phận cô Hoa, một cô gái giao liên dẫn đường cho toán người của anh về an toàn ở Campuchia. Khi lính Mĩ săn đuổi họ, cô ở lại sau để làm mồi nhử, giết một con chó săn đánh hơi của chúng. Sau khi bắt được cô, bọn Mĩ, cả đen lẫn trắng, thay phiên nhau cưỡng bức cô. Kiên nhìn thấy từ một khoảng xa, quá sợ hãi để cứu cô. Việc nhớ lại cảnh ghê tởm này gợi Kiên hồi tưởng một cảnh khác trước đó. Trong biến cố trước, cậu bé Kiên mười mấy tuổi lên đường vào chiến trường, với cô bạn gái xinh đẹp là Phương đưa tiễn trên xe lửa. Cậu quá tha thiết với cô đến nỗi không thể cam tâm làm tình với cô, mặc dù cô nhiều lần mời gọi. Sự tinh khiết này là một triệu chứng của yếu ớt chứ không phải của sức mạnh, ít nhất theo cách cậu nhận biết về nam tính của mình. Sự yếu ớt của anh phơi mở cho anh trên chiếc xe lửa, khi anh không thể che chở cho cô khỏi những người lính đồng bạn chủ ý cưỡng hiếp tập thể cô. Những năm về sau, “nỗi đau đầu tiên trong đời lính, hầu như mơ hồ, hầu như không có thật, bám riết lấy Kiên. Chính là từ đấy, từ lúc bị giằng bật ra khỏi Phương, đời Kiên bắt đầu thực sự đẫm trong máu, trong thương đau, và trong thất bại.”14

Quá muộn và quá sợ hãi để cứu Phương khỏi những sự cưỡng bức mà cô đã phải chịu đựng, cậu thiếu niên Kiên hạ sát người đàn ông đầu tiên của mình, một tay lính thuỷ toan tính là kẻ xếp hàng kế tiếp. Cuối cùng cậu trở thành một kẻ giết người có khả năng, nhưng dù cái khả năng sát nhân này, cậu cũng sẽ không cứu được Hoa và không cứu được Phương khỏi “những gì có thể vẫn còn xảy ra ở đó,” bị cưỡng bức bởi những người đàn ông cũng bị thôi thúc bởi cùng những động lực sát nhân thấy được nơi Kiên. Nếu cậu buông mình vào việc giết người, thì những người đàn ông này buông mình vào việc cưỡng bức, ở điểm cực đoan, cái tính dục không thể phân biệt với cái giết người. Cưỡng bức là chấn thương bị che giấu, sự phơi mở cực đỉnh huỷ diệt cái hư cấu của phái nam rằng chiến tranh là sự phiêu lưu của một người lính mà là sự trải nghiệm của một người đàn ông, hay rằng chiến tranh—ở ngoài kia—có thể tách biệt khỏi cái thế giới dưới mái nhà của gia đình, ở nơi đây. Phương kêu lên sau vụ cưỡng bức, “Anh không thấy sao? Không phải băng. Có chuyện gì đâu mà. Không phải bị thương.”15 Những hình ảnh giao chiến của sự xâm phạm tính dục ở cuối cuốn tiểu thuyết thiêu đốt cái ngôn ngữ dịu dàng hơn trước đây trong cuốn tiểu thuyết, khi Kiên nghĩ “nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì tựa như nỗi buồn của tình yêu, như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu lúc chiều buông trên bến sông bát ngát. Nghĩa là buồn, là nhớ, là niềm đau êm dịu, có thể làm cho người ta bay bổng lên trong thời gian quá khứ.”16 Cuốn tiểu thuyết vạch lại cuộc hành trình này vào quá khứ, nơi những cái trừu tượng mỏng như tờ của chiến tranh và tình yêu bị đưa vào cái lò nóng bỏng của kí ức, tàn tro bộc lộ cung cách những lí tưởng sục sôi trong đầu về lãng mạn, tinh khiết, và ái quốc sa sút hoá thành cưỡng bức, giết chóc, và chấn thương.

