y. Sáng tác

Về sự tưởng nhớ người khác


Về sự tưởng nhớ người khác

Viet Thanh Nguyen

Nguyễn Huy Hoàng dịch

Trích Nothing ever dies


MỘT BỨC TƯỜNG ĐEN DỰNG ĐỨNG ở thủ đô của Hoa kì, chôn chân vào lòng đất. Trên bề mặt của tường này có khắc tên của trên 58.000 người Hoa kì đã chiến đấu và chết trong cuộc chiến. Đối với nhiều người tới thăm, uy lực của bức tường khởi lên từ những cái tên này của người chết, gợi lại những câu này trong kinh thánh: “Trong số họ, có những người để lưu lại một cái tên, để cho những ngợi khen về họ có thể được tán tụng. Và có một số người, không còn lưu niệm gì; những kẻ hư mất, như thể vốn chưa hề có và trở thành như thể họ chưa bao giờ được sinh ra, và cả những con cái sau họ.”1 Bức tường đen cứu khỏi sự lãng quên tên của những người lính đã bị quên đi kia hay ít nhất không được những người đồng bào Hoa kì của họ biết đến trong một khoảng thời gian. Dù cho những người phê bình bức tường miệt thị thẩm mĩ của nó, mà họ nhìn như thể gợi lên màu tối đen của nhục nhã, nhiều người xem nó như đài tưởng niệm quyền uy nhất của Hoa kì.2 Do kiến trúc sư Maya Lin thiết kế, bức tường là địa chỉ về địa lí của kí ức cưỡng chế và lệ thuộc vào trò chơi chữ thị giác của nó: cái nhìn của kí ức. Nhiều vật được nhìn ở địa chỉ này, với ba thứ quan trọng nhất là những cái tên của người chết, sự hiện diện của những người khác, và sự phản ánh của tự thân như khách viếng thăm trong tấm gương đen của bức tường. Những cái tên lên tiếng gọi các khách viếng thăm, vốn tự thân như những người hành hương hay những người tiếc thương thăm hỏi những cái tên này và đôi khi kêu gọi họ ra. Địa chỉ này, những cái tên này, và những người viếng thăm này tạo nên một tập hợp, một trải nghiệm cộng thông về kí ức hiển hiện và đôi khi nghe được thành tiếng.

Vốn cho là bức tường đen đã đóng một vai trò quan trọng trong cách Hoa kì nhớ đến những tử sĩ chiến tranh của mình, hẳn dễ lầm bức tường đen và sự tiếc thương nó chiêu niệm như một biểu lộ thuần tuý về đạo đức của việc nhớ cái riêng của mình. Bức tường là vật trung tâm và biểu tượng của một nỗ lực Hoa kì thuần khiết từ thập niên 1980 tới hiện tại để nhớ đến những tử sĩ Hoa kì, một chiến trận như một phản ứng với cuộc nội chiến trong linh hồn của người Hoa kì vốn là sự trải nghiệm của Hoa kì về cuộc chiến, cuộc chiến mang tính phân chia nhất kể từ cuộc Nội chiến thực sự [1861–1865]. Sự phân chia này đóng góp vào sự suy thoái trong niềm tôn kính về quân sự Hoa kì và những người lính của nó. Nhiều người coi những người lính này như những kẻ thất bại chiến đấu trong một cuộc chiến tranh bẩn thỉu đã lấy đi sinh mạng của những người vô tội, dân sự, và những chiến sĩ cho tự do, và nó vẫn là như thế suốt thập niên 1970 cuộc chiến đã là đề tài khó khăn cho nhiều người nói đến, gồm cả các cựu chiến binh.3 Một số trong những cựu chiến binh này, có lẽ lấy cảm hứng do những phong trào tranh đấu cho dân quyền và lên tiếng chống đối chiến tranh, quyết định rằng bản thân họ, nữa, cũng nên cất tiếng cho tự thân và đòi hỏi sự nhìn nhận. Họ cầm đầu chiến dịch tạo ra Đài tưởng niệm Cựu chiến binh Việt nam, với ý hướng là khích lệ người Hoa kì nhớ lại những người lính này như một số của chính họ, hơn là những kẻ khác chỉ khơi dậy ô nhục và tủi hổ.

KM-Nhưng tựa sách nên đọc trong đời

Những thể thức giải phẫu đa dạng về kí ức đã chữa lành cho thanh danh bị thương tổn của người lính Hoa kì. Bức tường đen là cái biểu tượng nhất—một vết cắt và một vết thương trong lòng đất, nhưng cũng là một cái sẹo và một hàn gắn. Các chính khách và các tổng thống đã viếng thăm bức tường và ca ngợi những người lính này. Các nhà làm phim và các nhà tiểu thuyết đã đánh đi đánh lại cuộc chiến trong điện ảnh và văn học, cho những người lính này đóng vai những nhân vật chính.4 Dù cho những người lính xuất hiện như các anh hùng hay phản anh hùng, như trường hợp thường xảy ra, họ đòi hỏi đồng cảm và thông cảm cho những đức tính và những thất bại của họ. Sự dâng trào về thương cảm đối với người lính Mĩ trong công chúng Hoa kì giúp phần tạo ra một sự tái trào dâng về tình tự ái quốc, cung cấp chứng cớ chắc nịch về cung cách các nghệ thuật của kí ức được hình thành bởi thế giới và trở lại định hình nó. Tình tự ái quốc này đã từng là nên tảng cho thế đứng ngày càng là võ sĩ của Hoa kì kể từ thập niên 1980, khi nó bắt đầu trắc nghiệm quân đội toàn tình nguyện, xét lại với những cuộc phiêu lưu nhỏ ở Grenada và Panama. Nhưng kết quả sơ kì chống lại những đối thủ quân số ít hơn rất nhiều là tốt đẹp, và công chúng Hoa kì không gạt bỏ những nỗ lực này. Như vậy khuyến khích Hoa kì quật lại những lực lượng của Saddam Hussein ở Kuwait. Cuộc Chiến tranh vùng Vịnh này là một sự áp dụng những bài học mà một số người Hoa kì học được từ cuộc chiến sớm hơn: tránh tranh chấp du kích và việc lập quốc; làm tinh xảo lại ưu thế kĩ thuật học của Hoa kì; và áp dụng sức mạnh lấn lướt trong những trận đánh quy ước trên đất, trên biển, và trên không. Với những lực lượng của Saddam Hussein tháo chạy một cách ngoạn mục, Tổng thống George H. W. Bush có thể tuyên dương: “Nhờ Thượng đế, chúng ta đã đá văng cái hội chứng Việt nam một lần và mãi mãi.”5

