Mặt trái tấm huân chương qua ‘Chuyện tình triết gia’


Mặt trái tấm huân chương qua Chuyện tình triết gia

Đỗ Lai Thúy


Xưa nay chuyện tình thì bao giờ chả hấp dẫn. Bởi, tình yêu (và tình dục) là một chiều kích vừa thường tục vừa ẩn mật của con người. Huống hồ con người đó lại là các triết gia, một loại người đặc biệt, thậm chí có thể nói là không như thường.

Triết gia khác với các nhà khác là họ thiên về tư duy tư biện, nghĩa là họ làm việc với các ý tưởng để đẻ ra những ý tưởng. Hơn nữa, họ còn cứ khăng khăng với những mô hình ở trong đầu và ngoan cố sống theo các mô hình ấy, bất chấp chúng có mâu thuẫn với thực tế đến đâu đi chăng nữa. Dù cho ở đây là thực tế sát sườn, chi phối đến chính cuộc đời họ: như là đàn bà, tình yêu là tình dục.

Trước hết hẳn nên nói đến các triết gia Hy Lạp, những ông tổ của triết học phương Tây. Aristotle (384 – 322 TCN) coi thường phụ nữ, không phải bởi họ không có “chim” (Freud), mà vì họ ít răng hơn đàn ông. Ông chỉ coi họ như những con vật được thuần hóa. Tuy nhiên, ông vẫn lần lượt cưới đến hai vợ. Trong khi thầy của ông, triết gia Plato (427 – 347 TCN) thì sống độc thân đến cuối đời.

Nhưng trong tác phẩm Cộng hòa, theo thuyết ưu sinh, Plato cho rằng con cái của tầng lớp hạ đẳng nên đưa đến một nơi bí mật để giam giữ, còn con cái của những đôi vợ chồng thượng đẳng thì được nuôi tập trung, cách ly bố mẹ riêng, chỉ có bố mẹ chung, anh chị em chung. Từ đó, mọi phụ nữ là vợ chung của đàn ông, không ai có quyền có vợ riêng. Hẳn vì vậy mà cái tên Plato đầu têu ra khái niệm tình yêu Platonic.

Andrew Shaffer là tác giả người Mỹ. Ông có nhiều tác phẩm phi hư cấu, hài hước bán chạy trên New York Times. Ông còn được biết đến dưới bút danh Fanny Merkin. Ảnh: AP

Thầy của Plato, triết gia Socrates (469 – 399 TCN) có một câu nổi tiếng, đượm chất hài, nhưng lại đúng sự thật: “Nếu bạn có một người vợ tốt, bạn sẽ hạnh phúc. Nếu bạn có một người vợ tồi, bạn sẽ trở thành một triết gia”. Socrates, trở thành một trong những nhà triết học lớn nhất thời cổ đại, hẳn vì vợ ông là một mụ đàn bà lắm mồm mà lại thích bạo hành. Các triết gia Hy Lạp trên, đánh giá thấp phụ nữ có phần vì các ông sống trong một thời đại trọng nam nên ông nào cũng có bồ trai là học trò.

Các triết gia sau Hy-La, nhất là các nhà thần học Kitô giáo, bắt đầu có sự phân biệt giữa hôn nhân, tình yêu và tình dục. Nhiều người yêu mà không lấy, lấy mà không yêu. Âu đó là chuyện muôn thuở. Nhưng, quan trọng hơn, là sự phân biệt giữa tình yêu và dục vọng, như hai phạm trù đối lập nhau.

Chính sự thả dục hết cỡ và sau đó diệt dục đã làm cho Augustine (354 – 430) trở thành Giáo phụ/Thánh, còn Abelard (1079 – 1142) sau khi bị thiến thì chuyên tâm với triết và trở thành một nhà thần học vĩ đại. Kant (1724 – 1804) không đánh giá cao tình dục: “Sự kết hợp về mặt tình dục là việc lợi dụng lẫn nhau: một người lợi dụng cơ quan sinh dục và những năng lực tình dục của người khác”.