Nhưng đâu là mối tương quan của những nhân vật được làm cho tròn trịa của hư cấu đáng nhớ với những nhân vật phẳng dẹt của những nghĩa trang, bảo tàng, và tuyên truyền của xứ sở? Trong khi những nhân vật tròn trịa đôi khi mang tính phản anh hùng, và những nhân vật phẳng dẹt thuộc phía của riêng mình thường mang tính anh hùng, cả hai thực thi nền đạo đức của việc nhớ cái của riêng mình. Bất kể là những người chúng ta nhớ là thánh thiện hay hoàn toàn quá mang tính con người, sức mạnh đạo đức của việc nhớ cái của riêng mình củng cố những căn cước được san sẻ về gia đình, quốc gia, tông giáo, hay chủng tộc. Trong nền đạo đức về việc nhớ cái của riêng mình, việc nhớ những ai thuộc về phái mình, ngay cả khi họ làm những điều khủng khiếp, vẫn còn là tốt hơn làm ngơ hoàn toàn về họ. Không gì tồi tệ hơn việc bị làm ngơ, bôi tẩy, hoặc xoá đi, như những người thua thiệt trong bất cứ cuộc chiến hoặc tranh chấp nào có thể khẳng định. Trong những cuộc chiến tranh về kí ức, một chiến thắng có được trong việc đơn giản là được nhớ hoặc có thể nhớ, thậm chí nếu chính tự thân hoặc phía bên mình tỏ ra bối rối, bị quặn thắt, thậm chí như quỷ dữ. Phiên bản phản anh hùng của loại đạo đức này cư ngụ trong cái thế giới mù mờ không rõ trắng đen, nửa sáng nửa tối. Vậy nên, không ngạc nhiên gì rằng đến kết thúc nhà văn Kiên biến mất khỏi căn hộ và nhập vào những bóng mờ, chỉ để lại bản thảo của anh. Những lời cuối cùng của cuốn tiểu thuyết, được cất lên bởi một người không được nêu tên khám phá bản thảo của Kiên, tưởng nhớ vì sao người chiến binh và nhà văn phải biến mất: “Tôi cảm thấy ghen tị với niềm cảm hứng, niềm lạc quan quay về quá khứ của anh. Bởi vì nhờ thế mà anh vĩnh viễn được sống trong những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng những ngày bất hạnh nhưng chan chứa tình người, những ngày mà chúng ta biết rõ vì sao chúng ta cần phải bước vào chiến tranh, chúng ta cần phải chịu đựn tất cả và hi sinh tất cả. Ngày mà tất cả đều còn rất son trẻ, trong trắng và chân thành.”17 Chiến tranh và Đảng Cộng sản có thể bị kết án trong những trang của cuốn tiểu thuyết, nhưng không phải là những người trẻ tuổi và những người yêu nước đích thực đã hi sinh thân mình. Vừa là cả hai một người lí tưởng khi nhìn lại và một kẻ khinh bạt khi nhìn vào hiện tại, Kiên không thích hợp để sống trong một xã hội hậu chiến chỉ nói về hào quang sáng ngời của chiến tranh. Anh, giống nhiều người sống sót của cuộc chiến, cả đàn ông và đàn bà, đều cư ngụ trong những đường biên hoàng hôn của u sầu, mát mát, và đau buồn.

Ít nhất những cựu chiến binh này của cách mạng được xứ sở nhớ đến trong một cung cách nào đó, dù cho nếu có không đủ đầy. Tương phản lại, những người chiến đấu cho phía thua trận bị truốc khỏi việc nhớ. Họ có thể được khám phá bằng việc lái xe từ Nghĩa trang Liệt sĩ Trường sơn và xuôi về nam trên Quốc lộ 1A. Đây là huyết mạch chính của quốc gia này, một con đường hai làn xe chen chúc, ầm ĩ, và chậm chạp chạy dọc theo bờ biển và bình nguyên phía trong. Tuyến đường xuyên Việt nam này cuối cùng chạm tới những vùng ngoại ô Thành phố Hồ Chí Minh, hay cái mà nhiều người vẫn ưa gọi, vì những lí do phản động, cảm tính, hay đơn giản một cách trữ tình, là Sài gòn (tự thân là một cái tên của kí ức và lãng quên, được ban cho một thành phố mà nhân dân Việt nam đã chinh phục trong cuộc nam tiến vĩ đại của họ, một lịch sử được người Việt nam nhớ đến như một kì công của việc dựng nước hơn là chủ nghĩa đế quốc đẫm máu). Vượt qua khu công nghệ ở ven Sài gòn nơi bầu trời luôn luôn là một phiến khói mù, người ta sẽ nhìn thấy, ngay bìa của xa lộ, một nghĩa trang liệt sĩ nguy nga, một pho tượng cao ngất của một bà mẹ thương xót những tử sĩ này nhìn đăm đăm xuyên qua xa lộ. Cảnh quan chen chúc của những nhà máy, những tấm biển, và những căn nhà bên đường mà bà nhìn thấy thì không có gì đáng kể, trừ khi người ta biết những gì từng ở đó trước đây. Nhiều năm về trước, trong những năm chiến tranh và trước khi những người chiến thắng xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, có ngồi ở phía bên kia xa lộ một pho tượng khác, một người lính của Quân lực Việt nam Cộng hoà, trầm ngâm trên một tảng đá khi anh nhìn xuống đường từ chiều cao khiêm tốn sáu mét của anh.18 Đằng sau anh là nghĩa trang quốc gia mênh mông cho quân đội miền nam này.