Các vị tổng thống và các vị học giả thông hiểu “hội chứng Việt nam” như là nỗi sợ hãi về thất bại và sự ghê tởm luân lí đối với chiến tranh đã nhũng nhiễu người Mĩ kể từ việc thua trận ở Việt nam. Người lính Hoa kì bị làm cho xấu hổ và phong trào phản chiến là triệu chứng của cái hội chứng này. Cả hai triệu chứng đó phải được điều trị trong những thao tác hậu chiến về kí ức, nơi những sự vắng mặt trở thành cũng mang tính tố giác như những sự có mặt. Có mặt trong bức tường đen là những người lính Mĩ được cứu chụp. Vắng mặt khỏi đài tưởng niệm là những thương vong dễ dàng hơn để quên đi, những cựu chiến binh chịu khổ nạn từ chứng thương, hay hiện không nhà, hay đã tự sát, như nhà nữ phê bình sắc xảo bậc nhất của đài tưởng niệm, là Marita Sturken nhận xét. Tính gộp lại, những người chết và những người bị thương hậu chiến vượt xa rất nhiều con số những cái chết thời chiến, nhưng quốc gia này, giống như các quốc gia khác có sự khó khăn về việc thừa nhận họ và những đau bện của họ. Các quốc gia ưa thích là những cuộc chiến tranh chấm dứt mau lẹ, những vết thương đã được đốt trong kí ức qua “câu chuyện chiến tranh” được thông hiểu một cách quy ước hơn là vẫn bỏ ngỏ và lây nhiễm. Một phiên bản của câu chuyện chiến tranh được chụp bắt trong một khẩu hiệu hậu chiến thuận tai vốn hẳn có thể được viết ra bởi một hãng quảng cáo: Chống đối Chiến tranh nhưng Ủng hộ Binh sĩ (Oppose the War but Support the Troops). Như sử gia Christian Appy ghi nhận, khẩu hiệu này “thường được sử dụng như một khúc gậy để làm tịt ngòi sự li khai phản chiến.”6 Khẩu hiệu này mặc nhiên khơi dậy kí ức trong số nhiều người Mĩ rằng họ đã không ủng hộ những binh sĩ của họ trong suốt cuộc chiến ở Việt nam và bây giờ kêu gọi họ để ủng hộ binh sĩ đang chiến đấu trong những cuộc chiến tranh hiện hành. Khi làm như thế, khẩu hiệu này cũng trấn áp những câu hỏi gây phiền nhiễu. Có lẽ một người có thể ủng hộ binh sĩ nếu người ấy chỉ chống chiến tranh trên những đề xuất về chính sách ngoại giao, nếu người ấy đơn giản chỉ không đồng ý với sự chi tiêu của ngân khố Hoa kì cho chủ nghĩa phiêu lưu về quân sự. Nhưng nếu một người chống đối chiến tranh vì nó giết hại những người vô tội, vậy thì làm sao người ấy có thể ủng hộ binh sĩ là những kẻ giáng xuống tổn hại? Chẳng lẽ họ không gánh trách nhiệm luân lí về việc giết hại? Có thể nào họ lại không gánh ít nhiều trách nhiệm về chính trị cho một cuộc chiến tranh mà họ mặc nhiên ủng hộ qua những lá phiếu, những thái độ, và những hành động của họ? Câu hỏi về trách nhiệm là đặc thù cấp bách cho một đạo quân toàn là tình nguyện đối lại với một đạo quân với nhiều người đi nghĩa vụ quân sự, như trong trường hợp ở Việt nam. Martin Luther King Jr. phán đoán đạo quân nghĩa vụ này, với những binh sĩ đa phức về chủng tộc, như là một đạo quân “cư xử trong sự đoàn kết tàn bạo” chống lại người Việt nam. Chẳng lẽ một đạo quân tình nguyện lại không càng lại bị mắc vào trong một phán đoán như thế?

Cái sự từ chối của khẩu hiệu kia về việc phán đoán binh sĩ cũng ngầm chứa một sự từ chối phán đoán những người dân sự. Cái nằm sau khẩu hiệu đó không chỉ là sự ủng hộ cho các binh sĩ mà còn là sự xoá tội cho luôn cả những người dân sự thốt ra khẩu hiệu ấy. Nếu đôi bàn tay của các binh sĩ là sạch, thì đôi bàn tay của những người dân sự này cũng thế. Còn về phần những tử sĩ Mĩ, rốt ráo họ đã không chết vô duyên. Khẩu hiệu này đã làm khởi dậy trí nhớ về họ, chứng tỏ một lần nữa rằng những kí ức của người sống sáng nên về người chết—và tự thân những người chết là những nguồn năng chiến lược trong những chiến dịch của những cuộc chiến tranh tương lai. Từng có một khi người chết dường như gào lên chống chiến tranh, nhưng bây giờ, hệt như có lí, người chết dường như kêu gào ủng hộ binh sĩ của chúng ta hiện đang tham gia cuộc chiến tranh mới. Ít nhất đây là điều những người sống nói, và chính điều những người sống nói mới thực sự đáng kể. Như nhà nghiên cứu Jan Assman viết, “nếu ‘Chúng ta Là Những gì Chúng ta Nhớ,’ sự thật của kí ức nằm trong cái căn cước mà nó định hình…. Nếu ‘Chúng ta Là Những gì Chúng ta Nhớ,’ chúng ta là những câu chuyện mà chúng ta có thể kể về tự thân.”7 Câu chuyện về sự ủng hộ binh sĩ khẳng định một cái căn cước Hoa kì được đầu tư vào công lí của những cuộc chiến tranh Hoa kì và sự ngây thơ vô tội của những ý hướng Hoa kì. Căn cước này là “Hội chứng Việt nam” chân chính, cái căn cước mang tính tuyển lựa của một xứ sở hư cấu về tự thân nó như là một kẻ mãi mãi ngây thơ vô tội.

Nhà văn Graham Greene vừa chẩn đoán vừa mỉa mai cái phiên bản này về Hội chứng Việt nam trong cuốn tiểu thuyết Người Mĩ Trầm lặng/ The Quiet American, có nhân vật chính là nhân viên của Cục Tình báo Trung ương (CIA) Hoa kì tên là Alden Pyle tỉnh táo, lí tưởng, và hầu như trinh khiết. Nhân danh việc ủng hộ một “lực lượng thứ ba” chống cộng, anh đưa lậu những chất nổ vào nước Việt nam sau thời của người Pháp và trước thời của người Mĩ trong thập niên 1950. Mặc dù không phải là ý hướng của Pyle là lực lượng thứ ba sẽ giết những người dân sự với những chất nổ này trong những cuộc đánh bom khủng bố, nhưng họ quả có làm điều đó. Quan điểm của Greene là cả sự ngây thơ vô tội và ý hướng là những cáo lỗi cho những hậu quả chết người không thể tránh được do sự can thiệp của Hoa kì. Trong cái phiên bản này của Hội chứng Việt nam nơi Hoa kì là kẻ ngây ngô nguy hiểm, chiến tranh là cái mà những người Mĩ yêu thích hơn là sợ hãi, bất kể những lời phủ nhận mang tính ngược lại. Có cách nào khác để giải thích về bao nhiêu cuộc chiến tranh mà Hoa kì lại chiến đấu trong cái thế kỉ Hoa kì của nó? Điều khiến cho Việt nam độc đáo đối với người Mĩ là rằng cái tình yêu này đã không được đền đáp, cuộc chiến là một sự vụ bi đát kết thúc tồi tệ, điều mà Greene báo hiệu trong việc dàn dựng cô Phượng hay thay lòng đổi dạ và bí ẩn như là người tình của Pyle. Pyle chân thành thương yêu Phượng và muốn lấy nàng, nhưng sự qua đời của anh, bị ám sát bởi những đặc vụ của Việt minh, dường như cô không bận tâm cho lắm. Trong khi những chiến dịch ở Grenada và Panama và những cuộc chiến tranh ở Kuwait, Iraq, và Afghanistan chưa làm phát sinh những loại phúng dụ lãng mạn như thế này, chúng là những nỗ lực do giới lãnh đạo Mĩ để tái thiết lòng yêu của nhân dân Mĩ đối với chiến tranh. Những người lính Mĩ chiến đấu trong những cuộc chiến tranh này là một sự kết nối về cảm xúc giữa những cuộc tranh chấp trong quá khứ và hiện tại khá dễ dàng, hay là cựu Thuỷ quân Lục chiến Hoa kì Anthony Swofford lập luận như thế khi anh mô tả Thuỷ quân Lục chiến chuẩn bị cho Kuwait:

Trong ba ngày trời chúng tôi ngồi trong phòng giải trí và uống tất cả bia và xem tất cả những cuốc phim khốn kiếp này, và chúng tôi la to Semper fi và chúng tôi chọi đầu húc nhau và quần nhau nhừ tử và chúng tôi nổi hứng về những thị kiến đa dạng về tàn sát và bạo động và lừa lọc, cưỡng hiếp và giết chóc và cướp bóc. Chúng tôi tập trung vào những phim về Việt nam bởi đó là cuộc chiến tranh gần đậy nhất, và những thành công cùng những thất bại của cuộc chiến đó góp phần soạn thảo những cẩm nang huấn luyện của chúng tôi.8

KM-Sách ngoại giá nội

Những người lính này đều yêu thích chiến tranh hay ý thưởng về chiến tranh, điều đó không đáng gì ngạc nhiên, bởi chiến tranh là chí nguyện của họ, để yêu chiến tranh và yêu phía của chính họ trong lúc thù ghét phía bên kia, họ nhớ những cái của chính họ.

