y. Sáng tác

Về sự thành Nhân


Về sự thành Nhân

Viet Thanh Nguyen

Nguyễn Huy Hoàng dịch

Trích Nothing ever dies


 

BA TRIỆU NGƯỜI TRIỀU TIÊN CHẾT trong cuộc chiến tranh Triều tiên. Phần lớn xứ sở này bị tan hoang bởi việc ném bom của Hoa kì và bởi sự tấn công cùng phản công của các đạo quân từ cả phía bắc và cả phía nam, từ Hoa kì và từ Trung quốc, và từ một loạt các nhà nước trong Liên hiệp quốc.1 Trong khi người Campuchia nhớ vụ diệt chủng của họ với câu tụng niệm ba năm, tám tháng, hai mươi ngày—đó là sự diên kì hữu hạn của chế độ Khmer Đỏ—thì người Triều tiên vạch ra rằng cuộc chiến của họ chưa hề bao giờ kết thúc một cách chính thức. Triều tiên bị phân chia thành nước Cộng hoà Triều tiên (miền nam, tự nhận là Đại Hàn dân quốc, danh xưng tiếng Anh là the Republic of Korea) và Triều tiên Dân chủ Chủ nghĩa Nhân dân Cộng hoà quốc (miền bắc, gọi tắt là Bắc Triều tiên, danh xưng tiếng Anh là the Democratic People’s Republic of Korea, đôi song sinh trở mặt không nhìn nhau từ hơn nửa thế kỉ trong một thảm kịch Chiến tranh Lạnh tiếp diễn. Từ viễn kiến của phương Tây tư bản chủ nghĩa, Nam Hàn đương đại là câu chuyện thành công của những gì tư bản chủ nghĩa có thể đạt thành. Vậy nên thật khó để nhớ rằng xứ sở này đã bị tan hoang bởi chiến tranh đến nỗi rằng trong thập niên 1960 nó còn nghèo khó hơn cả miền Nam Việt nam. Khi Hoa kì đề nghị trả tiền cho Nam Hàn để sử dụng quân đội của nó ở miền Nam Việt nam. Quốc gia bị nghèo khó này chấp thuận. Trong khi một số người Hoa kì gọi cuộc Chiến tranh Triều tiên là cuộc Chiến tranh bị Lãng quên (quên đi cuộc Chiến tranh bị Lãng quên khác ở Philippin), từ quan điểm của Nam Hàn đúng hơn phải nói rằng cuộc Chiến tranh bị Lãng quên là cuộc chiến mà Nam Hàn giao tranh ở Việt nam. Ở Nam Hàn—mà nhiều người chỉ gọi đơn giản là Triều tiên hay Hàn quốc—cuộc Chiến tranh được Nhớ là cuộc Chiến tranh Triều tiên, vốn đã đảm nhận địa vị của một sự kiện xác định quốc gia và xác định linh hồn. Trong cái bóng rợp của nó, cuộc chiến tranh khác ở Việt nam không mấy được nhớ bởi người Hàn quốc, điều này chỉ cho thấy rằng chứng mất trí nhớ và kí ức tuyển lựa là thứ mọi quốc gia đều mắc phải.

Trước khi tôi học biết về cuộc chiến tranh của Đại Hàn bị lãng quên ở Việt nam, tôi đã biết về Triều tiên qua cuộc Chiến tranh Triều tiên được nhớ. Khi là một thiếu niên, tôi đọc cuốn Vĩ tuyến Cuối cùng/ The Last Parallel của Martin Russ và xem tuyên truyền chiến tranh của Hoa kì, diễn viên Rock Hudson đóng vai chính trong phim Bài ca chiến trận/ Battle Hymn và William Holden trong phim Những cây cầu ở Toko-Ri/ The Bridges at Toko-Ri. Cả hai diễn viên này thủ vai những phi công của Không lực Hoa kì đã góp phần cứu giúp xứ sở này (việc Không lực Hoa kì dội bom đại khối xuống khắp cả Triều tiên được làm ngơ một cách thuận tiện). Khi tôi trở nên mơ hồ nhận thức về việc các sinh viên Hàn quốc xuống đường trong những cuộc náo loạn về chính trị ở Hoa kì trong thập niên 1980, Hàn quốc đơn giản chỉ là một xứ sở ngoại quốc rối rắm khác xuất hiện ngắn ngủi trong các quảng bá về tin tức của Hoa kì. Trong những năm sinh viên, tôi cùng với nhiều người Hoa kì có những cuộc hội ngộ vui thích hơn với Hàn quốc qua ẩm thực của nó. Nhưng sự có mặt trọn vẹn của những người nhập cư Hàn quốc ở Hoa kì tới với công chúng Hoa kì vào năm 1991, với những cuộc bạo loạn, hay nổi dậy, hay nổi loạn. Phố Hàn quốc (Koreatown) là ngôi sao không may mắn, Seoul USA, mái ấm cho dân chúng Hàn quốc đông nhất ở bên ngoài Hàn quốc và toạ lạc ở giữa những khu dân cư phần lớn là da đen hay Latino. Sự bất ổn này được kích động do hai sự cố: các cảnh sát viên ở Los Angeles đánh đập một người đàn ông da đen, sự xung kích này của họ được thu vào màn hình, và một người chủ tiệm Đại Hàn bắn súng làm chết một cô gái da đen xoáy trộm một chai nước ép trái cây. Các bồi thẩm đoàn đã tha bổng cả mấy cảnh sát viên và người chủ tiệm này. Đối với nhiều người Hoa kì gốc châu Phi và người Latino, những sự bất công này là tột điểm của một lịch sử về đàn áp do cảnh sát và sự bóc lột kinh tế bởi những người từ bên ngoài thuộc sắc tộc. Các chủ tiệm Đại Hàn và sắc tộc khác trở thành những con dê tế thần cho những người nghèo và giai cấp lao động, thế là khu Phố Đại Hàn bị thiêu đốt.2

KM-tiki-xách ba lô lên và đi

Vài năm sau, danh tiếng của Đại Hàn và những người Mĩ gốc Đại Hàn bắt đầu thay đỏi. Các thương hiệu Hyundai (Hiện đại), Kia (Khởi Á), LG (Life Is Good/ Đời sống là Tốt lành, tên gốc là Lucky Goldstar/ Hỉ lạc Kim tinh), và Sam sung (Tam tinh tức 3 sao) bung phá các rào luỹ tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Hàng triệu người tiêu thụ sở hữu một mẫu của Hàn quốc trong nhà họ hay trong túi họ, và một số bắt đầu lái những chiếc xe hơi của Hàn quốc. Tư bản của Hàn quốc truyền nhập vào khu phố Đại Hàn và thành phố Los Angeles, và một số những người nhập cư đã rời bỏ một Hàn quốc nghèo khó để tới Hoa kì trong thập niên 1960 đột nhiên thấy rằng họ hàng bà con ở Hàn quốc đã vượt mặt họ. Những người nhập cư này đã hi sinh các văn bằng ở đại học để trở thành chủ tiệm trong các khu biệt cư, tất cả nhân danh các con cái sinh ra làm công dân Hoa kì, hoặc đó là truyện kể trong huyền thoại về sắc tộc thiểu số kiểu mẫu của Hoa kì. Trong huyền thoại này, những người nhập cư châu Á và những con cái sinh ra ở Hoa kì của họ xuất hiện như những học sinh sinh viên và công nhân siêu nhân, và những người Hàn quốc là dân chúng nhập cư gốc châu Á gần đây nhất nguyện ý tự khép vào kỉ luật và hi sinh thân thể cùng tâm trí của họ để mơ Giấc mộng Hoa kì. Khi làm như vậy, họ trở thành kiểu mẫu cho phần còn lại của những sắc tộc và những dân nhập cư “không thành công” của Hoa kì, ít nhất trong những chuyện kể của các phương tiện truyền thông, các chính khách, và các học giả vốn lập luận rằng những kẻ thất bại không đạt thành được Giấc mộng Hoa kì chỉ có thể tự trách mình và nhà nước phúc lợi.

Đối với nhiều nhà bình luận bảo thủ, nhà nước phúc lợi này là anh chị em con chú con bác với những nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhà nước cộng sản. Sắc tộc thiểu số kiểu mẫu một người Hoa kì gốc châu Á là quan trọng trong tự sự phản phúc lợi không phải chỉ vì những gì nó nói về Hoa kì ở nội địa, mà còn vì cách nó chứng minh cho toàn thế giới còn lại giá trị của tập tính Hoa kì về sự thành công tư bản chủ nghĩa bằng nỗ lực tự thân. Chủ nghĩa tư bản theo phong cách Mĩ được bắt chước và cải thiện một cách thành công nhất bởi những xứ sở nhất định ở châu Á, bao gồm Hàn quốc. Trong thế giới quan tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế con cọp châu Á của Hàn quốc được sánh với sự phân tán của người hàn quốc ở Hoa kì như một sắc tộc thiểu số kiểu mẫu. Khu phố Hàn quốc không phải chỉ đơn độc trong cái chức năng của nó như một vòng đai sắc tộc thay mặt cho một xứ sở nghèo khó. Phần lớn các vòng đai sắc tộc trong trí tưởng tượng của người Hoa kì đóng vai trò đó, bao gồm Sài gòn Nhỏ. Điều làm cho khu phố Đại Hàn duy nhất là bị châm đuốc đốt, ít nhất vào cuối thế kỉ hai mươi (những vụ thiêu đốt trước đậy của các vòng đai sắc tộc do bàn tay của những người da trắng phần lớn đã bị lãng quên). Trong đường lối suy tư tư bản chủ nghĩa này, việc cướp phá hiện đại về khu phố Đại Hàn bởi quần chugs đen tối vô ơn có thể được xem như một phiên bản khác của việc thiêu đốt Triều tiên bởi những người cộng sản. Trong cả hai trường hợp, có những tuyến được vạch ra để ngăn ngừa những ngọn lửa bành trướng do Khu bộ cảnh sát Los Angeles ở Hoa kì và do những lực lượng vũ trang của “thế giới tự do” và “thị trường tự do” ở Triều tiên.