Trong những ngày khi người lính tiếc thương còn giám sát đất đai, nó còn là hoang sơ và dân cư thưa thớt, nghĩa trang và ngôi chùa phía sau anh còn có thể nhìn thấy được từ đường lộ. Về thời gian và nơi chốn này, phóng viên Michael Herr ghi nhận rằng

Có một đài tưởng niệm dành cho những tử sĩ Việt nam, và nó là trong một vài thứ thanh nhã còn lưu lại trong xứ sở này. Đó là một ngôi chùa khiêm nhường dựng phía trên con lộ và tiếp cận bằng những bệ than dài gồm những bậc thăng lên thoai thoải. Một ngày chủ nhật, tôi đã nhìn thấy một chùm mấy viên kĩ sư này phóng xe máy nổ Harley lên các bậc thang ấy, cười to và hét vang trong ánh mặt trời buổi trưa. Người Việt nam có một cái tên đặc biệt gọi họ để phân biệt với tất cả những người Mĩ khác; nó có thể dịch ra đại khái như là ‘Quái thú’ (‘The Terrible One’), mặc dù người ta bảo tôi rằng điều này không hề thậm chí phảng  phất chuyển tải sự khả ố trong nguyên bản.19

Hơn ba mươi năm sau, cảnh quan đã thay đổi, nhưng sự thái quá nhằm vào nghĩa trang không hề đổi thay. Người lính tiếc thương, như cái tên anh ta được gọi, đã biến mất, như các pho tượng có chiều hướng biến đi sau khi  chiến tranh kết thúc hay như những chế độ sụp đổ. Tự thân nghĩa trang không được ghi dấu bằng bất cứ kí hiệu nào và từ xa lộ nhìn vào không thấy được. Lái xe một trăm mét xuống một đường lượn quanh từ xa lộ và người ta sẽ nhìn thấy, sau cùng, lối vào nghĩa trang, một cái cổng tưởng niệm bị phủ kín bằng cành lá xanh tươi, hàng chữ trên những cột trụ phai mờ của nó tuyên dương nhu cầu về hi sinh và tranh đấu. Các công nhân trong lúc nghỉ trưa ngồi trên các bậc thang loang lổ rác, hút thuốc lá. Trên chóp cùng các bậc thang, một người phu khác đánh giấc ngủ trên cái võng treo giữa một cây cột và khung cửa màu xanh dương nhạt nhoà của ngôi chùa, với các bức tường trắng được dùng như những trang giấy để người ta viết tên những nét nghệch ngoạc, bên trong, chùa trống trơn, ngoại trừ một điện thờ qua loa trên một cái bàn gỗ, được trang hoàng với những bông hoa cắm trong bình và một cái lư để thắp nhang. Trong lần tôi thăm viếng đầu tiên, một góc của căn phòng bị cháy đen do ngọn lửa của ai đã đốt một thứ gì đó, một ngọn lửa cho một đêm giá lạnh hay có lẽ đốt vàng mã cho người chết. Ngoài ra không có gì khác để xem.

Nghĩa trang thực sự nằm xa hơn một vài tẳm mét về hướng tây. Không có bảng hiệu nào đánh dấu con đường tới nghĩa trang, vốn hoá ra lại đóng cửa nghỉ trưa. Cổng nghĩa trang có then gài được kéo khép kín, văn phòng trống trơn, và chẳng có chỉ dấu là khi nào bất kể ai đó sẽ quay lại. Tôi đã du hành từ tầm xa vào một ngày nóng nực, tôi không kiên nhẫn, và qua cả đời người tôi đã học được những bài học từ người Việt nam là chớ để cái gì ngáng trở lối đi của mình. Tôi bò phía dưới cái cổng. Cái nghĩa trang mà tôi tìm ra là một người bà con xấu xí, tả tơi, khép tín của cái nghĩa trang chào mừng những người chiến thắng phía bên kia xa lộ. Cũng có những dãy mồ gần như ngang mặt đất, nhưng chúng nằm chẳng được thương yêu, chẳng được sơn quết, và chẳng được chăm sóc giữa những đồng cỏ xanh không được cắt tỉa và những bụi cây có bóng rợp. Ngay trung tâm nghĩa trang ngồi chình ình là lớp vỏ màu xám dở dang của một tháp bia kỉ niệm, trông giống một ống khói công nghệ. Hầu hết các nấm mồ chẳng hơn là mấy những phiến đá và những tấm bia bị hờ hững, nhưng có dăm cái mới đây được xây lại. Cấu tạo bằng đá hoa cương và cẩm thạch, chúng tỏ ra đươc quét tước sạch sẽ và trưng ra những tấm hình chụp mới của những người cư trú các nấm mồ đó. Nấm mộ bị làm mất tính thiêng liêng đông hơn rất nhiều so với những cái được chỉnh trang. Ai đó đã phá phách những tấm ảnh chụp của các người chết trên những nấm mộ bị phạm thiêng này, cào xoá những cặp mắt và những gương mặt. Tôi không có thì giờ để đếm con số những người chết bị huỷ mặt. Lo âu về việc đột nhập không phải phép của tôi, tôi quay lại cổng, nơi tôi thấy mấy nhân viên đã trở lại. Sự có mặt của tôi làm dăm viên chức đi dép và mặc áo ngắn tay này thấy vui vui, họ ghi chép thông tin về thông hành của tôi vào một cuốn sổ. Khi năm sau tôi quay trở lại, một cánh cổng bằng kim loại rắn chắc màu xanh dương trên những bánh lăn đã thay thế cái cổng này bằng then với lỗ hổng phía bên dưới. Lần này tôi không thể luồn phía dưới. Một tấm bảng mới tinh gắn gần cái cổng tuyên dương đây là Nghĩa trang Nhân dân bình an, vốn không phải là cái tên nó mang trong suốt cuộc chiến, Nghĩa trang Quốc dân Quân lực Cộng hoà Việt nam. Một lần nữa tôi lại trình giấy thông hành, và lần này một người trong bang nhân viên theo sau tôi khi tôi đi từ nấm mộ này sang nấm mộ khác, nổ bình bịch trên chiếc xe gắn máy của anh ta.