Bức tường đen không dấn vào một nền đạo đức rành rành như thế về kí ức, mặc dù những quyền lợi chính trị đã sử dụng nó cho mục đích ấy. Nếu bức tường đen dấn trực tiếp vào sự kêu gọi này để chỉ nhớ đến cái của riêng mình, đặc biệt trong những đường lối hùng tráng mà Thuỷ quân Lục chiến thích thú, nó ắt hẳn không là một đài tưởng niệm rất bức thiết. Nhiều đài tưởng niệm mang tính trong suốt và thẳng tuột về việc cổ vũ chiến tranh, nam tính, anh hùng tính, và sự hi sinh, và ít cái khơi gợi được chiều sâu của sự quyến luyến từ những khách viếng thăm mà bức tường tối đó làm được. Uy lực của bức tường không tới từ sự phó mình trọn vẹn của nó cho chiến tranh và những người lính mà từ sự nước đôi sâu xa của nó về chiến tranh và những người lính, thậm chí họ không xuất hiện được nhân cách hoá như những hình tượng, những gương mặt, hay những thân thể. Bức tường đen vừa là tấm gương vừa là rào chắn, và đây là cái định hình và sáng tạo ra tính nước đôi. Như một tấm gương, bức tường phô ra những hình tượng, những gương mặt, và những thân thể của những người khách viếng thăm bên trên những cái tên của người chết, trong khi như một rào chắn, bức tường cách li người sống khỏi người chết. Trong lề lối đó, bức tường dọn trước nền cho những tình cảm về nhìn nhận và tha hoá, về thân mật và xa cách, của mối tương quan giữa người sống và người chết. Vừa là tấm gương và lá chắn, vừa là một nơi chốn khơi gợi cái nhìn vừa là một cảnh quan, bức tường nắm bắt cung cách người chết thuộc về người sống như của chính họ mà cũng là lạ khác một cách vô phương hoán cải. Và ấy thế cái tính khác kia—sự bí nhiệm và kinh hoàng của cái chết được thể nhập bằng người chết—là một cái sẽ không thể tránh được san sẻ bởi người sống, họ vốn cảm nhận tính khác này trong sự tử vong không thể tránh được của chính họ kêu gọi họ từ đằng sau bức tường đen kia. Điều khiến cho bức tường đen có quyền uy là việc nó thể nhập sự nhớ về tự thân cũng như khơi gợi về tính khác.

Những suy tư của Maya Lin về việc thiết kế bức tường đen gợi ý rằng thế giới quanh cô định hình mĩ học của cô và cái kí ức vừa là cái tự thân và vừa là người khác. “Với một số người, tôi không thực sự là một người Mĩ,” cô viết với sự nhấn mạnh, suy tư về thời thơ ấu của cô tại vùng Trung tây của Hoa kì và sự dị nghị về việc chọn lựa ấy. Lin đang là một sinh viên trường cao đẳng khi cô thắng cuộc tranh tài cho mẫu thiết kế của đài tưởng niệm, và một số người coi việc lựa chọn cô như là một sự xúc phạm. Họ không thể nào thông hiểu làm sao một người đàn bà, một người trẻ tuổi, và một người Mĩ gốc Trung quốc lại có thể thiết kế một đài tưởng niệm cho những người đàn ông, cho những người lính, và cho những người Mĩ. Cái “cảm tính về tính về việc là lạ khác đã định hình sâu xa cách tôi nhìn vào thế giới—như thể từ độ xa—một quan sát viên ngôi thứ ba.”9 Chúng ta hãy so sánh cái trải nghiệm cuối thế kỉ thứ hai mươi này với những tuyên xưng của W. E. B. DuBois trong tác phẩm Linh hồn của dân Da đen/ The Souls of Black Folk, từ 1903:

người Da đen là một thứ con trai thứ bảy, sinh ra với một tấm màn, và được phú bẩm với thị giác thứ nhì trong cái thế giới Hoa kì này—một thế giới không nhường cho y sự tự thức nào, mà chỉ để tự nhìn thấy bản thân qua sự phơi mở của cái thế giới khác. Nó là một cảm xúc lạ lẫm, cái ý thức kép này, cái cảm thức này về việc luôn luôn nhìn chính tự thân qua những cặp mắt của người khác.10

Nhiều thiểu số ngoài người Mĩ gốc châu Phi cũng tuyên xưng cái ý thức kép cho chính họ. Họ trải nghiệm sự phân biệt này giữa cái tự thân thống ngự của Hoa kì—cái tự thân da trắng—và những tự thân khác sậm màu hơn của Hoa kì không chỉ trong một đường lối thế tục, như thành phần của một tập thể bị đóng khuôn là khác, mà còn cả trong một đường lối nhân thân. “Người ta cảm nhận cái tính kép của mình—một người Hoa kì, một người Da đen, hai linh hồn, hai ý nghĩ, hai nỗ lực không được hoà giải, hai lí tưởng giao tranh trong một thân thể sậm màu, chỉ riêng cái sức mạnh ngoan cường của nó mới giữ cho nó ko bị xé toang.11 Bức tường đen hiện xuất từ đường lối bị phân chia này về việc nhìn thế giới đối với Maya Lin, nhưng đều cũng là uy lực về ý thức kép là phẩm tính đại đồng của nó, cái nghịch lí thay lại khởi lên từ sự đặc thù của trải nghiệm da đen.

Trong khi các thiểu số có thể trải nghiệm ý thức kép một cách quy củ, thậm chí hàng ngày, uy lực của bức tường đen là rằng nó chuyển tải cái cảm thức ấy tới những cá nhân vốn không từng quen với việc trải nghiệm nó, và rồi hoà giải cái lưỡng tính ấy. Những khách viếng thăm này trải nghiệm ý thức kép về việc nhìn tự thân họ và được nhìn bởi người chết, những hồn ma của những người lính vốn cùng nhau học hành, theo lời của nhà kinh điển học James Tatum, “một sự nổi dậy của người chết.”12 Có lẽ điều mà người khách viếng thăm chạm tay vào bức tường đen và được nó chạm lại cảm nhận là cái cảm thức rằng chị, nữa, cũng là một thiểu số, bất kể về chủng tộc hay văn hoá trong ví dụ này cái căn cước thiểu số của ta là thuộc về người sống, con số kém xa với đội ngũ của người chết. Những cái khoảnh khắc này về ý thức kép được hoà giải cho nhiều người, nếu không phải là tất cả mọi người, bởi những lời kêu gọi tưởng niệm, dân tộc chủ nghĩa đã được phát đi bởi những vị tổng thống, những người lính, và những cựu chiến binh quanh bức tường đen. Những lời kêu gọi dân tộc chủ nghĩa này cho phép những người khách viếng thăm được tiếc thương với và cho người chết, và để nhận chìm biểu hiện có tiềm năng gây rối của cái ý thức kép vào trong ý thức đơn độc của căn cước quốc gia, của người Hoa kì, người yêu nước, công dân tốt.

Qua thiết kế và hiệu ứng của nó, bức tường đen phơi mở tính xuyên thấu giữa hai kiểu mẫu đạo đức về việc nhớ cái của riêng mình và nhớ người khác. Trong cái phiên bản thô thiển nhất của đạo đức về việc nhớ cái của riêng mình, chúng ta vẽ một đường minh bạch giữa ta và họ, người tốt và người xấu, cái đây và cái kia, người sống và người chết (bởi chúng ta sẽ đập nát những kẻ thù nếu họ không phải là đã chết rồi). Một nền đạo đức như thế làm động cơ cho nhân dân tham gia những cuộc chiến tranh chống quân thù và rút ra từ những mối quan hệ “đậm đặc” kia về gia đình, bằng hữu, và đồng bào, được mô tả bởi triết gia Avishai Margalit. Những mối quan hệ đậm đặc dường như là mang tính tự nhiên đối với Margalit, nhưng trong thực tại những gắn bó này phải được thực hiện bởi chúng ta với những người về nguồn cội là khác lạ với chúng ta. Chúng ta kiên định những gắn bó này qua thời gian bằng những câu chuyện mà chúng ta kể cho chính mình về tình yêu của chúng ta với gia đình, bằng hữu, và đồng bào của chúng ta. Ý niệm về gia đình phủ tối đi quy trình đậm đặc này bởi vì nhiều người nghĩ về những gắn bó gia đình như là tự nhiên, mặc dù nhiều minh chứng về sự tha hoá bên trong gia đình tồn tại, từ hạ sát, lạm dụng, bạo hành và ấu dâm tới ác cảm, ganh đua, và thù hận. Câu chuyện trong kinh thánh về Cain và Abel bảo cho chúng ta biết rằng giết những người gần gũi với chúng ta cũng tự nhiên như thể yêu thương họ, trong khi câu chuyện phân tâm học của Freud kể cho chúng ta rằng sự cách biệt giữa tự thân và tha nhân khởi đầu bên trong tự thân ngay liền sau khi sinh ra, ở giai đoạn gương soi mà bức tường phản chiếu của Maya Lin có dính líu. Nhưng mặc kệ sự tha hoá khỏi người khác và khỏi tự thân chúng ta, những người may mắn trong số chúng ta khám phá ra rằng gia đình chúng ta yêu thương chúng ta, và chúng ta học được cách thương yêu họ để đáp trả. Dần dần chúng ta mở rộng cái vòng gồm những người gần và thân tới những người lạ kia để họ trở thành những bằng hữu và láng giềng của chúng ta, rồi đến những đồng bào của chúng ta, cho tới khi một số người trong chúng ta học được bài học tối hậu, như Bảo Ninh viết về Kiên: “những con người tuyệt vời, những con người xứng đáng hơn ai hết quyền được sống trên cõi dương này nhưng đã lẳng lặng chấp nhận quy luật đơn giản của chiến tranh: mình chết thì bạn mình sống.13 Nhưng dưới sự thúc đẩy của lòng ái quốc và tình dân tộc, chúng ta quên rằng chúng ta đã học được cách nhớ những người khác này, rằng tình thương yêu của chúng ta được học hỏi hơn là tự phát.