Đối lại với những di sản này của cuộc Chiến tranh Lạnh và của những tương quan chủng tộc nóng, Làn sóng Hàn quốc (the Korea Wave) cuồn cuộn khắp châu Á. Hàn lưu (hay dòng chảy Hàn quốc, tên gọi chính thức Hàn lưu) là hiện tượng về phim bộ nhiều tập và âm nhạc đại chúng xâm nhập các xứ sở châu Á và những giới phân tán châu Á. Văn hoá Hàn quốc trở thành thứ thanh lịch mới, tột đỉnh là sự thành công video toàn cầu và sự cuồng nhiệt về vũ điệu vào năm 2013 của Gangnam Style (Phong cách Giang nam). Thanh niên trên khắp châu Á và thanh niên châu Á ở Hoa kì mang thời trang Hàn quốc và để tóc kiểu Hàn quốc. Ngay chính người Hàn quốc cũng khai triển một tiếng tăm, chẳng biết có công bình hay là không, về việc tu sửa bản thân bằng giải phẫu ngoại hình, một lối thực hành lồ lộ nhất do các ngôi sao của Hàn lưu trình diễn. Hàn lưu là sự đắc thắng của quyền lực mềm Hàn quốc, làm được do sự chuyển hoá về kinh tế của Hàn quốc. Sự hưng khởi của Hàn quốc đã tác động lên ngay cả bản thân tôi, vì trong lúc tôi thường bị nhân lầm là người Nhật ở châu Âu, ở một số nơi của châu Á tôi bị nhận lầm là Hàn quốc, trớ trêu nhất là ngay cả ở quê hương tôi. So với những đồng bào của tôi, ít nhất là những người chưa bao giờ về đất nước, tôi quá cao và quá trắng nhợt lại ăn mặc theo phong cách phương Tây, tóc tôi húi cao như Đại Hàn. Ngay cả khi tôi nói tiếng Việt, họ thường bảo “tiếng Việt nam của ông tốt quá!” Họ ngỡ rằng tôi không phải là một người cùng với họ, điều này có lẽ tôi không phải.

Ở Seoul/ Hán thành, không có ai lầm tưởng tôi là người Hàn quốc bao giờ. Ấn tượng của tôi là về một thành phố của thế kỉ thứ hai mươi mốt có phủ một ánh kim loại, đảo nghịch với thủ phủ gây kinh hoàng ở Vành đai Thái bình dương của phim Blade Runner. Nhưng tiện nghi quốc tế là siêu đẳng, ít nhất đối với một ai đã từng khắc khoải qua những trạm cuối ở Sài gòn hay Hà nội xe taxi đưa rước khách thượng hạng có máy điều hoà chở tôi về khách sạn có cửa kính tối, như hầu hết các xe hơi bóng loáng vùn vụt qua. Seoul sạch sẽ, hữu hiệu mãnh liệt trong việc phô bày những bề mặt thanh thoát và mượt mà, dân chúng, trang phục, túi xách và mắt kính thiết kế. Xe cộ lưu thông có trật tự và công dân lịch sự, ít nhất với một người từ bên ngoài không nói tiếng của họ. Người ta không cần lo về nước, hay thực phẩm, hay không khí, và sự đe doạ của phương bắc cũng giống như một sự đe doạ của một trận động đất ở bang California của tôi, ai nấy đều quá nhàm chán. Ngoại trừ đối với quân sĩ ở Khu Phi quân sự, vốn là một cảnh phải xem đối với du khách. Tôi nhớ tiếp cận lần đầu với Triều tiên là qua M*A*S*H (Mobile Army Surgical Hospital/ Bệnh viện Giải phẫu Quân đội Lưu động), loạt phim truyền hình thập niên 1970 về những bác sĩ quân y Hoa kì quái gở trong cuộc Chiến tranh Triều tiên, mà con người tị nạn ít tuổi như tôi đã không nhận ra rằng nó cũng là một ám dụ về chiến tranh của Hoa kì ở Việt nam. Hoa kì muốn cứu cả hai xứ sở này nhưng chỉ tự thuyết phục về sự thành công trong có một trường hợp thôi.

Sáu mươi năm sau tạm ước ngưng chiến, ba mươi năm sau màn trình chiếu truyền hình ấy, Hàn quốc bây giờ thích chen vai sát cánh với Hoa kì về tiền mặt và bạc cắc dù cho nó lệ thuộc vào Hoa kì để được che chở về quân sự. Lịch sử này về Đông Á và Đông nam Á cám dỗ cái nghịch sự kiện, trình ra khả tính âm thầm về những thời gian và những vũ trụ giao thế, về những con đường và những chọn lựa đã không đảm đương, về cái gia đình dị biệt mà tôi có thể đã có và về tự thân dị biệt mà tôi có thể đã là. Biết bao nhiêu lần tôi được nghe những doanh nhân và những du khách người Nhật và người Hàn quốc nói rằng Việt nam làm họ nhớ lại xứ sở của họ ba chục hay bốn chục năm về trước? Họ viếng thăm một xứ sở khác và đi lùi về thời gian để thấy những gì có thể là: phải chi chiến tranh đã không xảy ra, phải chi người cộng sản đã không thắng, phải chi xứ sở này còn phân chia, bất phân thắng bại. Chẳng phải là sự phân chia và sự bất phân thắng bại đã xảy ra với Triều tiên, và tốt đẹp cho chính nó sao? Triều tiên và Việt nam là hai câu chuyện ngụ ngôn tư bản chủ nghĩa, nhưng với bài học luân lí đối nghịch. Việt nam đánh mất bốn mươi năm và tụt hậu bởi những cuộc chiến tranh chống người Pháp và người Mĩ, và để làm gì? Bây giờ một nước Việt nam tái thống nhất, độc lập, và theo chủ nghĩa cộng sản mắc phải sự hụt hẫng phản lực tư bản chủ nghĩa, lạc hậu, nỗ lực để trở thành Trung quốc hay (Nam) Triều tiên hay có lẽ Đài loan, hay Hồng kông, hay Singapore, nơi một chính phủ chuyên chế ít nhất giữ cho xứ sở sạch sẽ và chuẩn xác, không giống như trường hợp ở Việt nam chuyên chế. Dĩ nhiên những ấn tượng của tôi về (Nam) Triều tiên là khiếm khuyết và sơ sài của du khách. Sự xáo trộn, nghèo khó, và phát triển không đồng đều trăn trở phía bên dưới cái bề mặt làm đẹp, nhưng ít nhất có cái bề mặt hiện hữu. Việt nam có phần lớn những vấn đề của Triều tiên nhưng chỉ có được một số đo về sự thành công của nó, và thậm chí để băng qua những đường phố điên khùng, người ta cũng phải thủ chặt mạng sống trong đôi tay mình.

KM-Nhưng tựa sách nên đọc trong đời

Bất cứ ai nhớ đến cuộc chiến tranh bị lãng quên của Hoa kì ở Triều tiên và cuộc chiến tranh bị lãng quên của Hàn quốc ở Việt nam phải cảm thấy khả tính của cái sự kiện đảo nghịch, cái điểm nơi những lịch sử của Triều tiên và Việt nam giao nhau và phân kì. Nếu (Nam) Triều tiên không đi phiêu lưu mạo hiểm ở Việt nam, liệu nó có là xứ sở nó hiện là ngày nay? Nếu (Nam) Triều tiên đã không phải là xứ sở nó hiện là ngày nay, liệu nó có thể viết lại quá khứ của nó như nó đã làm chăng? Nếu (Nam) Triều tiên không phải là một nhà máy toàn cầu, liệu có bất cứ ai quan tâm về những kí ức của nó? Kết luận rút ra sau chót là rằng sự thành công của (Nam) Triều tiên khi tham chiến bạo tàn và phi nhân ở Việt nam giúp nó trở thành một cứ điểm hùng cường tư bản chủ nghĩa và công nghệ có thể thực hiện được nhiều hơn việc biến cải các khuôn mặt. Những nhà giải phẫu của lịch sử đã công tác ở Triều tiên, nhào nặn các kí ức chiến tranh để xoá đi sự bạo tàn và cấy vào đó nhân tính. Từ cuộc chiến tranh được nhớ đến cuộc chiến tranh bị quên và tiếp tục tới hiện tại, (Nam) Triều tiên đã tự tái phát minh lại bản thân họ qua sự khai triển một công nghệ về kí ức được vũ trang hoá. Họ không còn là những đối tượng xấu xí và ưu sầu của xót thương hay những chủ thể của kinh hoàng mà người ta đã một lần nhìn thấy trong những nhật báo của thế giới suốt những năm của bôi xoá. Thay vào đó họ đã trở thành có nhân tính, không giống như những người (Bắc) Triều tiên khác kia. Những người miền bắc không khước bác những câu chuyện kể về họ bởi phương Tây và bởi những người miền nam. Như thế, đối với phần lớn thế giới, họ vẫn còn xa lạ. Trường hợp của hai xứ Triều tiên phơi ra cho thấy quyền lực mềm cắt xén, lôi kéo, và biến cải những kí ức ra sao, cũng thiết yếu cho quyền lực cứng của cỗ máy chiến tranh như những người điều hành nó.