Những tấm bia tàn phế này và nghĩa trang bị làm ngơ này gợi lên trong tôi cũng niềm xúc cảm mà đôi khi tôi cảm thấy trong những thư viện của những năm đã qua, gặp những cuốn sách mà thẻ đăng xuất ghi lại những lần hội ngộ cuối với những người đọc từ những thập niên trước. Người ta bị lãng quên và những cuốn sách bị lãng quên phả ra cùng nỗi u sầu, bởi những cuốn sách nữa, cũng sống và chết. Bảo Ninh viết về cung cách cuốn tiểu thuyết của Kiên có sự tự chủ của riêng nó, cung cách nó “tác phẩm tự nó cấu trúc nên thời gian của nó, tự định hướng, chọn luồng và tự chọn lấy một bến bờ.”20 Cái làm thuyên giảm nỗi u sầu trong cả hai thứ Nỗi buồn chiến tranh và nghĩa trang Biên hoà này là cái cảm thức rằng cả hai thứ những cuốn sách và những người chết đều sống trong cung cách riêng của họ. “Còn Kiên anh chỉ là người viết; bền bỉ và lặng lẽ hoà nhập thân phận mình vào cộng đồng số phận các nhân vật. Nói chung anh hết sức thụ động, hầu như trở thành bất khả tri trước các trang viết của chính mình. Mạch truyện nó thế nào thì buông theo như thế, anh như hoàn toàn cam chịu cái lô gic bí ẩn của trí nhớ và trí tưởng tượng.”21 Sau khi tiểu thuyết gia biến mất, cuốn sách của anh vẫn còn. Trong trường hợp nghĩa trang, những người đã chết quá nguy hiểm để không được canh giữ, nhưng cũng quá nguy hiểm để bị ũi san bằng, hay ít nhất hoàn toàn. Họ vẫn là một nguồn năng quý giá, bởi nhà nước có thể một ngày kia dùng họ để hoà giải với những người lưu vong bại trận của xứ sở.

Họ, cũng, đòi hỏi phần san sẻ của họ về kí ức. Họ đã tạo những kế hoạch cho việc canh tân nghĩa trang này và trưng ra những kế hoạch ấy trong viện bảo tàng duy nhất kỉ niệm những trải nghiệm của họ, là viện Bảo tàng của Thuyền nhân và Việt nam Cộng hoà (the Museum of the Boat People and the Repulic of Vietnam). Nó đứng trong Công viên Lịch sử (the History Park) của San Jose, tiểu bang California, thành phố ở đó tôi được nuôi lớn và là nơi cư trú của một cộng đồng người Việt nam đông đúc thứ nhì bên ngoài Việt nam. Một toà nhà kiểu thời nữ hoàng Victoria gồm hai tầng lầu, nhỏ nhắn, được gọi là Bảo tàng Việt (the Viet Museum), là một ẩn dụ phù hợp cho kí ức lưu vong, chất chứa những trưng bày có tính tài tử và những di tích lịch sử được giữ trong nhà của một ai đó khác. Giờ giấc của nơi này rất không đều đặn đến nỗi hai lần đầu tôi viếng thăm các cửa đều khoá kín. Tôi dòm qua các cửa sổ thấy những hình nhân mặc đồng phục Cộng hoà và một điêu khắc đồng đen của một người lính miền nam hơi lớn hơn kích thước trong đời sống, tất cả đều cư ngụ trong cái từng là một cửa tiệm. Đến lần thứ ba tôi viếng thăm, bảo tàng mở cửa, do một cặp vợ chồng quản thủ điều hành. Phong thái trong vài căn buồng, được biểu hiện trong những phụ đề và tự sự, là một phong thái về kí ức u buồn và tiếc thương cho những tử sĩ, những người anh hùng bị lãng quên, và cái tôi nghĩ về như là những người tị nạn đại dương, một từ ngữ góp phần cao quý hơn cho những đau khổ và sự anh hùng của những người mà báo chí phương Tây gọi là “boat people” (thuyền nhân). Người lính kia không ở trong một tư thế chiến đấu. Thay vì thế, anh quỳ gối trước nấm mồ của một chiến hữu, trong khi gần đó có một cảnh trí thu nhỏ phô bày một kiểu mẫu về một nghĩa trang quốc gia, hết sức được chăm sóc và thanh tươi nếu nhà nước thắng trận kia cho phép. Cho đến cái khoảnh khắc hoà giải đó, nhà nước và đảng vẫn sẽ loại trừ những người lưu vong và những tử sĩ của họ khỏi kí ức, bởi vì thành phần của nền đạo đức về việc nhớ cái riêng của mình là sự loại trừ và lãng quên về người khác.