Bức tường đen và những dị nghị quanh nó vừa soi sáng vừa phủ mờ cách nhớ cái của riêng mình và nhớ người khác luôn luôn diễn ra đối đãi với nhau. Đối với người Mĩ bức tường đen kể câu chuyện cách nào một số trong chúng ta bị quăng ra, cách họ sau cùng quay về, và cách chúng ta đón chào họ, cuối cùng phục hồi tình bạn, những ràng buộc gia đình, những tình tự yêu nước, và những mối quan hệ tốt lành giữa công dân và người lính. Tuy nhiên, một số những dị nghị bao quanh bức tường đen khởi lên bởi vì một số khách thăm viếng cảm thấy rằng bức tường đen bao gộp hay phản ánh chưa đầy đủ. Đây là nghịch lí của nền đạo đức về việc nhớ cái của riêng mình, rằng để thành công, nó phải thuyết phục những người khác xứng đáng rằng họ được nhìn nhận hay nên muốn được nhìn nhận. Đây cũng là vấn đề của tấm gương và cảnh quan của kí ức: tấm gương có phản ánh chúng ta hay không, hay hình ảnh về chúng ta mà chúng ta hẳn muốn nhìn thấy? Tấm gương có làm chúng ta cảm thấy toàn vẹn hay nó làm chúng ta cảm thấy giống như một kẻ khác? Một số cựu chiến binh và những người ủng hộ họ không nhìn thấy tự thân họ được phản ánh trong kí ức của bức tường đen; cảm thấy tự thân họ bị loại trừ, là thế khác, họ đòi hỏi sự tái hiện tốt hơn. Như vậy khách viếng thăm tới đài Tưởng niệm cựu Chiến binh Việt nam không chỉ hội ngộ với bức tường đen mà còn với cả hai pho điêu khắc kế cận, một pho thể hiện những người lính da đen, da trắng và Latino, mệt mỏi và trầm tư khi họ đăm đăm ngó vào bức tường; pho tượng kia gồm ba cô y tá đang chăm sóc một thương binh. Những người lính và những cô y tá được điêu khắc này mang tính anh hùng, nhân bản, và được thể hiện, được uỷ nhiệm bởi những giới chức của đài tưởng niệm để đáp ứng mối quan tâm rằng bức tường, không có những thân thể và những gương mặt, không thể đại diện cũng không nhìn nhận được những cựu chiến binh. Vậy là, những pho điêu khắc này cũng tồn tại để nhớ đến những gì riêng của quốc gia này.

Để làm như thế, những pho điêu khắc này yêu cầu quốc gia nhớ lại một số những kẻ khác thuộc lịch sử của nó—những thiểu số và những phụ nữ. Chỉ một hay hai thập niên trước việc sáng tạo bức tường đen, những đài tưởng niệm, phim ảnh, hay những câu chuyện về những người lính Mĩ hẳn đã không thể hiện những thiểu số hay những phụ nữ như là những người bình đẳng với các đàn ông da trắng, trong cái cơ may khó xảy ra là họ có bao giờ được gộp vào hay không. Ắt hẳn là không tự nhiên để bao gộp những kẻ khác này vào một thế giới nơi các nhân vật như là tài tử điện ảnh John Wayne hay tổng thống đầu tiên George Washington thể hiện người lính Hoa kì. Trong một xã hội hướng về quanh những người đàn ông da trắng nắm quyền lực, những người đàn bà những người thiểu số là những thứ Margalit gọi là “những kẻ lạ”14 (strangers) và triết gia Paul Ricoeur gọi là “những kẻ khác xa xăm”15 (distant others). Thế nhưng, ba mươi năm sau việc sáng tạo bức tường đen, điều mà những pho tượng phô bày ấy là một quân lực Hoa kì không có những thiểu số là không thể nghĩ tới được. Bản tự sự này về một nước Hoa kì được khiến nên hùng mạnh qua sự đa dạng của nó được thể hiện trong vị tổng thống da đen đầu tiên của Hoa kì, là Barack Obama, người nói lên điều này về cuộc chiến:

Chiến tranh Việt nam là một câu chuyện về những thành viên phục vụ thuộc những nền tảng, màu sắc, và tín ngưỡng khác nhau họ đến kết hợp để hoàn tất một nghĩa vụ dũng cảm. Đó là một câu chuyện về những người Mĩ đến từ mội góc cạnh của Đất nước chúng ta rời xa sự ấm cũng của gia đình để phục vụ xứ sở mà họ yêu dấu. Đó là câu chuyện về những người yêu nước đã đối đầu với tuyến lửa, đã quăng mình vào lối hiểm nguy để cứu một người bạn, đã chiến đấu hết giờ này qua giờ khác, hết ngày này qua ngày khác để bảo toàn những tự do thiết thân với chúng ta.16

Việc khuôn đúc lại cuộc chiến này như là một anh hùng và bái phục như vậy là được đan bện với chủ nghĩa lạc quan về việc hoà giải những dị biệt trong lòng xã hội Hoa kì và quân lực của nó. Sau ba mươi năm nữa, không thể nào nghĩ về một quân lực Hoa kì mà không có những người đàn bà, hay những người đồng tính nam và đồng tính nữ, dù cho, đối với Margalit những quần thể dân chúng nào ngày nay vẫn là những kẻ lạ và những kẻ khác xa xăm đối với nhiều người “trong chúng ta.” Đối với ông, đạo đức (yêu thích) phủ lên những mối quân hệ đậm đặc giữa người gần và người thân, trong khi luân lí (morality) cai quản những mối quan hệ “mỏng dẹt” “giữa chúng ta” và những người lạ và những người khác xa xăm với chúng ta.17 Nếu thực sự Margalit chấp nhận sự phân biệt này giữa đậm đặc và mỏng dẹt như là tự nhiên, thí dụ của đài tưởng niệm phô ra cho chúng ta rằng sự phân biệt này chẳng phải là không thể tránh được, mà là được thủ đắc qua học tập. Như người ta có thể học cả về thương yêu và thù ghét, chúng ta mở rộng vòng những người gần và thân để bao gồm những người khác, và những mối quan hệ trước đây là mỏng dẹt trở nên sâu dày và đậm đà hơn.