Ở Seoul, Đài tưởng niệm chiến tranh của Triều tiên phô ra cho thấy quyền lực cứng và mềm hoạt động cùng với nhau ra sao để kể một câu chuyện về việc làm người. Cái công trình khổng lồ góc cạnh này là một thí dụ tuyệt hảo về kí ức được vũ trang hoá, giống như một pháo đài bọc thép hay một cuốn phim được dàn dựng từ nước Đức của Hitler. Sự vĩ đại trấn áp của nó tự thân là môt câu chuyện, một công sự về trí nhớ làm biểu tượng cho cái phức hợp quân sự-công nghệ, một sự sáng tạo khả dĩ có được là do thành công về quân sự và đắc thắng về công nghệ. Đài tưởng niệm Chiến tranh ca tụng sự thành công quân sự kia và là chứng từ thầm lặng cho cái đắc thắng công nghệ kia, một con thú khổng lồ mà dấu chân đại khối của nó trên quang cảnh Seoul chứng tỏ quyền lực của Hàn quốc. Xếp quanh những bức vách của nó và trong những sân của nó là khí giới đầy đủ để trang bị cho cả một đạo quân nhỏ: những đầu đạn, những máy bay, những thiết giáp, những đại bác, và những chiến hạm, phần lớn là chế tạo của Hoa kì. Tự thân quân giới này mang nhân chứng thầm lặng cho sự thành công tư bản chủ nghĩa của Hoa kì, Hoa kì là nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới. Một cách đọc phân tâm học về sự kiêu hãnh và lo âu dân tộc chủ nghĩa, nam tính đem trưng bày ắt hẳn mang tính lạm sát bởi nó lồ lộ: những vũ khí của quốc gia thắng trận được chùi bóng và sẵn sàng để du khách ngồi lên hay ngồi vào, những cò súng và nòng súng sẵn sàng cho những bàn tay hồ hởi, trong khi những vũ khí của kẻ thù là cộng sản, ít nhất trong trường hợp của Việt nam và Lào, thường bị để trong những tình trạng bỏ mặt hay huỷ diệt. Với Triều tiên, sự trưng bày về thất bại của bên địch là không cần thiết ngoài những bức tường của công sự này bởi vì bên trong câu chuyện được kể đủ minh bạch rồi.

Đài tưởng niệm Chiến tranh phần lớn dành cho Chiến tranh Triều tiên, với những cuốn video cấp bậc chuyên nghiệp, những bức tranh nổi, những ảnh chụp, những bích chương, những bộ quân phục, và những chế phẩm được giám tuyển bởi một ban tham mưu năng lực cao. Nỗ lực của họ phô ra cho thấy chiến tranh là một sự đối đầu giữa một Bắc Triều tiên được hỗ trợ bởi thế giới cộng sản và một Nam Triều tiên được hỗ trợ bởi thế giới tự do gồm những xã hội dân chủ và tư bản chủ nghĩa. Vị anh hùng của đài tưởng niệm là quân đội Triều tiên và điều mà nhà nghiên cứu Sheila Miyoshi Jager gọi là “hùng khí nam nhi.”4 Theo lời của tập sách cổ vũ cho tượng đài, mục đích của đài tưởng niệm là “yêu dấu kí ức về những tiền nhân ái quốc quá cố và những vị anh hùng trong chiến tranh” họ đã “hiến dâng và hi sinh tính mạng cho tổ quốc.” Đài tưởng niệm thôi thúc ý tưởng rằng Triều tiên có món nợ vĩ đại với quân đội trong sự đất nước tìm cách tự vệ và thống nhất quê hương chống lại sự đe doạ của cộng sản. Một tấm bảng trong sân đúc kết cái giá của chủ nghĩa anh hùng và chủ nghĩa ái quốc mà quân đội và các quân nhân đã phải trả: “Tự do Chẳng phải Là Cho không.” Sự hi sinh của con người coi như được đòi hỏi. Trong khi nó có thể tốn kém về nhân mạng để canh giữ và cử hàng tự do, đài tưởng niệm hàm ý rằng tự do cũng tưởng thưởng cho những kẻ bảo vệ nó bằng sự an lạc vật chất. Trọng trách kinh tế của tự do, cả về cái giá phải trả và lợi nhuận, chạy suốt những hành lang bóng láng của đài tưởng niệm, như bằng chứng, đài tưởng niệm tự hiến, một phức hợp quân sự công nghệ nếu có bao giờ có một phức hợp như thế.

Phần chính của Đài tưởng niệm Chiến tranh tập trung vào việc miền nam tự vệ chống lại miền bắc, nhưng một căn phòng đằng sau những trưng bày chủ yếu về Chiến tranh Triều tiên ghi lại những “Lực lượng Viễn chinh” của Triều tiên. Ở đây, Việt nam là một trong nhiều xứ sở mà quân lính Đại Hàn đã giúp sức, bao gồm Nhật bản, Trung quốc, Kuwait, Somalia, miền Tây Sahara, Georgia, Ấn độ, Pakistan, Angola, và Đông Timo. Sau khi ra khỏi cuộc trưng bày về lực lượng viễn chinh, tôi kết thúc chuyến viếng thăm bằng cách đi bộ qua những trưng bày về vũ khí và quân phục Đại Hàn đương đại, trong khi những cuốn video tán dương sự chuyên nghiệp và tài khéo của quân đội Hàn quốc. Bản tự sự của đài tưởng niệm là minh bạch sau một cuộc chiến tranh Triều tiên bạo tàn trong đó những lực lượng của Liên hiệp quốc giúp người Triều tiên, quân đội Hàn quốc học được cách bảo vệ tự do của người khác ở Việt nam. Bằng cách làm như thế, Hàn quốc đương đại trở thành một thành viên đầy đủ lông cánh của những quốc gia hàng đầu trên thế giới, hưởng thụ cái mà nhà nghiên cứu Seungsook Moon gọi là “tính hiện đại quân sự hoá,” hay những đường lối đan kết nhau nhờ đó sự hưng khởi của đất nước này tới trội bật trên toàn cầu được gắn kết với việc quân sự hoá của nó, đặc biệt trong cái thế cầm cự đối với Bắc Triều tiên.5 Tính hiện đại hiếu chiến này có phải là điều mà Đài tưởng niệm Chiến tranh thể hiện chăng? Những sự vũ trang và những phương tiện ấn tượng kia của Hàn quốc, và những màn hình video trình chiếu chúng được chế tạo bởi những đại tập đoàn Hàn quốc được biết dưới danh hiệu là chaebol (tài phiệt). Hiệu ứng tích luỹ là sự biểu hiện đồng thời của quyền lực Đại Hàn về quân sự, chủ nghĩa tư bản và quyền lực về tưởng niệm, một kí ức được vũ trang hoá đáng sợ nhằm vào du khách, là tôi.

Thế nhưng, đài tưởng niệm cũng cung ứng những manh mối để tháo gỡ sự tạo thành của chính nó, giống như nhãn hiệu bí ẩn trong cái áo của mình nói lên Làm tại Trung quốc, hay Việt nam, hay Campuchia, hay Bangladesh. Trong trường hợp của đài tưởng niệm, nhãn hiệu đó là căn phòng Lực lượng Viễn chinh, nó thú nhận rằng những gì được tưởng niệm trong phòng này là làm tại Hàn quốc. Mặc dù danh hiệu của nó, căn phòng tập trung chủ yếu vào cuộc chiến tranh của Hàn quốc ở Việt nam như thể những giám tuyển của đài tưởng niệm đơn giản không thể nào cắt bỏ kí ức ấy mà phải bao gộp nó để xá miễn nó. Người ta bước vào qua một hành lang được trang hoàng bằng tán cây rừng, cái dấu hiệu kinh điển về xứ sở và cuộc chiến. Những hình chụp, những tấm tranh nổi, những bản đồ, và những hình nộm cung ứng một kết toán lịch sử về một số sự kiện của cuộc chiến, những kẻ tham dự, và những căn cứ hành quân của Hàn quốc là Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Trong bối cảnh, một dải âm thanh về tiếng ù ù của cánh quạt trực thăng xoay tròn, một chủ đề vay mượn từ Emile de Antonio và Francis Ford Coppola. Tương phản sâu sắc về cuộc triễn lãm Chiến tranh Triều tiên khoái đề cao sự hi sinh nhân mạng từ những cuộc tranh đấu của người tị nạn tới những người lính anh dũng tình nguyện cho những cuộc tấn công tự sát, triển lãm Việt nam đặc sắc là không lấm máu. Những hình nộm mặc đồng phục của kẻ thù đứng trong tư thế cứng nhắc, những minh hoạ về các bàn chông chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật, và những bức tranh nổi về các địa đạo của du kích quân trình ra sinh hoạt hàng ngày của Việt cộng hơn là sự giao tranh thắt ruột.

Hình ảnh mang kịch tính nhất cho thấy những người lính Đại Hàn nhảy xuống từ một chiếc trực thăng Huey, quen thuộc với bất cứ ai có xem những phim tài liệu, điện ảnh, hay những báo cáo tin tức cho thấy binh sĩ Mĩ làm cùng điều như thế. Nhưng, ở đây, việc ra khỏi máy bay xảy ra trong cảnh tượng nổi trong lồng kính, với những hình nhân bằng đất sét, như thể tạo nên bởi những trẻ em rất có tài năng cho một sự án ở nhà trường (trong cảnh tượng nổi dành cho Chiến tranh Triều tiên, những hình nhân lớn bằng người thật). Ở chỗ khác những phụ đề trên các ảnh chụp miêu tả lính Nam Triều tiên—không có cái nào đnag giao tranh—đọc như những phát biểu trong quan hệ với công chúng: “lực lượng Hàn quốc ở Việt nam cũng rất hãnh diện trong việc cải thiện những dịch vụ công cộng và đóng góp vào những dự án phát triển. Họ có được thanh danh về công bằng và tử tế trong nhân dân Việt nam.” Hay:

Qua việc phái gửi quân lực tới Việt nam, chúng ta lấy được sự tin tưởng và trải nghiệm trong việc xây dựng một lực lượng phòng thủ tự túc hơn. Nó cũng gia tăng cái đà của sự phát triển kinh tế của chúng ta, củng cố sự cam kết của Hoa kì vào việc bảo vệ Đại Hàn dân quốc và làm vững chắc địa vị chính trị quân sự của Nam Triều tiên đối với Hoa kì. Hơn nữa việc thực thi ấn tượng của quan lực Hàn quốc ở Việt nam làm thăng tiến danh tiếng quốc tế của chúng ta.