Với tình dục thì như vậy, nhưng tình yêu cũng không được các triết gia đánh giá cao. Họ coi thứ tình cảm mãnh liệt này sẽ làm cản trở suy tư triết học. “Tình yêu bắt đầu tại nơi mà kiến thức bỏ lại” (Aquinas, 1225 – 1274). “Tình yêu chỉ là ý chí sinh tồn của giống loài, là nhu cầu truyền giống” (Schopenhauer, 1788 – 1860). “Tình yêu là một căn bệnh tinh [/tâm – ĐLT thêm] thần nghiêm trọng” (Plato). Thậm chí, L. Tolstoy (1828 – 1910), một chuyên gia lớn về tình yêu trong tiểu thuyết cũng có nhiều lời tiêu cực về tình yêu: “Tình yêu không hiện hữu. Chỉ hiện hữu nhu cầu sinh lý về việc giao hợp, và nhu cầu thuần lý về một người bạn đời”.

Các triết gia thường thất bại trong hôn nhân, hẳn vì thế mà họ đánh giá thấp hôn nhân. “Hôn nhân là mồ chôn của tình yêu” (Beecher, 1813 – 1887). “Hôn nhân không đem lại điều gì tốt đẹp cho một người đàn ông, ta nên lấy làm toại nguyện nếu nó không gây tổn hại nào” (Diogenes, 422 – 323 TCN). Tình yêu là lý tưởng, nhưng hôn nhân lại là thực tế, và sự lẫn lộn giữa lý trí và thực tế không bao giờ thoát khỏi sự trừng phạt” (Goethe, 1749 – 1832).

Triết gia Russell (1872 – 1970) nói: “Hôn nhân, đối với phần lớn phụ nữ là kiểu sống phổ biến nhất; và tổng số lần quan hệ tình dục “miễn cưỡng” mà phụ nữ phải chịu đựng trong hôn nhân chắc hẳn phải nhiều hơn trong nghề mại dâm”. Hẳn vì muốn cho một người vợ giảm thiểu sự chịu đựng, mà Russell đã lần lượt lấy tới bốn bà vợ, bà vợ thứ tư khi ông đã 80 tuổi. Còn Schopenhauer, Kant, Locke (1632 – 1704), Kierkegaard (1813 – 1855)… không lấy vợ.

Mời đặt sách tại đây: <LINK>

Các triết gia đương đại thì sống phóng túng hơn, hoặc không thèm biết đến các quy tắc hôn nhân, hoặc tự đặt ra các quy tắc hôn nhân. Rand (1905 – 1982), tác giả những cuốn tiểu thuyết triết học (Atlas nghiêng vai, Suối nguồn) tin rằng để yêu người khác trước hết phải yêu chính mình. Lúc 50 tuổi và đã có chồng, bà có cuộc tình với Branden, 25 tuổi. Khi anh chàng lấy vợ, họ trở thành bộ tứ khăng khít, và Rand và Branden vẫn duy trì “quan hệ” với nhau.

Còn Sartre (1905 – 1980) và Beauvoir (1908 – 1986) thì cùng nhau tham dự vào một hình thức hôn nhân mới theo sáng kiến của họ là Union livre (kết hợp tự do), tức họ là vợ chồng của nhau nhưng không cưới nhau và đồng thời mỗi người vẫn có nhiều bồ. Về sau, Sartre còn nhận một người bồ của mình làm người con thừa kế, còn Beauvoir thì cũng nhận làm con một người bồ đồng tính. Là những nhà triết học hiện sinh, Sartre và Beauvoir, khác với đa số triết gia khác, sống cuộc đời họ phù hợp với lý thuyết triết học của mình.

Những câu chuyện tình của các triết gia, quả thực, phong phú và kỳ quặc. Có vẻ như giữa triết thuyết và đời tư của họ chẳng soi sáng gì cho nhau một cách thuận lý, nhưng có thể tạo ra những phản chứng khoa học. Tuy nhiên, Chuyện tình triết gia  không chỉ hấp dẫn bởi các tình tiết “chẳng giống ai” mà chủ yếu bởi một cách kể dí dỏm, hài hước, giễu nhại hậu hiện đại. Nhìn ngắm mặt trái của những huy chương này, người đọc bình thường hẳn ít nhiều cũng được an ủi:  hóa ra những con người phi thường ấy cũng thường thôi!

Mời đặt sách tại đây: <LINK>


Nguồn: Người Đô Thị


*

để lại phản hồi