Thay vì nghĩ về mối quan hệ “của chúng ta” với người khác như là một mối quan hệ mỏng dẹt tồn tại trong một cõi luân lí (a moral realm), chịu ảnh hưởng của những giáo luật, tôi nghĩ về mối quan hệ này như tồn tại trong một cõi đạo đức (an ethical realm) nơi người ta có thể phấn đấu để nhớ đến những người khác qua những hành vi thế tục về sự bao gồm, trò chuyện, nhìn nhận, và hi vọng. Sự xa xôi của những người lạ và những người khác xa này không chỉ là một hàm số của địa lí, như Margalit ngụ ý. Đôi khi chúng ta ghét bỏ những người láng giềng của chúng ta và cảm thấy đồng thanh đồng khí hơn với những người xa xăm kia, như là trường hợp với một số thái độ của người Mĩ đối với Mexico và, chẳng hạn, đối với nước Anh. Những người cảm thấy sự đồng thanh đồng khí như thế tin rằng nó là tự nhiên, mặc dù thực ra nó được học tập. Sự tự nhiên khởi lên từ việc chúng ta đã quên đi là chúng ta đã tới với sự thanh khí này như thế nào bằng vào đó một số người Hoa kì nghĩ rằng họ san sẻ về mặc văn hoá nhiều hơn với người Anh hơn là người Mexico. Tương phản với sự thân thiết về mặt tâm thức này, sự kề cận về mặt vật lí không phải là một đảm bảo cho việc tạo ra những tình tự về sự gần gũi và thân thiết. Người Hoa kì không nô lệ hoá những người sống xa với họ, nhưng thay vì thế, nô lệ hoá những người sống cùng với họ hay sát bên cửa nhà họ, bao gồm những người tình và những con cái không hợp thức của họ. Những người đàn ông từ khước quyền bỏ phiếu cho những người vợ và những người con gái của họ và thu hẹp đời sống của những người này. Ngày nay, lẽ dĩ nhiên, chế độ nô lệ và sự chối bỏ quyền bỏ phiếu về chính trị đối với những quần thể dân chúng rộng lớn dường như không còn tồn tại như những chọn lựa thực tế. Nhưng không có gì mang tính “tự nhiên” với tình trạng hiện hành này về sự hoà giải mong manh, phần mảnh quanh những mối quan hệ về chủng tộc và phái tính. Sự tranh đấu chính trị chua cay đã dẫn người Mĩ tới điểm này. Cuộc tranh đấu này bao gồm một phức số những động thái và những mối quan hệ mật thiết giữa những người chọn cách để học về và sống với người khác, thậm chí còn thương yêu họ nữa. Đòi hỏi luân lí để đối xử với những đồng loại con người của chúng ta như chúng ta mong muốn được đối xử trở nên, qua nỗ lực chính trị, nền đạo đức của việc nhìn họ như thành phần của cộng đồng “tự nhiên,” những người san sẻ cái căn cước quốc gia của chúng ta.

Chúng ta học cách để phát triển những thói quen về nhìn nhận và xem những người lạ như than thích, thường khi bằng sự sáng tạo những địa chỉ của căn cước cộng đồng nơi việc nhìn những kẻ khác, như là của chính chúng ta, được khẳng định. Điều khiến cho nền đạo đức về việc hồi tưởng kẻ khác mang tính chính trị một cách minh nhiên đó là nó đi ngược với mạch của cái tự nhiên và bằng việc làm như thế trở nên hiển hiện. Tương phản lại, nền đạo đức của việc nhớ cái của riêng mình là mặc nhiên mang tính chính trị, bởi nó có được sự xa hoa của việc xuất hiện như là tự nhiên và do đó không hiển hiện như vô hình vô anh, như Ricoeur nói một cách khá mỉa mai, “luôn luôn là kẻ khác mới hạ mình xuống hệ tư tưởng,” vốn là “kẻ canh giữ về căn cước.”18 Ông đang hàm ý rằng những kẻ có quyền lực để định nghĩa tự thân trong quan hệ với người khác có cái đặc quyền tin tưởng rằng tự thân họ chẳng có cả những căn cước hay những hệ tư tưởng, chẳng có những thiên kiến hay chính trị. Những vấn đề thế tục này là để cho những người khác, những người bị mắc kẹt vào vũng lầy của các sự quan tâm nhỏ nhen của họ hay những lãnh thổ tỉnh lẻ của họ, thân thể của họ chẳng phải là cố hữu sậm tối mà đúng ra bị làm cho sậm tối bởi cái bóng phủ xuống của toà tháp trong đó những người quyền thế trú ngụ. Những người quyền thế này tin rằng tự thân họ là vô tư, không thiên kiến, công bình, khách quan, và phổ quát đại đồng, và không thích được nhắc nhở rằng họ không phải là như thế, hay rằng quyền lực của họ tuỳ thuộc vào sự sáng tạo ra và đặt đích nhắm vào những người khác. Vậy nên khi có ai đó kêu gọi nhân dân của bà hãy nhớ đến người khác, bà xác định tự thân—bà đứng trội bật—bằng sự dấn thân vào một hành vi chính trị. Yêu cầu phía của chính bà nhớ đến những kẻ khác, bà có nguy cơ bị gọi là một kẻ phản bội. Tốt nhất, những người thuộc phe của chính bà có thể gọi bà là một người theo chủ nghĩa thế giới với cái hàm nghĩa liên đới chê bai rằng bà có thể là một công dân thế giới nhưng không phải là công daan của chính đất nước bà.

Chẳng phải tình cờ, sự cáo buộc về phản bội thường được san bằng một cách ác độc nhất lên các phụ nữ, là những người được giả thiết cưu mang bên trong họ cả cái tương lai và quá khứ của quốc gia, được thể nhập trong những con cái và văn hoá của quốc gia này. Chúng ta thử lấy thí dụ tác gia Việt nam là Dương Thu Hương, cựu chiến binh và đã từng là thành viên của Đảng cộng sản. Sự tỉnh mộng của bà với Đảng Cộng sản sau những năm thắng lợi của đảng này đã định hình sự hư cấu của bà, bắt đầu với Thiên đường mù. Trong cuốn tiểu thuyết này bà cứu xét những cuộc cải cách ruộng đất tai tiếng của thập niên 1950, khi đảng tìm cách phân chia lại đất đai lấy từ các địa chủ cho những nootng dân và khuyến hích đám này tố giác các địa chủ. Những sự quá độ dẫn tới việc hành quyết ngay cả những địa chủ nhỏ nhoi và những nông dân vô tội, bị nhắm đích bởi những người cùng là nông dân và các cán bộ hồ hởi. Nhiều ngàn người chết và Hồ Chí Minh xin lỗi. 20 Sự tố giác của Dương Thu Hương về đảng càng trở nên riết ráo hơn và đương đại hơn trong Tiểu thuyết Vô đề, nơi bà gọi những cán bộ đảng của những năm hậu chiến là “những bạo chúa da vàng bé bỏng.”21 “Sự mù loà của họ cho họ năng lượng phi thường,”22 nhưng “những bầy cừu chiến đấu, mơ màng” đi theo họ có phần đáng trách.23 Cuốn tiểu thuyết cũng đáng ghi nhận về sự thêu gợi lên cái lịch sử đế quốc chủ nghĩa của Việt nam, trường chinh nam tiến để thoát khỏi Trung quốc và để chiếm đóng vùng đất của nhiều bộ lạc và quốc gia, bao gồm cả người Campuchia và người Chăm. Nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết đến thăm miền đất của người Chăm và mơ về vị tổ tiên của anh đã từng chạy trốn khỏi “bọn rợ phương bắc” là những người “săn đuổi ông.” Ông mang vũ khí chống lại những người sống ở phương nam. Đó là một vòng bất bận về tội ác… lịch sử ngập sâu trong tội ác. Đảng tố giác bà, kiểm duyệt bà, và đặt bà vào vòng quản thúc tại gia vì phạm vào tội ác là nhớ đến những người mà đảng coi là kẻ khác. Còn tệ hơn nữa, bà nhớ lại những người thuộc chính phía của bà đã phạm vào những tội ác nhưng trong khi đảng coi bà là một kẻ phản bội những nhà xuất bản và người đọc phương Tây coi bà là một người li khai cất lên tiếng nói vì công lí, một tác gia anh hùng không thể bị chứa chấp bởi hệ tư tưởng tỉnh lẻ của chủ nghĩa cộng sản. Bị cấm đoán tại quê hương, những cuốn tiểu thuyết của bà được xuất bản ở bên ngoài, vì phương Tây thích phieen dịch những kẻ thù của kẻ thù của nó.