Lối hành văn tiếng Anh hoàn hảo của những phát biểu này không nên gạt đi. Trong phần lớn các bảo tàng và đài tưởng niệm ở Lào, Việt nam, Campuchia trong suốt những năm hậu chiến cho tới gần đây, tiếng Anh mắc khuyết điểm nực cười, như thể được cung cấp bởi một trong những sáo ngữ tả pí lù của điện ảnh Hollywood. Sự phiên dịch chuẩn xác và công việc giám tuyển xuất sắc là những dấu hiệu thêm nữa về tính hiện đại của Hàn quốc. Vậy nên phần còn lại của những triển lãm chuyên về Việt nam kể lại cách nào, sau khi tham gia vào một số những cuộc đụng độ và trận đánh, tất cả đều được mô tả bằng ngôn ngữ khô khốc, binh sĩ Nam Triều tiên “về quê trong khải hoàn.” Điều này thông thường xảy ra bởi vì binh sĩ đã khuất phục được kẻ địch, nhưng sự triển lãm im lặng về sự anh hùng của những binh sĩ Hàn quốc này. Cuộc triển lãm rất ngại ngần về sự đề cập đến tham gia của Đại Hàn trong chiến trận đến nỗi nó thậm chí không thừa nhận sự gian lao và chấn thương của binh sĩ Hàn quốc, chí ít về điều đó của quân địch Việt nam hay dân sự. Nêu lên sự bạo hành anh dũng của binh sĩ Hàn quốc có thể kéo vớt lên những việc làm khác, gây bối rối hơn.6

Trong khi Hoa kì tham chiến để chặn đứng chủ nghĩa cộng sản, sự triển lãm nhỏ bé này chặn đứng những hàm nghĩa của cuộc chiến ấy đối với Hàn quốc. Cái hàm nghĩa phiền nhiễu nhất trong những điều ấy chỉ về những gì binh sĩ Hàn quốc đã làm trong suốt cuộc chiến bị lãng quên của họ, vốn đóng một vai trò then chốt trong sự hiện xuất của Hàn quốc như một quyền lực dưới đế quốc, như một số học giả diễn tả.7 Những quyền lực đế quốc chinh phục những dải đất lớn của địa cầu, trong khi những quyền lực dưới đế quốc ổn định cho việc chế ngự vùng. Nhưng ngay cả những quyền lực dưới đế quốc cũng có thể chứng minh rằng xứ sở của ta và nhân dân của ta không phải dưới nhân tính, mà là trọn vẹn nhân tính. Cái minh chứng nghịch lí về nhân tính ấy nằm trong cái khả năng của ta để dội bom lên người khác, như người Triều tiên bay giờ có thể làm, đối lại với việc bị người khác dội bom, là điều đã xảy ra cho người Triều tiên trước đây trước khi họ trở thành dưới đế quốc. quyền lực dưới đế quốc khiến Đài tưởng niệm Chiến tranh Việt nam, nhưng quyền lực nhân từ là cái mà loại đài tưởng niệm này nhớ đến (mặc dù những người đương quyền luôn nhớ tự thân họ như là nhân từ). Quyền lực nhân từ này cho phép ta bảo vệ xứ sở của chính ta và những xứ sở khác, đối lại với việc có được những người khác bảo veeh hay xâm lăng nó. Nhưng ta không thể sở hữu tất cả thiết giáp, vũ khí, đại bác, đầu đạn, và những vũ trang tinh vi khác được trưng bày trong Đài tưởng niệm Chiến tranh mà không thể sử dụng chúng, ta không thể sử dụng chúng mà không làm hại người vô tội hay phạm vào những điều tàn ác nhất. Vốn cho sẵn vai trò của nó như là pháo đài của kí ức nhà nước, tốn kém để xây dựng và cũng tốn kém như thế để duy trì, Đài tưởng niệm Chiến tranh sẽ không và không thể thừa nhận cái thực tế này về hành vi phi nhân về phần những binh sĩ anh dũng của nó.

Nếu kí ức được vũ trang hoá có khuynh hướng tốn kém ngang với mức nhà nước có thể đài thọ, kí ức phản chiến có thể trang trải được từ sự thiết yếu. Nhiều nhất nó sẽ chẳng tốn kém hơn thời gian và đời sống của nhân dân. Thời gian và đời sống, dĩ nhiên, là những gì được đòi hỏi để viết văn học, vậy nên chẳng phải là trùng hợp ngẫu nhiên mà hai trong những nỗ lực đáng ghi nhận nhất để chống trả kí ức vũ trang hoá của Hàn quốc được thấy trong tiểu thuyết. Cuốn đầu tiên là Bóng che vũ khí/ The Shadow of Arms của Hwang Suk-Yong/ Hoàng Triết Ánh đăng tải làm hai kì vào năm 1985 và 1988.8 Chúng xuất hiện trong suốt hai chế độ kế tiếp và đàn áp lãnh đạo bởi những tổng thống đã từng phục vụ là sĩ quan quân đội ở Việt nam, Chun Doo Hwan/ Toàn Đẩu Hoán và Roh Tae Woo/ Lư Thái Ngu.9 Vốn cho sẵn khí hậu về chính trị, cuốn tiểu thuyết này bán bạo, buộc tội sự hiện diện Hoa kì ở Việt nam như là nguồn mạch của sự hủ hoá toàn diện với tất cả những người dính líu, gồm cả những người Hàn quốc. Cuốn tiểu thuyết không để lại hồ nghi gì rằng chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa chủng tộc theo phong cách Hoa kì là trái tim của cuộc chiến này, khai diễn không phải cho một Thanh bình kiểu Mĩ (Pax Americana) mà là cho quân tiếp vụ kiểu Mĩ (American PX), PX là chữ viết tắt của post exchange tức trạm trao đổi hay cửa hàng miễn thuế trong doanh trại của quân đội Hoa kì. Cuốn tiểu thuyết nêu câu hỏi “Một PX là gì?.” “Một khu giải trí trong một nhà kho hào nhoáng bao la,” cuốn tiểu thuyết nói. “Một nơi họ bán những hoá phẩm sử dụng trong đời sống hàng ngày bởi một quốc gia sở hữu cái kĩ năng làm rưới xuống hơn một triệu miếng thép trên một diện tích rộng một dặm (1.600 m) và dài một phần tư dặm (400 m) bằng một CBU.” PX làm điều gì? “PX mang văn minh lại cho bọn đầu bẹt châu Á dơ dáy.” Thậm chí còn hơn thiết giáp hay máy bay nào, quân tiếp vụ PX “là vũ khí mới uy lực nhất của Hoa kì.”11 Trong khi quân tiếp vụ PX là gương mặt chính thức của phúc hợp quân sự-công nghệ, chợ đen là gương mặt không chính thức của nó. Chợ đen chào đón bất cứ ai, gồm cả những người cộng sản và những người quốc gia, và làm họ hủ hoá với những lợi nhuận kinh tế thời chiến được lạm phát bằng những nhập khẩu và đồng đô la của Hoa kì. Người Việt nam thuộc mọi phía đều gánh chịu bởi vì họ không thể bỏ đi, không giống với người Hoa kì và người Hàn quốc. Những người bên ngoài này là thứ nhà nghiên cứu Jinim Park gọi là “những kẻ đi thực dân được thực dân hoá” (“colonized colonizers”), những người trung gian giúp cả người Mĩ và, không ngờ cả người Nhật bản, là những kẻ cung cấp nhiều hàng hoá bán ra.12 “Ở Việt nam mọi thứ đều là của Nhật bản.”13 Vậy là người Hàn quốc học được một bài học chìa khoá điều mà những người Nhật bản, những kẻ đi thực dân trước đây của Triều tiên biết rồi: những cuộc chiến tranh của Mĩ ở châu Á có thể mang lại lợi nhuận.

Nhưng những lợi nhuận tới với một cái giá không phải ít nhất trong đó là sự tự ti về chủng tộc. Việc Hoa kì chế ngự người Việt nam nhắc người Hàn quốc nhớ đến sự đối xử của người Mĩ với chính họ trong quá khứ, một lí do tại sao người Hàn quốc vừa bị lôi cuốn tới vừa muốn xa lánh người Việt nam.14 Như một người lính Mĩ bảo Yong Kyu một hạ sĩ Hàn quốc ở trung tâm cuốn tiểu thuyết, người Việt nam là những kẻ Gướm guốc. “Chúng thực sự dơ dáy. Nhưng anh giống chúng tôi. Chúng ta là đồng minh.”15 Khi Yong Kyu hồi tưởng cách người Mĩ lần đầu tiên sử dụng tiếng “Gook” ở Triều tiên, anh hiểu ra rằng “mình là người giống như Việt nam.”16 Một đồng bạn người hàn quốc còn nói, “anh coi được, đen như bất cứ người Việt nào.”17 Có lẽ cuốn tiểu thuyết đang quy chiếu về một bài hát Hàn quốc phổ thông năm 1969 nhan đề là “Trung sĩ Kim trờ về từ Việt nam,” nơi người anh hùng mang cái tên đó trở về như “Trung sĩ Kim mặt đen.” Anh ta là nhân vật đáng nhớ nhất từ nỗ lực của Hàn quốc để đề cao binh sĩ Hàn quốc ở Việt nam như là anh hùng và đạo đức, nhưng màu đen của anh là một dấu hiệu hàm hồ. Anh đã bị phơi ra không chỉ với mặt trời nhiệt đới, mà còn với chiến tranh ác liệt và sự lây nhiễm bởi chủ nghĩa chủng tộc chống châu Á của người Mĩ.18 Trong trường hợp vụ thảm sát ở Mĩ lai, mà cuốn tiểu thuyết này kể lại trong chi tiết, “rốt ráo, chính chủ nghĩa chủng tộc khiến một người khăng khăng cho rằng một vụ thảm sát là được biện minh.”19 Người Hàn quốc trong tiểu thuyết không phạm vào sự tàn ác chống lại người Việt. Nhưng Hwang hàm ý rằng họ chỉ cách xa một bước với việc làm điều đó, bởi họ đồng loã với một đạo quân Hoa kì kì thị chủng tộc.