Nhưng sự lãng quên này cũng sinh ra sự nhớ (đôi khi được nghĩ như là sự ám ảnh). Điều này đặc biệt là trường hợp không phải là tình cờ mà là cố ý, mang tính chiến lược, thậm chí ác ý—nói cách khác, phá huỷ việc nhớ. Như vậy, trong hậu kì bất cứ cuộc chiến tranh hay tranh chấp nào, những người bị đánh bại và bị huỷ trí nhớ sẽ không thể tránh được tìm cách nhớ lại chính họ, mặc dù không phải như những người khác. Vậy là những người tị nạn từ cái xứ sở này và từ cuộc chiến tranh này cũng dấn vào một nền đạo đức về việc nhớ những cái của riêng mình, khi biết rằng xứ sở gốc của họ đã xoá đi hoặc đàn áp sự hiện diện của họ. Công cuộc vĩ đại nhất về kí ức tập thể những người thua trận này đã sáng tạo ra không phải là một bảo tàng hay một đài tưởng niệm hay một tác phẩm hư cấu mà là thay vì thế cái quần đảo gồm những cộng đồng hải ngoại của họ, trong đó cộng đồng đông đúc nhất và nổi tiếng nhất là Sài gòn Nhỏ (Little Saigon) ở Hạt Cam (Orange County) thuộc tiểu bang California ở Hoa kì. Sài gòn Nhỏ và những cộng đồng tương tự khắp thế giới là “những dự án chiến lược” như nhà nghiên cứu nữ Karin Aguilar-San Juan gọi chúng.22 Những cư dân của Sài gòn Nhỏ coi đó là hiện thân của “Giấc mơ Mĩ trong người Việt nam” nơi chủ nghĩa tư bản và sự chọn lựa tự do của chị.23 Đại lộ Bonsa trong khu Sài gòn Nhỏ là thông lộ nổi tiếng nhất trong cõi phân tán của người tị nạn Việt nam, với bảy làn xe chạy phóng khoáng hơn là Quốc lộ 1A ở trong nước Việt nam, và hai bên lề đường dễ sử dụng hơn bất cứ lề đường nào trong xứ sở gốc gác của họ, những tiệm ăn ở đó sạch hơn và thường khi cống hiến những thức ăn quê hương tốt hơn là thứ có thể tìm được ở quê nhà. Trong hơn một thập niên sau khi chiến tranh kết thúc, có thể là hai thập niên, khi miền đất quê hương khốn khó vì những chính sách kinh tế theo đường lối tập thể thất bại, sự lạm phát nổ bùng, sự chia khẩu phần các nhu yếu phẩm, và việc cấm vận của Hoa kì vốn là thành phần của một cuộc “chiến tranh Hoa kì lên Việt nam” tiếp diễn, những khu bách hoá của Sài gòn Nhỏ huy hoàng hơn và công nghệ giải trí của nó sống động hơn là thứ ở quê nhà.24 Sài gòn Nhỏ là một sự đắc thắng của chủ nghĩa tư bản và là một sự phản bác chống lại chủ nghĩa cộng sản, và trong đường lối này nó đã làm tròn vai trò như cái ấp chiến lược tối hậu, muộn màng hơn rất nhiều trước đây đã được chính phủ miền nam và các cố vấn Hoa kì của nó mong ước.

Chương trình ấp chiến lược nguyên thuỷ được thiết kế để thuyết phục giới nông dân rằng những quyền lợi tốt đẹp nhất của họ nằm cùng với chính phủ miền nam và những người Hoa kì, cưỡng ép nông dân vào trong những khu doanh trại được tăng cường để cô lập quân du kích khỏi sự ủng hộ của nông dân. Trong thực hành, quân du kích thâm nhập vào các ấp này, trong khi những người dân cư trú oán hận chính phủ vì cưỡng bách di tản họ khỏi đồng ruộng và những ngôi nhà tổ tiên của họ. Trong lúc những ấp chiến lược là những công cụ thô sơ, cùn nhụt, thì Sài gòn Nhỏ là một thí dụ về chủ nghĩa tư bản và nền dân chủ của Hoa kì vận hành ở một bình diện tinh tế của quyền lực mềm. Nếu Thành phố Hồ Chí Minh bây giờ là một nơi chốn để sống tốt hơn so với Sài gòn nhỏ đối với nhiều người trong số những ai có đặc quyền, đó là vì Đảng Cộng sản áp dụng những lối thực hành của chủ nghĩa tư bản và hệ ý thức tiêu dùng của Sài gòn Nhỏ. Như ấp chiến lược, Sài gòn Nhỏ bao năm vẫy gọi với người dân ở quê nhà đi sang Hoa kì, như những người tị nạn vượt biển, như những người Mĩ gốc châu Á, như những người sống sót từ các trại cải tạo, như những thành phần gia đình đoàn tụ qua chính sách nhập cư, như những người phối ngẫu của các công dân Hoa kì. Tất cả đã bị gạt sang bên lề hoặc bị trừng phạt ở quê nhà dưới sự cai trị của cộng sản và chọn cách đào thoát hay di cư tới một vùng đất hứa hẹn giàu sang và hội nhập. Nhưng Sài gòn Nhỏ như ấp chiến lược không chỉ là bất động sản vật thể. Nó còn là bất động sản của trí nhớ, vì chiếu theo những hạn từ không chính thức của thoả ước Hoa kì, những đám dân thiểu số càng thu thập được nhiều tài sản hơn, càng mua được nhiều sở hữu hơn, càng tích luỹ được nhiều thế lực hơn, và họ càng trở nên sáng giá, thì những người Mĩ khác sẽ càng nhìn nhận và nhớ đến họ một cách tích cực hơn. Sự thuộc về sẽ thế chỗ cho sự mong mỏi; sự là thành viên sẽ bù đắp cho việc không được nhớ tới. Sự là thành viên trong cái thân thể chính trị của Hoa kì này có thể khiến khả dĩ không chỉ bằng sự thành công về kinh tế, mà còn qua việc đạt thắng lợi những quyền về chính trị và văn hoá của sự tự đại diện bị khước từ đối với những người lưu vong và tị nạn khi họ còn sống dưới chế độ cộng sản. Kí ức và sự tự đại diện như thế là không thể tách rời, bởi những ai đại diện cho chính họ cũng đang nói lên điều này: hãy nhớ đến chúng tôi.