Trường hợp của Dương Thu Hương nêu lên thí dụ về phẩm chất gây phiền nhiễu, đe doạ, và dường như không tự nhiên của việc nhớ đến người khác bà phô ra cho thấy cách thế người ta có thể bị tố giác bởi chính phía của mình trong khi được những người khác ca ngợi vì cùng hành vi chính xác về hồi tưởng. Cả tố giác lẫn ca tụng đều không ngây thơ vô tội, bởi cả hai đều hiện xuất từ những hệ tư tưởng của phái này hoặc phái kia. Cả hai phía—nếu tình cờ chỉ xuất hiện có hai phía—ưa thích nhìn tự thân họ như là không mang hệ tư tưởng nào cả, còn phía kia thì mắc tội và chơi trò chính trị, như thể chính trị là một từ ngữ bẩn thỉu. Một sự dặm ủi những thứ chính trị bẩn thỉu này xảy ra trong động thái từ việc nhớ người khác tới việc nhớ người khác như là chính mình. “Chúng ta” có thể được nói đến một lần nữa, mà không nhớ lại rằng những người bao gồm trong “chúng ta” đã có một thời điểm giao tranh với nhau. Đây là niềm hi vọng được bày tỏ trong một pho tượng như là pho tượng của ba người lính, với bức chân dung đoàn kết tốt lành của nó, một niềm hi vọng đã được loé lên do Martin Luther King Jr., trong yêu cầu của ông rằng người Mĩ nhìn nhận sự đàn kết tàn bạo của những người đàn ông này, dàn hàng chống lại những người đàn ông khác kia vốn là vô hình ở địa chỉ của Đài Tưởng niệm Cựu Chiến binh Việt nam. Nhà nghiên cứu Paul Fussell cũng muốn lay động những đồng bào người Mĩ của ông khỏi sự thoải mái của việc chỉ nhứ riêng những cái của họ. Như ông viết về Đại chiến và kí ức hiện đại, một cuộc chiến tranh sáu mươi năm trong quá khứ củ ông, những gì ông nhìn thấy đó là rằng

những độc giả người Mĩ của tôi cũng trải nghiệm ở Việt nam cuộc chiến tranh hao mòn khủng khiếp của chính họ và dường như không có mục tiêu, nó khiến việc đếm xác trở thành một câu nói nhà nhà đều biết…. Tôi đã hi vọng hiệu ứng của cuốn sách trên những người đọc như thế có thể thuyết phục được họ rằng ngay cả Địch quân cũng cs cảm xúc, rằng ngay cả những người ấy cũng thù ghét những người chết, và giống như chúng ta kêu gọi cứu trợ hay Thượng đế, hay Mẹ khi cơn hấp hối của họ trở nên khoongkham nổi.25

Chẳng phải tôi là một trong những kẻ khác này mà Fussell ban cho cái tên riêng là kẻ Gớm guốc (Gooks) và tuy thế không gọi tên một cách đúng đắn? nếu vậy, tôi có thể nói là nó đúng: những kẻ Gớm guốc quả cũng có cảm xúc.

Như là một kẻ Ngốc, trong con mắt một số người, tôi có thể làm chứng rằng được nhớ như kẻ khác là một trải nghiệm phân thân (a disremembering experience), điều chúng ta có thể gọi là một sự xoá kí ức (a disremembering). Xoá kí ức không chỉ đơn giản từ sự thất bại về việc nhớ. Xoá kí ức là phong cách phi đạo đức và nghịch lí của việc lãng quên đồng thời với việc nhớ lại, hay, từ viễn kiến của kẻ khác bị xoá kí ức, bị đồng thời được nhìn và không được nhìn thấy. Xoá kí ức cho phép ai đó nhìn thấu suốt qua kẻ khác, một sự trải nghiệm được Ralph Ellison khiến cho rất đáng nhớ trong những trang mở đầu của cuốn Người vô hình/ Invisible Man. Người kể chuyện của ông, nhân vật chính trong tựa đề của tác phẩm, đụng vào một người đàn ông da trắng là kẻ từ khước iệc nhìn thấy anh ta, và nổi điên, quật ngược lại để buộc người da trắng kia nhìn thấy anh ta. Tuy nhiên, dù bị đánh đập, người đàn ông da trắng vẫn từ khước nhìn thấy anh ta trong cung cách anh ta muốn được nhìn thấy. Đó là vì việc sử dụng sức mạnh của thân thể của người khác có thể khiến cho người khác đó hiển hiện, nhưng chỉ để chuyển anh ta thành một cái đích. Nếu người khác muốn chuyển hoá những cung cách về việc nhìn, vậy người khác phải thi triển những sức mạnh của tâm thức về việc nhớ, việc tưởng tượng và luôn cả việc kể chuyện. Không thoả mãn với việc bị xoá kí ức, chúng ta là những kẻ khác tìm ra được rằng việc của chúng ta là phải nhớ tự thân mình. Đã mang tự thân chúng ta qua, hoặc được mang qua, từ phía bên kia—chúng ta lũ Ngốc, chúng ta lũ mọi, chúng ta lũ tà, chúng ta lũ đần, chúng ta lũ sọ dừa, chúng ta lũ mắt xếch, chúng ta lũ da vàng, chúng ta lũ sạm nâu, chúng ta lũ Nhật, chúng ta lũ Tàu, chúng ta lũ đầu quấn, chúng ta lũ mọi đen sa mạc, chúng ta lũ Á đông, chúng ta lũ không thể phân biệt được bởi vì tất cả đều nhìn giống nhau—biết rằng điều kiện của sự hiện hữu của chúng ta và sự tự tái hiện của chúng ta là rằng chúng ta vừa là tự thân vừa là kẻ khác. Chúng ta chẳng bao giờ không có căn cước và chẳng bao giờ không có hệ tư tưởng, dù cho chúng ta có ưa thích điều đó hay là không, dù cho chúng ta có thừa nhận điều đó hay là không. Những người kia tin rằng tự thân họ vượt ngoài căn cước và hệ tư tưởng sẽ, sớm hay muộn gì, cũng cáo buộc chúng ta với căn cước và hệ tư tưởng nếu chúng ta dám phạm vào cái hành vi phi tự nhiên bậc nhất là cất tiếng và nói lớn.

Như vậy, dù cho không ai gọi tôi, thẳng vào mặt, là Ngốc, hoặc các tiếng tương đương, tôi biết rằng tính từ đó tồn tại để nhắm vào tôi. Không ai đã gọi tôi bằng cái tên đó, bởi vì văn hoá Mĩ đã đi qua cái thuyết ngôn về lũ Ngốc, bản thân tôi như là kẻ khác bị đánh động bởi những sự miệt thị quăng ra từ những làn sóng của văn hoá đại chúng. Việc tôi ý thức về sự chủng tộc hoá của mình, sự nhức buốt

 đầu tiên của một điều kiện về thần kinh không thể trị liệu bằng bất cứ kiểu thuốc men hay giải phẫu nào, ngoại trừ bằng loại của trí nhớ, đến sớm trong buổi thiếu thời của tôi, qua những lần gặp gỡ buốt óc với những hư cấu, với những kí ức của người khác. Vào lúc tuổi còn quá non trẻ, bản thân chưa đến tuổi mười ba của tôi đọc cuốn Chung đụng (1977) của Larry Heinemann và xem phim Tận thế bây giờ (1979). Tôi chẳng bao giờ quên được cái cảnh trong Chung đụng khi lính Mĩ cưỡng hiếp tập thể một cô gái điếm Việt nam miệng móm, dí khẩu súng vào đầu cô và cho cô chọn lựa hoặc là thổi bóng cho tất cả bọn chúng hoặc là bị bắn tan sọ. “Sau đó,  Mặt mìn Claymore (Định hướng) không xuất hiện cho lắm, và chẳng ai quan tâm gì nhiều.”26 Tôi cũng chẳng bao giờ quên được cái giây lát trong Tận thế bây giờ khi những thuỷ thủ người Mĩ tàn sát một chiếc tam bảng đầy những người dân thường, và phát súng ân huệ do Đại uý Willard ban ra khi ông hành quyết kẻ sống sót duy nhất—cũng là một người đàn bà, bởi vì người đàn bà Việt nam là thứ Ngốc tối hậu, khác hẳn người Mĩ qua chủng tộc, văn hoá, ngôn ngữ, và phái tính. Bà là đối tượng trọn vẹn vừa của ham muốn cướp bóc và nỗi sợ sát nhân, sự nhập thể của trọn vẹn xứ sở Việt nam bí ẩn, quyến rũ, cấm đoán, và nguy hiểm. Những tường trình này về cưỡng hiếp và giết chóc là những câu chuyện duy nhất do một tác gia và nghệ sĩ chủ ý phơi bày, không thoả hiệp, nỗi kinh hoàng của chiến tranh, nhưng những câu chuyện giả tưởng là một tập hợp khác về những trải nghiệm cũng có giá trị như những câu chuyện lịch sử. Những câu chuyện có thể xoá đi nhiều ngang bằng như các vũ khí, như triết gia Jean Baudrillard phơi bày trong nhận định của ông về Tận thế bây giờ. Xem phim này Baudrillard nghĩ rằng

chiến tranh ở Việt nam “trong tự thân nó” có lẽ thực sự chẳng bao giờ xảy ra, nó là một giấc mơ, một giấc mơ cuồng dị của bom xăng đặc và xứ nhiệt đới, một giấc mơ hướng tâm thần với mục tiêu chẳng phải là một chiến thắng cũng chẳng phải là một chính sách đưa ra thử thách, mà đúng hơn sự bài liệt quá độ, mang tính hiến tế của một cường quốc tự quay phim khi nó mở phơi, có lẽ chẳng chờ đợi gì ngoài sự tôn phong bằng một siêu điện ảnh, làm tròn hiệu ứng cảnh tượng đại khối của cuộc chiến tranh này.27