Điều người Hàn quốc dứt khoát làm là đánh đĩ chính họ, theo nghĩa đen và qua chợ đen. Trong khi những nhân vật người Việt chết hoặc bị cầm tù, Yong Kyu vẫn luôn sống và tự do và đoạn kết cuốn tiểu thuyết, giúp cô gái điếm Hae Jong gửi một số lượng đáng kể những hàng hoá phi pháp về cho gia đình cô ở Hàn quốc, như nhiều người lính Hàn quốc cũng đã làm.20  Chỉ với sự ân hận nhỏ nhoi, Yong  Kyu tuân thủ hệ cấp rằng đàn ông bóc lột đàn bà, người da trắng chế ngự người châu Á và người Hàn quốc đối xử tàn tệ với người Việt. “Đen” trở thành một kí hiệu của sự hủ hoá và sự tự ti, từ chợ đen đến người da đen hoặc bị làm cho đen đúa.21 Màu đen cũng là quan trọng với cuốn tiểu thuyết đáng kể kia của Hàn quốc về cuộc chiến tranh Hàn quốc này. Chiến tranh màu trắng/ White War của Ahn Junghyo, mà tác giả tự thân dịch sang tiếng Anh với nhan đề Phù hiệu trắng/ White Badge. Nhưng trong khi màu đen lẩn lút trong cuốn tiểu thuyết, màu trắng là mối quan tâm ưu thắng. Người kể chuyện, Han Kiju, là một trí thức, không giống như Yong Kyu và phần lớn những người đàn ông Hàn quốc tình nguyện đi sang Việt nam. Anh say mê với văn hoá phương Tây, da trắng, đã đọc Homer, Remarque, Shakespeare, Hemingway, Montaigne, Dryden, và Coleridge. Thích hợp với một trí thức, anh là một người đàn ông mà nam tính bị chính tự thân và những kẻ khác chất vấn. Sau chiến tranh, anh là một kẻ “xa lạ” trong xã hội Hàn quốc, sự hiểu biết của anh về văn học là vô bổ, sự nghiệp của anh chững lại, người vợ ngoại tình bỏ anh vì việc họ không thể sinh con, rốt ráo phơi bày ra như một sự thất bại về hùng tính của anh.23 Một cuộc điện thoại gọi đến từ một bằng hữu cựu chiến binh, Pyon Chinsu, buộc anh nhớ lại chiến tranh và nhận thức được nguyên nhân nỗi khó chịu của anh: “tiền máu” (“blood money’) trả cho những người lính chịu tòng quân qua Việt nam.24 Những binh nhì tình nguyện sang Việt nam kiếm được 40 mĩ kim mỗi tháng trong khi thu nhập hàng năm của một gia đình trung bình khi ấy là 98 mĩ kim. Hoa kì trả khoảng 1 tỉ mĩ kim cho những người lính Đại Hàn này, tức là khoảng 6,6 tỉ mĩ kim theo thời giá ngày nay.25 Số tiền này “làm chất đốt cho sự hiện đại hoá và phát triển của xứ sở. Và nhờ vào sự đóng góp này, Đại Hàn dân quốc, hay ít nhất một hàng ngũ cao cấp của nó, sải một bước khổng lồ vào thị trường thế giới. Sinh mệnh đem bán. Lính đánh thuê cho cả nước.”26

Trong cả hai cuốn tiểu thuyết này, người Hàn quốc bán mình cho Hoa kì, một “thần tượng khoa trương, một kẻ khổng lồ khoác lác.”27 Đối với cặp mắt quan sát tinh tế của Han Kiju, nếu người Mĩ là đám khổng lồ, vậy người Hàn là đám lùn, mặc quân phục của Mĩ, ăn thực phẩm Mĩ, dùng vũ khí Mĩ, quá rộng khổ đối với họ.28 Sự trớ trêu của một người đi thực dân hoá ngày nay trong cuộc chiến tranh màu trắng này, chắc chắn đối với người kể chuyện, miêu tả người lính Mĩ da đen duy nhất trong cả cuốn sách như là “một lính Mọi đen với đôi môi dày, nguyên sơ, phớt hồng.”29 Giống như người Mĩ, một số người Đại Hàn hấp thu chủ nghĩa chủng tộc của Hoa kì, gọi người Việt nam là “gook” (gướm guốc) và “giống da vàng, hơi thấp lùn.”30 Giống như người Mĩ, binh lính Hàn quốc không thể nêu lên sự dị biệt giữa những người Việt thân thiện và những người Việt thù địch. Họ theo đuổi chiến lược Hoa kì về sự trừng phạt và sự trưởng thượng cưỡng bách dời chỗ dân làng từ những mái ấm của họ tới những ấp chiến lược trong khi cũng muốn chiếm được tâm trí của người dân bằng việc xây những bệnh xá, mở tiệc khoản đãi, và phân phát gạo. Nhưng điều người Hàn quốc làm ngược với người Việt nam là điều những người khác đã làm với người Hàn quốc: “chúng ta, hay cha mẹ chúng ta, đã nghĩ gì khi quân lực Liên hiệp quốc, bọn Mĩ và bọn Thổ ùa vào làng mạc của chúng ta trong suốt cuộc chiến tranh Triều tiên để giải thoát chúng ta khỏi những người Cộng sản và rồi cưỡng hiếp dân làng, đàn bà con gái vào ban đêm.”31 Như thể để tránh phạm vào cùng sự tàn ác ấy, Kiju có một cô nhân tình người Việt, một người đàn bà có đức hạnh nhưng bị điều tiếng tên là Hai. Những hình tượng giống như Hai là những thứ cố hữu của văn học nước ngoài về Việt nam, người nổi tiếng nhất là Phượng, trong tiểu thuyết Người Mĩ trầm lặng/ The Quiet American của Graham Greene. Với Hai, Kiju có thể là một người đàn ông, nhưng cái ảo tưởng về nam tính này bị phơi ra khi cô năn nỉ anh đưa cô về Hàn quốc, là điều anh không thể làm.32 Có lẽ đơn giản không muốn làm như cuốn tiểu thuyết sau đó cho thấy, có những người Việt nam tị nạn sống trong nghèo khó ở Seoul thời hậu chiến, gồm cả những người Việt nam bị bỏ rơi bởi tình nhân người Hàn quốc.33 Lịch sử này vẫn tiếp diễn ngày hôm nay, khi những người đàn bà Việt nam nghèo khó tới Hàn quốc để được kết hôn với những người đàn ông Hàn nhưng không có ai khác chịu lấy, đó thường là những nông dân bị tụt hậu do cuộc hiện đại hoá và đô thị hoá của xứ sở họ.

Thảm kịch thực sự của Phù hiệu trắng không phải là giữa người Hàn quốc và người Việt nam, mà là giữa những người Hàn với nhau. Chiến hữu cũ của Han Kiju, là Pyon Chinsu, đã liên lạc với anh để hỏi xin ân huệ sau cùng—bắn anh ta và đưa anh ra khỏi cảnh khốn cùng hậu chiến, vốn xảy ra trên cái bối cảnh của những cuộc tranh đấu dân chủ chống lại chế độ độc tài quân phiệt của Chun Doo Hwan. Cuốn tiểu thuyết khép lại với cuộc gặp mặt giữa Pyon Chinsu, nông dân, và Han Kiju, trí thức, mà không cho chúng ta biết liệu Kiju có thể bóp cò súng hay không. Dù cách nào đi nữa đó cũng là sự thất bại chẳng được tưởng thưởng cũng chẳng được nhìn nhận bởi những công dân đồng bào của họ, đặc biệt là giới doanh thương đã hưởng lợi ích nhiều nhất từ cuộc chiến. Không giống với Đài tưởng niệm Chiến tranh của Triều tiên, Phù hiệu trắng phô ra những hao phí và những huyền thoại của nam nhi hùng khí. Cho dù cái nam nhi này có thành công hay thất bại thì trong cả hai trường hợp đều là do quy thuận với kẻ khổng lồ người Mĩ “chưa hề bao giờ học cách sống bên ngoài thế giới của y” và đã đòi hỏi những người Hàn quốc sống trong cái thế giới của y, qua chủ nghĩa tư bản của y, văn học của y, và cuộc chiến tranh (trắng) của y.34 Để bù đắp lại, kẻ khổng lồ này cống hiến cho những người Hàn quốc cơ hội khai thác cái mà sử gia Bruce Cumings gọi là “El Dorado” (“Xứ Vàng”), hay Việt nam, nơi các kĩ sư Hàn quốc từ tổ hợp Daewoo (đại Vũ) thuê những căn phòng từ cha mẹ tôi trong cái tỉnh lị dễ thương của tôi.35

Sự chán ngán với cả người Mĩ và người Hàn quốc là thâm sâu trong những cuốn tiểu thuyết phản anh hùng này, nhưng có tồn tại một trào lưu anh hùng trong kí ức của Hàn quốc về cuộc chiến tranh này được thấy trong những ca khúc như là “Trung sĩ Kim trở về từ Việt nam.” Tuy nhiên phiên bản anh hùng này về kí ức chiến tranh Hàn quốc không lưu thông bên ngoài Hàn quốc. Thay vì thế, quan chúng bên ngoài Hàn quốc dễ có cơ nhất để biết đến những cuốn tiểu thuyết phản anh hùng này và cuốn phim phóng tác từ tiểu thuyết Phù hiệu trắng. Trong lối này, trường hợp của Hàn quốc tương tự trường hợp của Hoa kì. Có lẽ rằng hình ảnh toàn cầu của cuộc chiến là quá tiêu cực đến nõi rằng những câu chuyện anh hùng không song hành với những trông chờ của các quan chúng toàn cầu. Phóng tác điện ảnh năm 1994 của tiểu thuyết Phù hiệu trắng (cũng mang tên Chiến tranh Trắng ở Hàn quốc) có lẽ vẫn là phim Hàn quốc nổi tiếng nhất về cuộc chiến, và giữ lại những phẩm chất phản anh hùng và chống Hoa kì của cuốn tiểu thuyết.36 Đồng thời, cuốn phim báo hiệu cung cách những kí ức Hàn quốc về cuộc chiến, ngày càng gia tăng nhấn mạnh cung cách mà người Hàn quốc đã trải nghiệm cuộc chiến. Trong khi cuốn tiểu thuyết nổi bật trong văn học toàn cầu về cuộc chiến vì những viến kiến Việt nam của nó, cuốn phim loại trừ phần lớn những phẩm chất này. Cô nhân tình của Han Kiju biến mất tiêu và người đàn bà Việt cộng mà đám lính hạ nhục về mặt tính dục trở thành một kẻ đánh bom cảm tử. Không có những phụ nữ Việt nam đồng cảm, cuốn phim, thậm chí còn hơn cả cuốn tiểu thuyết, trở thành một tấn kịch về và giữa những người đàn ông Hàn quốc. Sự tranh đấu của họ không phải nhiều cho lắm về sự hàm hồ luân lí của chính họ ở Việt nam mà là về mối quan hệ hậu chiến của họ với một xã hội Hàn quốc đang ở tư thế cầm cự quân bình giữa độc tài và quân chủ trong thập niêm 1980.