Người Việt nam ở Hoa kì thông hiểu rằng sức mạnh và lợi lạc tới trong sự tập trung thành. Do vậy, giống như những người mới tới khác, họ hội tụ nhau lại một cách tự vệ trong những khu lõm sắc tộc, ngoại ô thứ cấp, và ấp chiến lược, những cảnh quan hiện xuất ấy của giấc mơ Mĩ phân biệt với những cấm khu như ghetto của người Do thái, biệt khu như barrio của người nói tiếng Tây ban nha, và khu bảo tồn dành cho người da đỏ của ác mộng Hoa kì. Khu lõm, ngoại ô, ấp, cấm khu/ ghetto, biệt khu/ barrio và khu bảo tồn/ reservation là những thí dụ về những địa chỉ của kí ức (lieux de memoire), trong thời hiện đại đã thế chỗ cho lịch sử, hay như nhà nghiên cứu Pierr nói thế.24 Xã hội Hoa kì sáng tạo ra những địa chỉ của kí ức đặc thù này qua những thế kỉ của chiến trận, bóc lột, chiếm hữu, và kì thị, những lối thực hành bảo cho cư dân của những nơi chốn này phải nhớ đến vị trí của họ. Những cư dân này cũng tự bảo là phải nhớ vị trí của mình. Họ thông hiểu rằng nếu họ muốn có bất cứ hi vọng nào về việc được người Mĩ nhớ tới, thì họ phải tự nhớ đến mình trước đã. Đối với người tị nạn Việt nam, cái kỉ niệm quan trọng nhất là ngày 30 tháng Tư, ngày tháng Sài gòn thất thủ, mà họ gọi là tháng Tư Đen (mặc dù màu sắc của tang tóc trong xã hội Việt nam là màu trắng, nhưng gọi ngày này là tháng Tư Trắng ắt hẳn làm phật lòng, hay ít nhất làm hoang mang, những người Mĩ da trắng, mà xung quanh họ người Việt nam ở Hoa kì thường giữ lối cư xử tốt đẹp nhất, ít nhất là lễ độ và thường ra là ưu ái). Vào tháng Tư Đen, hàng trăm cựu chiến binh của quân lực Việt nam Cộng hoà tụ tập ở đài tưởng niệm Chiến tranh Việt nam toạ lạc trong Công viên Tự do (Freedom Park) trên Xa lộ Toàn Hoa kì (All American Way) ở Garden Grove thuộc Hạt Orange County. Một đài tưởng niệm lưu động trưng bày những ảnh chụp về những tàn ác của cộng sản và những thuyền nhân rách rưới. Các vòng hoa tưởng niệm trang trí một điện thờ vinh danh những tử sĩ. Các nhà hoạt động chính trị địa phương và những cựu tướng lãnh và đề đốc hải quân đọc những bài diễn văn, một người trong số đó, trong buổi lễ hiến dâng đài tưởng niệm vào năm 2003, tuyên bố việc xâm lăng Iraq là một sự mở rộng của Chiến tranh Việt nam. Một lần nữa, Hoa kì lại đang bảo vệ tự do, một tuyên xưng chẳng có ai bất đồng ý kiến. Những bản quốc ca của cả Hoa kì và Việt nam cộng hoà được tấu lên khi những vệ binh danh dự diễu hành với những lá cờ của cả hai đất nước, diễu hành trước những cựu chiến binh tự biểu dương trong những sự tái tạo về đồng phục xưa của họ. Các cựu chiến binh này là những công dân cao niên, số người ủng hộ họ lên đến vài ngàn ở buổi lễ hiến dâng và vài trăm trong những năm tiếp theo. Sự biểu dương của họ là một sự biểu dương hung bạo về lòng ái quốc, vừa hoành tráng nhưng cũng đồng thời nhỏ bé, vô tình phơi bày cái nhà văn Vladimir Nabokov gọi là “sự thê lương và huy hoàng của lưu vong.”26