Baudrillard không phải sai lầm về mặt thẩm mĩ về quyền lực của câu chuyện và cảnh tượng. Ông chỉ sai lầm về mặt luân lí và đạo đức. Cuộc chiến quả thực đã xảy ra, và gợi ý cách khác như ông làm chỉ khẳng định quyền lực thật hãi hùng của văn hoá đại chúng phương Tây, những cảnh tượng của nó thậm chí không thừa nhận những thân thể thực sự của người chết, chỉ những diễn viên phụ trợ chết trên màn ảnh.

Quan niệm của Toni Morrison về những “tái hồi ức” (“rememories”) từ cuốn tiểu thuyết Người yêu dấu của bà, là hữu ích ở đây không chỉ trong việc làm sáng tỏ quyền lực của các câu chuyện vừa trong việc phân thân người sống và đưa người chết hồi sinh trở lại, mà còn gợi ý rằng một điều gì đó cần thiết để làm về những tái hồi ức như thế. Một tái hồi ức là một kí ức giáng xuống những đòn về vật lí và tâm thức; nó là một cảm thức rằng quá khứ chưa tiêu biến đi nhưng chắc nịch như một ngôi nhà, hiện diện trong toàn bộ chấn thương và ác nguyện của nó. Những loại quyền uy nhất về câu chuyện, như là Chung đụng Tận thế bây giờ, là những tái hồi ức. Hễ lần nào tôi nghĩ về chúng, tôi lại trải nghiệm những cảm xúc của tôi như người đọc và khán giả trọn vẹn lại một lần nữa, những cảm xúc cường độ, về gướm guốc, kinh hoàng, xấu hổ, và phẫn nộ mang lại qua việc đã chứng kiến điều mà nhà nữ nghiên cứ Sylvia Chong gọi là “cái tục tĩu phương Đông.”28 Thân thể tôi run lên, giọng tôi rúng động, một minh chúng về cảm xúc cho quyền lực thẩm mĩ của những tác phẩm này cũng như sự tham dự của chúng vào thuyết ngôn về lũ Ngốc, mà chính tự thân bà là một tái hồi ức. Không phải rằng tôi bị quên đi trong những câu chuyện này hay tôi không nhìn thấy phản ánh của mình; không, tôi nhìn ra tự thân, nhưng như là kẻ khác, kẻ Ngốc, và điều ấy, tôi biết, là cung cách kẻ khác có thể đang nhìn tôi, không chỉ những quan chúng tấm tắc trong các rạp hát mà thậm chí cả những nhà tư tưởng như là Baudrillard, đối với họ những người chết là một sự trừu tượng để gạt đi dành ưu tiên cho chủ đề lí thú hơn, là quyền lực của cỗ máy chiến tranh và những đội làm phim của nó.

Bị quên hẳn đi hay bị mất kí ức—đây là những chọn lựa dành cho những người thuộc Đông nam Á của Đông dương trước kia trong thuyết ngôn về lũ Ngốc, cũng như bất cứ những người châu Á nào khác đủ bất hạnh để bị lầm là một tạo vật như thế. Ngay cả sự đắc thắng mĩ học của Maya Lin, tự thân là một tái hồi ức, cất tiếng nói trong thuyết ngôn này, bất kể, hay có lẽ bởi vì, bản thân Maya Lin có thể được nhìn trong kiểu thức chủng tộc chủ nghĩa này. Khi người ta ở trong một xứ sở hiềm khích hay hờ hững, cung cách an toàn nhất để sống sót là giữ im lặng và vô hình hay, theo lời của Lin, nhìn sự vật từ độ xa như một quan sát viên ngôi thứ ba, tránh xa làn đạn của hai phía. Nếu thân thể của chị là vô hình trong đài tưởng niệm, mỗi thân thể giống nó cũng đều như thế, những thân thể thuộc về những người dân Đông nam Á kia mà tên của họ chẳng tìm thấy đâu trong đài tưởng niệm. Marita Sturken phát biểu minh bạch về trường hợp này:

người Việt nam trở thành không thể nhắc nhở tới; họ vắng mặt một cách lồ lộ trong những vai trò của họ như là những người cộng tác, những nạn nhân, những kẻ thù, hay đơn giản những người dân mà trên xứ sở của họ và trên họ cuộc chiến tranh này (được giả thiết) chiến đấu cho…. Bên trong khung cảnh dân tộc chủ nghĩa của khu Washington Mall, đài tưởng niệm cựu chiến binh Việt nam nhất thiết phải “quên đi” người Việt nam và dàn dựng cựu chiến binh Việt nam như là những nạn nhân bậc nhất của cuộc chiến.29

Đài tưởng niệm cho thấy rằng “sự nhớ cũng là một hình thức của sự lãng quên,”30 một thủ thuật khéo léo về trí nhớ mà nhiều học giả về kí ức đã quan sát, một diệu thủ, trong trường hợp này lấy năm mươi tám ngàn lính Mĩ thay thế cho ba triệu người Việt nam. Như nhiếp ảnh gia Philip Jones Griffiths nhận xét, “Mọi người phải nên biết một số thống kế đơn giản: Đài tưởng niệm ở thủ đô Washington D. C., cho chiến binh Hoa kì tử trận dài 150 thước Anh [tương đương 135 mét]; nếu một tượng đài tương tự được xây với cùng mật độ vì những tên của người Việt nam chết trong cuộc chiến ấy, nó hẳn phải dài chín dặm Anh [khoảng 14,5 km].31 Thực tại về trí nhớ này cho nhiều người Mĩ, nơi họ và những người lính của họ là những nạn nhân, chứ không phải cho ba triệu người Việt nam, ít nhất cũng mang tính chất George Orwell.

Nhưng không phải chỉ có người Việt nam mới là vô hình, bị quên lãng, có thể bị quên, và không được nhìn nhận. Cái tên Chiến tranh Việt nam xoá đi những người dân Đông nam Á khác, thậm chí khỏi cả kí ức và cảnh tượng của Sturken (vì nếu không nhìn thấy người, ta không thể nhớ họ, và đảo lại). Những người dân Đông nam Á từ Campuchia và Lào đã không quên những người đang sống và đã chết của họ, như nhà thơ nữ Mai Neng Moua phô bày trong bài thơ “D.C.”:

Tôi đã trụ

Nay tôi ở đây vẫn không đủ

Tôi muốn những dấu in tên của họ

Một chứng cứ Hoa kì rằng họ được biết

Sự can trường của họ được nhìn nhận

Những sự hi sinh mạng sống của họ được biết ơn.