Cuốn phim vẽ lại những cuộc tranh đấu này và tự thân nó cũng là một sựu kết thành của những cuộc tranh đấu này. Nó miêu tả một cuộc chiến tranh giúp chuyển hoá Hàn quốc thành một xã hội tư bản chủ nghĩa cường tráng và khiến cho Hàn quốc có thể kể những câu chuyện quyền thế hơn và tốn kém hơn. Cuốn phim là thành phần của một hình thức nghệ thuật nói lên nhiều về xã hội của nó qua sự thành đạt kĩ thuật, khiến khả dĩ do sự phát triển của một phức hợp công nghệ, ngang bằng với việc nó nói lên bằng tự sự. Tuy nhiên, cũng như với Đài tưởng niệm Chiến tranh Triều tiên, ngôn ngữ hoành tráng của điện ảnh đôi khi tới với nhiều hơn chỉ là một sự phí tổn về tài chính. Điện ảnh, như một sản xuất công nghệ phải trả lại lợi nhuận trên đầu tư nhiều hơn là văn học, nơi những sự cá cược là nhỏ hơn. Trong khi văn học có thể dễ dàng hơn sẵn sàng đảm nhận những bước liều mình như là đồng cảm với kẻ thù, điện ảnh thường khi tụt lại sau, như trong cuốn phim ngân quỹ lớn Phù hiệu trắng. Cuốn phim này, với tất cả những phẩm chất phản chiến của nó, là thành phần của “Điện ảnh Mới Hàn quốc” (New Korean Cinema) là một dấu hiệu thêm nữ về tính cạnh tranh toàn cầu Hàn quốc.37 Điện ảnh Mới Hàn quốc nó làm cho những đạo diễn của Hàn quốc thành những kẻ thân yêu của mạch điện ảnh quốc tế và nắm bắt được sự quan tâm của Hollywood. Điện ảnh này kể những chuyện Hàn quốc và tự thân nó là một câu chuyện Hàn quốc. Bóng loáng như tuyến mới nhất của những xe hơi Hyundai/ Hiện đại, quyền lực mềm về điện ảnh này là một chế phẩm vật thể về thành đạt Hàn quốc và khẳng định Hàn quốc xứng đáng được bao gộp trong số hàng đầu của thế giới. Định khuôn theo lối này, Phù hiệu trắng trong dạng cuốn phim xoá đi những nhân vật người Việt và bằng chính sự hiện diện của nó như một cuốn phim về những người Hàn quốc ở Việt nam góp phần vào sự thống ngự toàn cầu của quan điểm Hàn quốc trên quan điểm Việt nam, một sự thống ngự được duy trì bằng khả năng của Hàn quốc để xuất khẩu cuốn phim này và những cuốn phim khác ra hải ngoại.

Ba cuốn phim nữa của Hàn quốc về cuộc chiến nối sau Phù hiệu trắng, cùng nhau báo hiệu sự hội tụ của kí ức và quyền lực qua nghệ thuật công nghệ về phim ảnh Điểm-R/ R-Point (2004), một phim kinh dị; Ánh dương/ Sunny (2008), một phim tình cảm sướt mướt lãng mạng; và Bài tụng cho cha tôi/ Ode to My Father (2014), một phim tình cảm lịch sử và thành công về bán vé. Những cuốn phim mượt mà, được đánh bóng này tiến bộ hơn rất đáng kể so với bất cứ thứ gì xuất phát từ Việt nam, về mặt kĩ thuật là ngang hàng với các phim Hollywood và san sẻ một chủ đề tương tự trong khi phim chiến tranh Hoa kì thuộc thập niên 1980 dấn mình vào điều mà nhà nữ nghiên cứu Susan Jeffords gọi là sự “tái nam hoá Hoa kì” (“remasculinization of America”) sau sự thua mất mang tính thiến hoạn của Chiến tranh Việt nam, nhà phê bình Kyung Hyun Kim lập luận rằng điện ảnh Hàn quốc hậu chiến cung cách giống thế cũng được tái nam nhi hoá.38 Cả ba phim này cho thấy một nam tính của Hàn quốc bị lâm trận ở Việt nam và cũng thể hiện một Hàn quốc hưng khởi qua điện ảnh bóng bẩy. Phim Điểm R dõi theo một tiểu đội lính Hàn quốc đi kiếm tìm một tiểu đội chiến hữu của họ bị mất tích. Trong một biệt thự thuộc địa bị bỏ phế họ hội ngộ với một hồn ma đã từng gây ra những cái chết của những người lính mất tích kia, là một phụ nữ Việt nam mặc áo dài trắng đã nhập hồn những người lính này khiến họ quay vũ khí bắn vào nhau.39 Như trong những phim chiến tranh Hoa kì, người đàn bà Việt nam là hình tượng gây khiếp sợ hơn cả. sự miêu tả nổi tiếng nhất trong điện ảnh Hoa kì về người đàn bà gây khiếp sợ này là Full Metal Jacket/ Đạn xuyên giáp, nơi một cô gái bắn sẻ triệt tiêu cả một tiểu đội lính Mĩ cho tới khi chúng bắt được và giết cô. Nhưng trong Điểm-R, hồn ma đe doạ vẫn sống tiếp, huỷ diệt toàn bộ bọn lính Hàn quốc chỉ trừ một người vì những sự vi phạm tính dục của chúng.40 Thật trớ trêu, cái chết của những người lính Hàn quốc cũng là một sự xá tội. Là nạn nhân của chính “hoả lực bạn” của chính chúng—ngay cả người sống sót cuối cùng cũng bị làm cho mù mắt—họ không thể phải chịu trách nhiệm trong cùng đường lối với những người lính Mĩ còn sống có thể mang.41

Chủ đề về sự xá tội cũng ở tâm điểm của phim Ánh dương, một phim chiến tranh kì lạ và giải trí về Soon-Yi vừa nới kết hôn thì người chồng tình nguyện vào quân đội vì anh tin rằng người vợ không yêu mình (còn chị thì tin rằng anh có một cô nhân tình). Bị chối bỏ bởi gia đình bên chồng và chính gia đình bên chị do hậu quả việc bị chồng bỏ rơi, Soon-Yi đi sang Việt nam để đưa anh ấy về. Chỉ có đường lối duy nhất là qua việc trở thành người diễn trò giải trí cho binh sĩ Hàn quốc và Hoa kì, và chị ra đi với một người cầm đầu ban nhạc đặt lại tên cho chị là Sunny, một cái tên thích hợp hơn với những người Mĩ. Họ làm chị mất phẩm giá, cùng mọi người Hàn quốc được làm sáng tỏ khi một đám khán thính giả là lính Mĩ tru rống lên và dâm dật ngó Sunny khi chị hát ca khúc “Susie Q.” Sau khi đám binh nhì Mĩ cuồng say ném tiền như mưa vào chị, Sunny ngủ với viên sĩ quan của họ để đánh đổi lấy việc người này trợ giúp trong sự cứu chồng chị. Những người trong cùng ban nhạc với chị cảm nhận sự đánh đĩ của chị theo nghĩa đen và sự đánh đĩ của chính họ theo nghĩa bóng khi họ đốt những tờ đô la theo đó họ đã được trả tiền. Sự đê tiện của Hoa kì còn được chuyển tải sống động hơn khi lính Mĩ bắn vào lưng một bé gái nhỏ và hạ sát một viên chỉ huy Việt cộng đã tha mạng cho những thành viên của ban nhạc. Tương phản với những người Mĩ ác độc, binh sĩ Hàn quốc trong phim không hề phạm vào những việc tàn ác. Bị bắn, bị pháo, và bị phục kích trong mấy trận đánh họ hầu như luôn luôn ở tư thế tự vệ, bị kẻ thù khủng bố cho đến khi người chồng của Sunny là người sống sót cuối cùng trong tiểu đội bị phục kích của anh. Khi sau chót Sunny gặp người chồng bị chấn thương này trên chiến trường, chị không ôm hay hôn anh; thay vì thế, giữa tiếng súng nổ và tiếng đại bác chị tát anh cho đến khi anh gục xuống quỳ trên hai đầu gối, là khuôn hình sau chót của cuốn phim. Cũng như trong Điểm-R, những người đàn ông Hàn quốc là những người phải chịu trừng phạt, do cả người Việt và cả đàn bà. Nhưng không giống như Điểm-R, phim Sunny khước từ tin tưởng rằng những người Hàn quốc có làm gì nhiều hơn là chiến đấu trong tự vệ.