Sự thê lương và huy hoàng khởi lên từ cung cách sự mất mát đã châm chích những cuộc lưu vong và những dòng giống tương quan của những người tị nạn, những người nhập cư, và những người thiểu số. Họ đã mất đi những xứ sở cội nguồn của họ, hoặc do chọn lựa hay do hoàn cảnh và những người chủ nhà của họ thường xem họ như tha nhân. Cái cảm thức này về mất mát và xa lạ làm khúc xạ những kí ức của họ một cách khác biệt với những kí ức của những đa số. Đối với những đa số, đạo đức về việc nhớ cái của riêng mình có thể đi từ tính anh hùng đến phản anh hùng. Quyền lực và đặc quyền là đa số thông thường cung ứng đủ an toàn để cho phép tính phản anh hùng, mặc dù điều này không phải luôn luôn là trường hợp, như trong những xã hội chuyên chế nơi sự nắm giữ gần như toàn diện về quyền lực của nhà nước một cách nghịch lí lại sản sinh một sự bất an lớn về quyền lực. Trong một cung cách liên quan, đối với những ai tự coi mình như là bị gạt sang bên lề, bị thống trị, bị loại trừ, bị bóc lột, hay bị áp bức, tính phản anh hùng phải có một thời gian để phát triển. Điều này là bởi vì những dân chúng yếu hơn khó có thể chịu được việc tỏ ra dường như ít quyền lực hơn đối với những người có quyền lực. Như thế đạo đức của việc nhớ cái của riêng mình như được thực hành bởi những người kém quyền lực thông thường được thực hiện trước tiên trong kiểu thức anh hùng. Sự mong mỏi của họ về quá khứ của mình là điều nhà nữ nghiên cứu Svetlana Boym gọi là “sự hoài hương phục hồi” (“restorative nostagia”), tức là cái mong muốn tái tạo, toàn bộ những gì từng hiện hữu.27 Chỉ về sau này khi những người kém quyền lực cảm thấy an ninh hơn trong cái xứ sở trú ngụ của họ, hoặc sau khi họ đã xả bỏ những hứa hẹn của đất khách, thì kiểu thức phản anh hùng mới nở rộ trong những câu chuyện về tính khiếm khuyết hoặc tính không thể đồng hoá về mặt văn hoá. Kiểu thức phản anh hùng phần lớn chưa thể phát triển giữa những người Việt nam ở Hoa kì, với một trong những ngoại lệ lồ lộ nhất là nhà văn Đinh Linh, về những lố lăng của anh tôi sẽ nói thêm về sau này. Cách khác, nghệ thuật, văn học và điện ảnh của người Hoa kì gốc Việt nam, trong khi thường miêu tả những khốn khó của cuộc sống tị nạn và cái quá khứ ám ảnh, tuy vậy ưa thích cái đẹp hơn là cái lố lăng và cái anh hùng hơn là cái phản anh hùng. Một cách tập thể văn hoắ Hoa kì gốc Việt, dù tốt hay xấu, đặt trước nền tảng là tính thích nghi của người Việt nam và sự hứa hẹn của giấc mộng Hoa kì, dù rằng phần nào với mức độ nước đôi.

Đối với những người Việt nam lưu vong này ở Hoa kì là với nhiều con cháu của họ, việc nhớ lại cái của riêng mình xảy ra trong tương quan với, và thường khi đối chọi lại, những dự án quốc gia về việc nhớ cái của riêng mình ở Việt nam và Hoa kì. Những dự án này thường khi không biết tới những người Việt nam lưu vong và khi chúng để ý đến họ, thông thường lại đặt họ và nói những hạn từ kém tính anh hùng. Vậy nên người Hoa kì gốc Việt, đối với bây giờ, khăng khăng về kiểu thức anh hùng trong việc nhớ lại tự thân. Bởi những người anh hùng nhất là những người đã chết, có lẽ đường lối biểu tượng nhất mà những cách thực hành đạo đức này về việc nhớ có thể hoà giải là trên những thân thể của những người chết. Nhưng nay ở Hoa kì theo chủ nghĩa đa nguyên, những người yếu và những người bị đánh bại thấy tự thân họ bị bác bỏ. Những cựu chiến binh Hoa kì đã từ khước sự yêu cầu của cựu chiến binh Việt nam được gộp vào trong những đài tưởng niệm chiến tranh ở những nơi chẳng hạn như Kansas Can City, và không có sự nhắc nhở nào về cựu chiến binh Việt nam tồn tại trong đài tưởng niệm cựu chiến binh Việt nam (the Vietnam Veterans Memorial) ở thủ đô Washington, biệt khu Colombia.28 Nghĩa trang quốc gia Atlington (Arlington National Cemetery) được cho là hẳn cũng xua đi những cựu chiến binh này nếu họ có hỏi xin được chôn ở đó. Nói cho cùng đây là điều đã xảy ra cho một đồng minh khác của Hoa kì, Tướng Vang Pao, thủ lãnh của các chiến binh sắc tộc Hmong đã chiến đấu cho Cơ quan Tình báo Trung ương CIA ở Lào trong suốt cái gọi là Chiến tranh Bí mật (dĩ nhiên, nó không là bí mật đối với những người Hmong chiến đấu trong đó, hệt như cuộc Chiến tranh Lạnh không hề là lạnh đối với những người châu Á đã giết và chết vì nó).  Đủ tốt để chết cho những quyền lợi của Hoa kì trong những con số lớn lao, đủ tốt để mất quê hương cho những kẻ thù của Hoa kì, những người chiến binh Hmong này không đủ tốt để được chôn bên cạnh những chiến binh Hoa kì. Những cái chết của họ, lại nữa, sẽ vẫn là bí mật đối với những công dân Hoa kì.