Moua đòi hỏi sự nhìn nhận và tri ân cho người lính Hmong như một cựu chiến binh Việt nam, hệt như những người lính miền Nam Việt nam ở Hoa kì đã đòi hỏi.32

Tôi biết sáu người chết ở đó

Người ông Soob Tseej Vws

Chú Txooj Kuam Vws

Chú Kim Vws

Chú Looj Muas

Những cái tên khác lạ này phải được cất lên, phải được viết xuống, phải được cưỡng ép vào cảnh quan của Hoa kì, bởi sự nhìn nhận và tri ân chỉ xảy ra nếu ta được nhớ. Trong sự vắng mặt về nhìn nhận và tri ân như thế, những người bị lãng quên và bị mất kí ức phải nhớ tự thân họ, dù nếu, như Moua cũng đành nhận, những hình thức tưởng niệm không bảo đảm chút gì. Du khách tụ tập

Quanh đài tưởng niệm như thể

Một món triển lãm hương xa

Nói oang oang, cười vang, nốc hết

Chai nước suối Evian trong nực nồng

Quấy phá những kí ức của hỗn mang

Chỉ là một điều nữa để làm khi bạn ở thủ đô D.C.33

Không tác phẩm mĩ học nào có quyền uy nội tại. Người nước ngoài, thanh niên, hay những người không quan tâm chẳng mang những kí ức này về cuộc chiến có thể chẳng bị tác động, gạt bỏ, quá ngấy, chán chường, hay uể oải. Đối với họ, và có lẽ với đa số những khash viếng tương lai, khi kí ức sống về cuộc chiến chết đi rồi, bức tường sẽ đơn giản chỉ là một bức tường.

Tuy thế, tốt hơn nên có một đài tưởng niệm có thể bị làm ngơ hơn là chẳng hề có đài tưởng niệm nào. Mặc nhiên trong bài thơ của Moua là một sự xác tín chung trong số những người bị lãng quên và bị mất kí ức, đó là rằng bị lãng quên, hay quên kẻ khác, là bất công, đặc thù nếu chúng ta đang nói về một cuộc tranh chấp trong đó quyền lợi của một phía là trấn áp những kí ức về người khác. Đối với những người bị lãng quên và bị mất kí ức, câu hỏi quan trọng là đây: làm sao chúng ta có thể hồi tưởng quá khứ trong một cung cách giữ công lí với những người bị lãng quên, những người bị loại trừ, những người bị đàn áp, những người chết, những hồn ma? Câu hỏi này là trung tâm cho một nền đạo đức về sự hồi tưởng những người khác. Nó đảm đương cả sự bất công của việc quên người khác và công lí của việc nhớ người khác. Ricoeur đề nghị những nét đại cương của một nền đạo đức như thế về việc nhớ người khác trong tác phẩm nguy nga của ông Kí ức, Lịch sử, Lãng quên/ Memory, History, Forgetting, trong đó ông biện luận rằng công lí là một đức hạnh luôn luôn “Xoay hướng về người khác…. Bổn phận của kí ức là bổn phận làm công lí, qua những hồi tưởng, về một người khác với tự thân.” Và: “ưu tiên luân lí thuộc về những nạn nhân…. Nạn nhân được đề xuất ở đây là nạn nhân người khác, khác với tự thân chúng ta.”34 Vắn tắt, công lí luôn trú ngụ cùng với việc nhớ người khác.

Lối tiếp cận của Ricoeur với kí ức là quyền uy và thuyết phục, ít nhất đối với bất cứ ai đầu tư vào sự đề kháng chống lãng quên hay những đòi hỏi về công lí của những người phụ thuộc. Trong một mạch tương tự, nhà phê bình Paul Gilroy kêu gọi cho một sự “mở phơi có nguyên tắc với những yêu thỉnh của người khác.35 Gilroy giống như Ricoeu, và cả bản thân tôi nữa, chủ trương cho ý niệm rằng “những lịch sử về khổ đau không nên phân cấp chuyên biệt cho những nạn nhân của các lịch sử ấy. Nếu làm như thế, kí ức về chấn thương ắt là biến mất khi kí ức sống về chấn thương đó nhạt nhoà đi.36 Tức là không nên đơn thuần là gánh nặng của những nạn nhân để nhớ những bất công đã được làm đối với họ. Đặt trọng lượng của kí ức riêng lẻ trên những phía bị thương tổn này ắt hẳn khuyến khích họ nhìn tự thân chỉ trong những hạn từ của sự bị nạn nhân hoá. Bị đối xử như là những đối tượng của xót thương, điều cám dỗ đối với các nhân là lầm tưởng rằng tính tha nhân của họ như căn cước duy nhất của họ—đó là loại chính trị căn cước lồ lộ nhất và bị xem khinh nhất, mặc dù đó không phải là loại duy nhất. Một nền đạo đức về sự hồi tưởng người khác được định nghĩa, nghịch lí thay, bằng sự thừa nhận rằng những ai chúng ta xem là người khác vừa chẳng phải là khác vừa chẳng mang tính ý niệm. Thay vì thế, cùng trong chừng mực chúng ta tự coi bản thân mình là những chủ thể, thì những người khác kia, từ quan điểm của chính họ, cũng là những chủ  thể như vậy luôn.

Như một chủ thể, người khác sẽ đề kháng với việc bị lãng quên và sẽ đòi hỏi được bao gộp trong những biên niên của kí ức. Giống như những kẻ kiểm soát những phương diện đã được thiết lập về kí ức và họ đồng tình để chỉ nhớ những cái của riêng họ, người khác này chẳng hạn sẽ luôn luôn nhớchẳng bao giờ quên những trải nghiệm của chị, những lịch sử của chị, và những kí ức của chị. Chị sẽ đòi hỏi có tên của chị trên bức tường, gương mặt của chị trên pho điêu khắc và câu chuyện của nhân dân chị trong sách. Bởi một điều gì đó luôn luôn bị lãng quên và những người lạ luôn luôn xuất hiện, phương thức về việc nhớ những người khác là một cỗ máy chuyển động trường cửu hướng về sự bao gọp và hoà giải. Mục tiêu tối hậu của hình thức chung chạ nhất của nền đạo đức này là để người khác được hội nhập vào quyên công dân, được tưởng niệm trong những nghi lễ của quốc gia, được đóng vai trong những sử thi của quốc gia, và được hoà nhập trong phương thức đạo đức của việc nhớ cái của chính mình, cho đến khi không còn dị biệt đầy ý nghĩa nào giữa người khác và tự thân. Mục tiêu hạng nhì của nền đạo đức này, đặc biệt với những ai trước đây bị đóng vai như là kẻ khác, là đồng cảm với những kẻ khác hằng luôn mới  trên chân trời.

Nếu nền đạo đức về việc nhớ cái của riêng mình vận hành trong mọi xã hội, thì nền đạo đức của việc nhớ người khác là tinh hoa của việc nhớ cái của riêng mình, chỉ hoạt động trong những xã hội tự thân thấy rằng bao gộp hơn, rộng mở hơn, và bao dung hơn. Nhưng một kiểu mẫu đạo đức như thế dù có thể quyền uy tới đâu, nó vẫn có thể phục vụ chiến tranh. Cái thiện chí này để nhớ người khác và để cho người khác nhớ chính họ biện minh cho những chiến dịch của những xã hội rộng mở và bao dung đối lại những thứ không được tinh hoa như thế về mặt đạo đức. Hoa kì là sự thể nhập của một nền đạo đức như thế về việc nhớ đến người khác, thường quen vừa kêu gọi sự bao gộp lớn hơn của các thiểu số bên trong những biên giới Hoa kì và biện minh chiến tranh chống lại những người lạ bên ngoài xứ sở. Những người dân Đông nam Á trước đây từng là những người lạ này và có thể là lại là như thế, và những người dân Đông nam Á đã đến Hoa kì đôi khi vẫn cảm thấy tự thân là xa lạ trong xã hội Hoa kì. Vậy nên, không đáng ngạc nhiên là nhiều người tị nạn Đông nam Á và con cháu của họ, được đưa sang Hoa kì do một cuộc chiến tranh của Mĩ lại sẵn lòng như thế để gia nhập quân lực Hoa kì và xã hội Hoa kì trong cuộc Chiến tranh Khủng bố của Hoa kì. Như lịch sử của Hoa kì đã cho thấy, nó đã là triển vọng của những người lạ mới hơn, kinh hoàng hơn đã khuyến khích chúng ta đưa những người khác quen thuộc đến gần hơn, đặc biệt qua sự ghi danh họ vào phía chúng ta trong những cuộc chiến tranh chống lại những người lạ này. Chiến đấu chống lại chủ nghĩa khủng bố và sự kinh hoàng, những người trước đây là kẻ khác này hi vọng khẳng định sự tuỳ thuộc của họ vào chính tự thân Hoa kì, trong chính những cặp mắt họ là cặp mắt của những đồng bào người Mĩ của họ.


*

KM-Nhưng tựa sách nên đọc trong đời

Gửi phản hồi