Bài tụng cho cha tôi là câu chuyện của Duk-soo, một người tị nạn từ miền bắc cảm thấy chịu trách nhiệm về việc mất mát người cha và em gái trong cuộc chạy trốn đó. Sau khi gia đình anh được quân lực Hoa kì cứu, anh lãnh trách nhiệm bảo trợ mẹ và các em. Anh chịu đựng sự hi sinh thiết thân lớn lao làm một người phu mỏ than ở Đông Đức và làm một nhà thầu ở Việt nam thời chiến, nhưng công cuộc gian khổ nhất của anh khiến anh thành công về kinh tế. Sự hưng khởi của anh từ tên ăn mày tới vị tộc trưởng thuộc giai cấp trung lưu là tấm gương soi chiếu sự hưng khởi của Nam Triều tiên từ thập niên 1950 cho tới hiện tại. Cuộc chiến tranh Hàn quốc ở Việt nam đóng một vai trò nhỏ nhưng là then chốt trong sự chuyển hoá của cả Hàn quốc và Duk-soo. Khi cuộc chiến kết thúc, bộ đội cộng sản bẫy được anh và những nhà thầu Hàn quốc khác trong một ngôi làng Việt nam. Trong suốt trận đánh nơi những thuỷ quân lục chiến Hàn quốc đánh bật cộng quân và cứu các nhà thầu cùng những người Việt nam thân hữu, Duk-soo bị thương khi anh cứu vớt một cô gái Việt nam khỏi bị chết đuối. Mặc dù bị thương tật vĩnh viễn, anh bây giờ là kẻ cứu vớt hơn là kẻ được cứu vớt, như Nam Triều tiên trong tương quan với Nam Việt nam. Câu chuyện của Bài tụng cho cha tôi là hài hoà với câu chuyện của Đài tưởng niệm Chiến tranh với Triều tiên trong việc phô ra những người Nam Triều tiên bằng cách nào đã đi từ chỗ thấp hèn và phi nhân, cần sự trợ giúp trong suốt cuộc Chiến tranh Triền tiên, tới thành những người bảo vệ có nhân tính của tự do trong suốt cuộc chiến tranh Hàn quốc ở Việt nam. Trong khi sự chuyển hoá của Hàn quốc là hiển nhiên với mọi người, sự anh hùng của Duk-soo là không được con cái biết đến, chúng cũng cứ ngỡ rằng công lao khó nhọc và lao khổ của người cha vì chúng là đương nhiên.

Với những bức tranh mô tả này về nam tính của Hàn quốc bị vết thương, bị làm nạn nhân, khởi đầu trong Phù hiệu trắng, điện ảnh Hàn quốc đóng chức năng như điện ảnh Hoa kì về cuộc chiến. Dù cho người Mĩ miêu tả tự thân trong những đường lối tội ác, sự miêu tả này luôn luôn được phơi ra qua ánh sáng chói loà của Hollywood. Cũng giống như thế với những phim chiến tranh Hàn quốc. Như thành phần của một nền Điện ảnh Mới Hàn quốc không ngần ngại miêu tả những người Hàn quốc một cách phản anh hùng, một số trong những cuốn phim này cho thấy rằng tự tái thể hiện thuộc loại đen tối nhất còn tốt hơn là không tái thể hiện gì cả. nhưng xem những phim này trong kế tục, từ Phù hiệu trắng của năm 1994 tới Bài tụng cho cha tôi của năm 2014, những gì chúng ta thấy là một bản tự sự giảm tối đen đi và tăng việc xét lại quá khứ. Người Hàn quốc mang nhân tính trong những phim này, nhưng còn hơn thế nữa, họ cũng là nạn nhân nữa, những chiến binh uỷ nhiệm làm theo sự sai phái của bọn khốn thực sự, là người Mĩ. Sự sắp xếp lại các vai của cuộc chiến tranh Triều tiên khác kia ăn khớp một cách chỉn chu với cách người Hàn quốc có thể tuyên xưng là một “nhà nước nạn nhân” của Hoa kì và chính sách Chiến tranh Lạnh của nước này.42

Trong khi Triều tiên của quá khứ có thể là một nước chư hầu, Hàn quốc của hiện tại đẩy lui, một kẻ cạnh tranh yêu cầu được nhìn nhận khắp thế giới, vừa cho nhân dân và vừa cho những sản phẩm của nó. Trong một thế giới của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, hàng hoá là quan trọng hơn con người và thường du hành dễ dàng hơn con người. Giống như con người, hàng hoá được đánh giá trong những đường lối khác nhau, thương phẩm Hàn quốc đắt tiền hợp thời trang hơn những món Trung quốc rẻ tiền. Trong trường hợp của Việt nam, người ta có thể thấy cả những sản phẩm Hàn quốc đắt tiền và những con người Hàn quốc đắt tiền. Những người Hàn quốc đã quay trở lại trong sức mạnh không vũ trang, như là những du khách, những chủ doanh nghiệp, và những sinh viên. Hàn quốc được thấy ở khắp mọi nơi, trong những kiểu tóc, âm nhạc đại chúng, điện ảnh, phim bộ sướt mướt tình cảm, và những cửa hàng bách hoá. Đối với đa số người Việt nam, Hàn quốc và người Hàn quốc là những hình ảnh hoành tráng của một tính hiện đại vẫy gọi, bất kể những thực tại nằm bên dưới. Đối với cả người Hàn quốc và người Việt nam, tính hiện đại này đòi hỏi chứng mất trí nhớ về cái quá khứ được san sẻ chung trước đây của họ. Như vậy, trong khi những hàng hoá của Hàn quốc có thể đâu đâu cũng thấy, thì những kí ức về cuộc chiến tranh Hàn quốc ở Việt nam vẫn còn khó thấy xuất hiện, ngay cả trong hình thức điện ảnh của chúng.

Khi người Việt nam quả có hồi tưởng về những người Hàn quốc, các kí ức mang tính tiêu cực. Ở viện Bảo tàng vụ Thảm sát Sơn mĩ, được biết nhiều hơn như là vụ Thảm sát Mĩ lai, một tấm biển bằng tiếng Anh và tiếng Việt ghi nhớ “những tội ác bạo hành của bọn xâm lược Mĩ và bọn lính đánh thuê Park Chung Hee.”43 Những người Việt miền Nam chiến đấu bên cạnh những binh sĩ Hàn quốc cũng chẳng quan tâm nhiều đến họ. Nguyễn Cao Kỳ, thiếu tướng không quân và phó thủ tướng của Việt nam Cộng hoà, lên án họ về tham nhũng và buôn bán chợ đen.44 Những người lính trung bình oán hận rằng lính Mĩ ưu đãi binh sĩ Hàn quốc mà họ coi là hiếu chiến hơn. Thêm phần sỉ nhục vào thương tổn, người Mĩ thậm chí còn khiến quân dội miền Nam Việt nam mua nước tương của Hàn quốc để thay thế nước mắm Việt nam.45 Quan niệm dân sự của người Việt về binh sĩ Hàn quốc còn tệ hơn, vì một số người Việt nam còn nhớ rằng, trong thế chiến hai, khi đất nước bị Nhật bản chiếm đóng, lính Triều tiên phụ trách các trại giam.46 Và, theo Lệ Lý Hayslip, một cô thôn nữ bị mắc vào cuộc chiến tranh cơ sở ở miền trung:

Còn nguy hiểm [hơn cả người Mĩ] là lính Đại Hàn bây giờ tuần tra chi khu của người Mĩ. Bởi một đứa trẻ từ làng của chúng tôi bước vào danh trại của họ và làm nổ một quả bom của Việt cộng quấn vào người bằng dây thép, bọn Đại Hàn trả đũa một cách khủng khiếp chống lại ngay chính bọn trẻ (những người bọn chúng chỉ đơn giản xem là những Việt cộng bé con). Sau sự cố này, mấy người lính Đại Hàn đi tới một trường học, chộp lấy mấy đứa bé trai, quăng chúng xuống một cái chúng, sau đó quăng một trái lựu đạn vào như một tấm gương cho những kẻ khác. Đối với dân làng, lũ Đại Hàn này giống như lính Ma rốc [trợ giúp cho người Pháp]—cứng cỏi và đê tiện hơn đám lính da trắng mà chúng hỗ trợ. Giống như bọn Nhật hồi thế chiến II, chúng dường như không có lương tâm và thi hành nhiệm vụ của chúng như những cỗ máy giết người tàn nhẫn. Chẳng lạ gì chúng thấy quê hương tôi là một nơi hoàn hảo để hoành hành cái nghề khủng khiếp của chúng.47

Như nhà nhân loại học Heonik Kwon ghi nhận, hành vi này của binh sĩ Hàn quốc chẳng làm ngạc nhiên cho mấy. Những khẩu hiệu của chúng bao gồm “giết sạch, đốt sạch, huỷ sạch,” “trẻ con cũng do thám,” và “thà sai lầm còn tốt hơn là bỏ sót.”48

Chuỗi kí ức oán than này làm chứng cho những đường lối mà người Việt nhớ, nhưng phần lớn là quên, về lính Đại Hàn. Những kí ức mảnh mún này bị trùm lấp bởi sự dửng dưng của người Việt nói chung đối với cuộc chiến tranh Hàn quốc ở Việt nam, và bị vượt xa về con số bởi những chuyện được thấy trong các tiểu thuyết, phim ảnh và cả những băng video nhạc như là bài nhạc “Bạn có biết?”49 năm 2000 của ngôi sao đại chúng Jo Sung Mo. Việc kể lại hoành tráng về binh sĩ Hàn quốc hi sinh tính mạng để cứu những thường dân Việt nam kết thúc bằng một tiểu đội việt cộng nổ súng sát hại người binh sĩ còn sống cuối cùng và người tình Việt nam của anh. Người lính kêu lên, “Tại sao điều này xảy ra cho chúng ta.” Hậu kí của cuốn video làm hiển lộ cái cảm thức bị làm nạn nhân của người Hàn quốc: nó nói, “Chiến tranh Việt nam vốn là bi kịch thuần tuý.” “Không có kẻ thắng hay người thua.” Ít nhất khi đến việc nhớ người Hàn quốc, người Việt nam, phần lớn tỏ ra sẵn lòng đồng ý.50 Nói cho cùng, cả tiền bạc và những cuộc hôn nhân phải được làm giữa Hàn quốc và Việt nam trong kỉ nguyên hậu chiến, và những kí ức về chém giết chỉ xen vào.