Vậy là, về nhà. Điều ấy ắt là thông điệp mà các xứ sở nguồn gốc gửi cho những người dân lưu vong của họ trong tương lai, qua cái lề lối mà những xứ sở này đối xử với người chết. Ở nghĩa trang Biên hoà, người chết nằm sẵn sàng để được triệu tập một lần nữa để phục vụ cho lí tưởng quốc gia dân tộc, lần này về sự hoà giải. Trong khi đó, ở tỉnh Quảng trị, những nỗ lực cam go để khai quật những quả bom, quả mìn, và viên đạn còn đang ngủ yên cũng đã phơi ra những bộ xương của người chết từ cả hai phía. Trong một cánh đồng ánh mặt trời làm đất khô quánh, một đội đi tìm mìn đã lục soát từng thước lại từng thước để khui ra thứ quân cụ này cũng đã phanh phui được hài cốt của năm hay sáu người lính miền nam. Họ được chôn trong một nghĩa trang địa phương. Không xa cho lắm, ở thị trấn Đông hà, gần đây cũng tìm được hài cốt của hai người lính miền bắc. Người hướng dẫn cho tôi từ tổ chức dò mìn bảo tôi rằng việc hoà giải dân tộc có nghĩa là chúng ta không nên phân biệt giữa những người chết thuộc miền bắc và những người chết thuộc miền nam. Anh nói không hề chua chát hay u sầu, mặc dù người Pháp đã giết ông nội của anh và người Mĩ đã giết ông ngoại của anh. Mang mắt kiếng và mặc quần bò cùng cái áo thun ba lỗ, người hướng dẫn của tôi trông chẳng khác nào bất cứ người Việt nam nào từ hải ngoại về thăm quê nhà. Nhưng đồng bào của tôi người Hoa kì gốc Việt chua chát, nhớ lại những mất mát và những người chết của riêng họ, có thể không sẵn sàng đến thế để đưa mình san sẻ cái tình tự này của anh. Khó cho họ khi những câu chuyện như câu chuyện này, được người tị nạn Nguyễn Trọng Hiền nhớ lại, can thiệp vào:

Khi [em trai tôi] chết năm 1974, nó mới chỉ 22 tuổi. Năm năm sau cái chết của em tôi, người cộng sản cày xới những nghĩa trang của những người lính miền nam, nơi em tôi được chôn, để xây dựng một trung tâm huấn luyện quân sự. Mẹ tôi quyết định cho đào thi thể của em lên và dời đi. Mấy ngày kế sau, cha mẹ tôi, người chú, mấy đứa em họ và tôi tới để dời thi thể. Khi lần đầu tiên tôi nhìn vào thi thể của em, tôi sững sờ và kinh hãi khi thấy rằng em nhìn như thể chỉ đang nằm ngủ. Thân thể em được gói bên trong một cái túi mủ, và chiếc áo quan được thửa đặc biệt cho nước không len ngấm vào được. Gia đình tôi lấy thi hài của em và gỡ tất cả da thịt để chỉ còn lại là hài cốt. Lớp da bong ra như thể một cái bao tay. Hài cốt được rửa sạch và đặt vào một cái hộp nhỏ hơn.29

Lòng bao dung tới dễ dàng hơn khi người ta đã chiến thắng, và những kẻ chiến thắng thấy quyền lợi tốt đẹp nhất của họ là rộng lượng với những người bại trận. Tôi không nhắc nhở điều này với người hướng dẫn của tôi khi chúng tôi ngắm những người đàn ông mặc áo kaki thăm dò mặt đất, việc làm của họ chậm chạp và nóng nực. Tôi nghĩ rằng cả hai chúng tôi đều nhận thức rằng những kẻ sống sót không dễ cho lắm để quên đi lịch sử. Những gì đã từng một lần xảy ra ở đây có thể vẫn đang xảy ra cho nhiều người, quá khứ cũng bộc phá như bất cứ tàn tích nào được chôn vùi trong mảnh đất này.


*

KM-Nhưng tựa sách nên đọc trong đời

Gửi phản hồi