Những câu chuyện Hàn quốc về cuộc chiến cho phép Hàn quốc phê phán Hoa kì, thừa nhận mức độ ít nhiều của sự đồng loã của Hàn quốc, và miễn xá cho người Hàn quốc về bất cứ những tọi ác nào phạm vào ở Việt nam. Được tẩy sạch bằng những tự sự này, Hàn quốc ôm choàng lấy vai trò mới của nó trong chủ nghĩa tư bản toàn cầu, nơi tiền bạc nắm quyền kí ức và kí ức nắm quyền tiền bạc. Bởi sự giàu có của một quốc gia khiến những kí ức của nó làm lưu thông ngày càng rộng hơn, kí ức được vũ trang hoá biện minh cho việc tiền bạc của quốc gia đã được kiếm ra như thế nào, xoá đi hết những dấu vết đẫm máu còn để lại bởi những người đã chiến đấu để làm cho những lợi nhuận này khả dĩ có được. Tầm vươn tới của văn hoá đại chúng Hàn quốc, trong tiểu thuyết, phim ảnh, âm nhạc, và hàng hoá, làm chứng cho một quyền lực hiện xuất của Hàn quốc. Hàn quốc có thể thích nghĩ về tự thân nó như một nạn nhân—của Nhật bản, của Hoa kì, của Bắc Triều tiên—nhưng nó còn là nhiều hơn thế. Người Hàn quốc có thể đã là những người bạn chí thiết, những người thay mặt, những người uỷ nhiệm, trong cuộc Chiến tranh Lạnh và về sau, nhưng Hàn quốc đã học tập được giỏi từ những người chủ của nó. Từ một học sinh tốt, Hàn quốc đã tốt nghiệp từ địa vị dưới con người tới địa vị dưới đế quốc, và sự tốt nghiệp của nó ảnh hưởng đến cách thế Hàn quốc đối xử với Việt nam của hiện tại, Việt nam của quá khứ và cái bóng che của chủ nhân Hoa kì. Đã từng là một tỉnh lẻ tù đọng, bị ô nhục vì Nhật bản và làm cho phụ thuộc bởi Hoa kì, Hàn quốc đã trở thành một tiểu cường quốc toàn cầu sang và bảnh mà sự phóng chiếu về tự thân của nó chỉ xảy ra trong xưởng chế tạo, phòng ban giám đốc, thị trường chứng khoán, và Liên hiệp quốc mà còn trong những rạp hát, trên truyền hình, trong sách và trong kiến trúc tạo nghĩa về quyền thế và kĩ năng chuyên môn, nhằm để gây sợ và gây ấn tượng cả cho công dân và du khách.

Kí ức được vũ trang hoá đặt trước nền tảng vì nhân tính của những người chúng ta nhớ tới, nhưng tính phi nhân cũng nằm trong bối cảnh của những vận hành của nó nữa. Những hành vi phi nhân rành rành nhất do người Hàn quốc là hướng tới nhân dân Việt nam, nhưng việc trở thành dưới đế quốc đối với những người Hàn quốc cũng liên can tới việc hấp thu tính phi nhân của chủ nhân đế quốc của Hàn quốc, tức là Hoa kì. Một dấu vết của tính phi nhân ấy thấy được trong những lời như là “Tự do không phải là miễn phí/ cho không” (“Freedom is not for free”), những lời này tới từ Hoa kì và được nêu lên trội bật trên Đài tưởng niệm Chiến tranh Triều tiên ở thủ đô Washington, Đặc khu Colombia/ D. C., khánh thành vào năm 1995, một năm sau khi Đài tưởng niêm Chiến tranh của Hàn quốc khởi đầu. Khẩu hiệu này đã lưu truyền rộng rãi, xuất hiện cả trên Đài tưởng niệm Chiến tranh Hoa kì Hmong Lào của thành phố Fresno, bang California, khánh thành vào năm 2005 để tặng hiến cho những đồng minh của Hoa kì đã chiến đấu ở Lào trong suốt cuộc “Chiến tranh Bí mật.” Người ta cũng có cơ nghe thấy “tự do không phải là cho không” trong nhiều dịp ái quốc Hoa kì, mặc dù cái ngữ cảnh nguyên thuỷ của nó từ năm 1959 hiếm khi được đưa ra hay nhớ lại: “Tôi e rằng quá nhiều người trong chúng ta muốn những thành quả của sự hội nhập mà không sẵn lòng can trường thách thức những cội rễ của sự phân biệt nhưng tôi xin cam đoan với các bạn rằng nó không tới trong đường lối này. Tự do chẳng phải là cho không. Nó luôn luôn được mua bằng cái giá cao của hi sinh và đau khổ.”51 Những binh sĩ da đen đã chiến đấu trong những cuộc chiến tranh của Hoa kì, và bây giờ, “Hỡi Hoa kì, chúng tôi chỉ đơn giản yêu cầu người cam đoan cho sự tự do của chúng tôi.”52 Martin Luther King Jr. đang nói rằng Hoa kì mở ra những cuộc chiến tranh ở hải ngoại nhân danh che chở tự do của người khác, nhưng lại ngần ngại mở cuộc chiến chống lại của nghĩa chủng tộc ở quê hương. Trong những thủ đô của cả hai nước Hoa kì và hàn quốc, bên dưới những lời kêu gọi phấn khởi cho tự do, sự không tự do vang vọng.

Những người Hàn quốc trở thành có nhân tính trong thời của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, nhưng với cái giá phải trả nào, và với những ai? Đây là một câu hỏi không chỉ cho Hàn quốc. Khi khu phố Đại Hàn thiêu đốt ở Los Angeles, câu hỏi về nhân mạng và giá trị cũng phải chất vấn nữa. Các cơ sở kinh doanh của người hàn quốc chịu hàng trăm triệu mĩ kim về tổn thất, và nỗi đau với những người Mĩ gốc Triều tiên là có thực. nhưng khi tài sản định nghĩa cho những tổn thất của người Hàn quốc, ít nhất họ có tài sản để mất. Trong khi những người Latino cũng mất mát về tài sản nữa—khoảng 40 phần trăm tổng số thiệt hại, so với 50 phần trăm đối với người Hàn quốc—những tổn thất này cũng được đo lường bằng những hạn từ về tội ác và đời sống, như trong trường hợp của những người Hoa kì gốc châu Phi. Phần lớn những người bị bắt giữ là da đen và Latino, cũng như phần lớn những người thiệt mạng. Một người Hoa kì gốc Hàn quốc thiệt mạng.53 Việc đếm xác quan trọng, như nó đã là quan trọng trong những chiến tranh ở Việt nam và Triều tiên, bởi vì việc đếm ấy bảo cho cúng ta biết những sinh mạng của ai được đánh giá cao hơn. Trong quy trình phục vụ như là lính bộ binh trên những tiền tuyến của một trận giao tranh được chiến đấu vì chủ nghĩa tư bản, người Triều tiên và người Hoa kì gốc Triều tiên trở thành quý giá hơn—có nhân tính hơn—những người da đen hoặc những người bị làm đen sạm, ít nhất trong những kí ức được quân sự hoá của Hoa kì và Triều tiên. Mang nhân tính không chỉ có nghĩa là có công năng dội bom xuống người khác trong những cuộc chiến tranh bình định tầm xa, hay thi triển hoả lực công nghệ lấn lướt, hay hưởng lợi nhuận từ chủ nghĩa tư bản. Ở Hoa kì, nó cũng có nghĩa là được nhớ như thiểu số gương mẫu; ở Triều tiên, nó có nghĩa là có công năng dẫn dắt những chiến dịch kí ức chiến lược, thi triển những cuộc tập kích kí ức phẫu thuật, tái phát minh quá khứ. Những cựu chiến binh Hàn quốc của cuộc chiến tranh Triều tiên khác kia thậm chí còn có thể dựng lên một đài tưởng niệm nhỏ ở Việt nam, mặc dù xứ sở ấy không có quyền lực để nhớ tự thân ở Hàn quốc. Kí ức, giống như chiến tranh, thường là bất đối xứng.

Tôi tìm ra cái tượng đài cô đơn đó sau ít nhiều nỗ lực, trên một đường mòn rẽ từ một đường nhánh khỏi quốc lộ 1A một chút sau khi nó băng qua Đà nẵng trên đường tới Hội an duyên dáng, cảnh tượng. Nhiều binh sĩ Hàn quốc chiến đấu gần Đà nẵng, nhưng họ có thể khó khăn mới nhận ra quốc lộ 1A bây giờ. Trước kia là con đường nông thôn và thưa thớt, con lộ bây giờ là một dải xa hoa gồm những nơi nghỉ mát và những sân cù, một số được xây dựng bởi những tập đoàn của Hàn quốc. ít di khách tới những chốn này lại muốn viếng thăm Hà my, nếu thậm chí họ có biết về nó hay có thể tìm được đài tưởng niệm. Trong khi những nghĩa trang liệt sĩ nằm sát ngay đường lộ, đài tưởng niệm ở Hà my được đặt ở thật xa, khuất khỏi tầm nhìn. Người lái xe chở tôi phải lái qua hai lần trước khi tôi phát hiện được cái mái nhọn của nó. Để tới đài tưởng niệm từ con lộ, tôi phải xuống xe và rồi đi bộ qua những căn nhà trong làng và băng qua những đồng lúa. Trong mùa hè, dưới mặt trời đang trưa nóng bỏng, những đồng lúa khô khốc và mang màu nâu. Khi tôi lặn lội trên con đường đất tới một ngôi đền nhỏ có trang hoàng, trong một cái sân với những bức tường màu vàng, chỉ thấy đơn độc có một người nông dân trong đồng ruộng. Những cánh cổng kim loại màu xanh dương đã sút khỏi những bản lề, một cánh cổng dựng lên vách, còn cánh cổng kia nằm trên sàn sân. Một đài cao chiếm ngay trung tâm của chiếc sân vuông, với mười sáu cột trụ chống đỡ hai mái xếp tầng màu lục. Ở ngay giữa đài cao, một bức tường tưởng niệm nhớ lại tên những nạn nhân vào ngày 24 tháng Một năm 1968. Nạn nhân lớn tuổi nhất là một phụ nữ sinh năm 1880, và ba người ít tuổi nhất chết năm 1968, có lẽ còn trong bụng mẹ. Vô danh—tức là không có tên—thay vào chỗ những tên của họ. Tượng đài ghi danh 135 người “bị sát hại” nhưng còn về việc ai giết họ, tượng đài câm lặng. Dân làng muốn bi kí nói là lính hàn quốc sát hại dân làng. Các cựu chiến binh Hàn quốc, trả tiền cho đài tưởng niệm, không muốn thế.


*

KM-Sách ngoại giá nội

Gửi phản hồi