Kể thêm về Phó Đức Chính


Kể thêm về Phó Đức Chính

Nguyễn Vinh Phúc


Dường như tất cả những vị họ Phó ở miền Bắc đều có gốc là làng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Một số chi của họ này lên Hà Nội, đa số kinh doanh ngành thuốc Bắc. Họ đã mua nhà, mở hiệu ở phố Phúc Kiến (nay là Lãn Ông) và phố Hàng Cân ở bên cạnh. Phó Đức Chính (1907 – 1930) cũng quê ở Đa Ngưu.

Thân sinh ông là cụ Phó Đức Chân, sinh hạ ba nam một nữ, Phó Đức Chính là út, khi nhỏ có tên là Thục (bà chị tên Quy là tên hai vị thuốc), đi học mới đổi là Chính. Cụ Chân đã cho các con học vỡ lòng chữ Hán tới 2 năm, sau đó học ở trường Kiêm bị huyện Văn Giang, rồi lên Hà Nội học trung học ở trường Bưởi, sau đó ông anh là Phó Đức Ước thi đỗ vào trường Cao đẳng Canh nông (1922), đến ông em là Phó Đức Chính thi đỗ vào trường Cao đẳng Công chính (1925).

Suốt thời gian học ở Hà Nội, hai anh em trọ ở nhà người bác họ là cụ Đức Sinh số nhà 18 phố Hàng Cân. Trong dòng họ vẫn còn kể câu chuyện nói lên chí căm thù thực dân của cậu học sinh trung học trẻ tuổi Phó Đức Chính: trên bức tường của sân thượng, cậu vẽ một khuôn mặt thực dân và sáng sáng tập thể dục cậu đều đấm vào khuôn mặt đó. Khi đã là sinh viên cao đẳng, cậu thường nói với bạn bè câu châm ngôn về cuộc sống:
“Tố nhân bất khả hữu cao ngạo thái
Nhiên bất khả hữu cao ngạo cốt”.
Nghĩa là: Làm người không thể có thái độ cao ngạo (với mọi người), tuy nhiên không thể không có cốt cách cao ngạo.

Lúc này ở Hà Nội, phong trào tìm cách đánh đổ thực dân dâng cao. Sự kiện Phạm Hồng Thái hy sinh trong khi mưu sát toàn quyền Méc-Lanh ở Quảng Châu (Trung Quốc) đã thành nguồn động viên mạnh mẽ tinh thần yêu nước của thanh niên. Khi đó ở Hà Nội, những thanh niên có tâm huyết đang tìm một con đường cứu nước khác với nhiều bậc tiền bối. Một số tiếp cận với chủ nghĩa Mác thì đứng vào hàng ngũ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên rồi sau sẽ trở thành những đảng viên Cộng sản (như Nguyễn Phong Sắc, Trịnh Đình Cửu, Đỗ Ngọc Du,…). Một số không gặp chủ nghĩa Mác mà lại gặp chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên thì tập hợp lại thành nhóm Nam Đồng thư xã, hạt nhân của Việt Nam Quốc dân đảng (VNQDĐ) sau này.

Nguyên năm 1925, hai anh em giáo sinh trường Nam Sư phạm là Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài cùng một vài bạn bè chung chí hướng tổ chức ra một nhà xuất bản tên là Nam Đồng thư xã. Thư xã in các sách chính trị phổ thông như Cách mạng Trung Hoa, Cách mạng thế giới, Lịch sử Tôn Dật Tiên, Chủ nghĩa Tam dân,… là loại sách phổ thông lại bán giá bình dân nên có nhiều bạn đọc và hấp dẫn một số thanh niên, sinh viên. Nguyễn Thái Học, sinh viên trường Cao đẳng Thương mại, Hồ Văn Mịch sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm, Phó Đức Chính sinh viên trường Cao đẳng Công chính,… hay lui tới đây dần dà thành một nhóm tâm giao.

Đề tài họ thường bàn luận là các vấn đề mưu cầu độc lập cho đất nước. Và thế là ý tưởng thành lập một đảng chính trị hình thành, để rồi ngày Nô-en năm 1927, VNQDĐ ra đời tại Hà Nội, ngay tại trụ sở Nam Đồng thư xã. Nguyễn Thái Học được bầu làm Chủ tịch đảng, Phó Đức Chính là trưởng Ban Tổ chức, Hồ Văn Mịch phó Trưởng ban Ngoại giao,… Từ đó đảng này chủ yếu phát triển ở Bắc Bộ, đảng viên đa phần là công chức, trí thức thành phố, các hào lý ở nông thôn và binh lính ở các đồn binh Pháp. Do chưa chú ý kết nạp công nhân nên sinh lực không mạnh.

Lúc này Phó Đức Chính đang là sinh viên. Đến năm 1928, ông tốt nghiệp Cao đẳng, được bổ làm Tham tán công chính (lúc đó gọi là ông Tham lục lộ) ở Savanakhet (Lào). Dù cuộc sống ổn định, lương cao nhưng ông vẫn không từ bỏ lý tưởng cứu nước, vẫn tuyên truyền chống Pháp. Cho nên năm 1929, khi ở Hà Nội xảy ra vụ một nhóm đảng viên VNQDĐ ám sát tên chủ mộ phu Ba-danh, thực dân ra tay đàn áp thì mật thám bắt Phó Đức Chính đưa từ Lào về Hà Nội. Không có chứng cứ, chúng đành kết án 2 năm tù treo và bãi chức. Không nản lòng, ông lại tiếp tục hoạt động và đến năm 1930, khi VNQDĐ quyết định khởi nghĩa ở các tỉnh Bắc bộ vào đầu tháng 2-1930 thì Phó Đức Chính phụ trách đánh thành Sơn Tây. Song chỉ ở Yên Bái là nghĩa quân có hạ được đồn binh, nhưng sáng hôm sau (11-2) thực dân liền cho máy bay từ Hà Nội lên bắn phá đồn điền khiến nghĩa quân phải rút vào rừng và sau đó hầu hết những người chỉ huy bị bắt.

Phó Đức Chính chỉ huy cuộc tập kích thành Sơn Tây nhưng có kẻ phản bội báo cho Pháp biết nơi trú ngụ nên chúng sục tới bắt. Ở các tỉnh khác thì hoặc chưa kịp nổi dậy đã bị lộ hoặc đã nổi dậy song đều thất bại. Thực dân bắt được hầu hết các đảng viên chủ chốt, kể cả Nguyễn Thái Học. Đa số bị giam cầm, kết án. Trong thời gian bị giam ở Hỏa Lò, một nhà báo Pháp tên là Louis Rou-baud được vào ngục tiếp xúc với các chính trị phạm, sau đó viết thành sách nhan đề “Việt Nam tấn bị kịch Đông Dương” (Viet-nam – Tragédie Indochinoise), trong đó có kể về lần gặp Phó Đức Chính:

“Đó là một thanh niên trẻ 23 tuổi mà nhà tù đã làm ông gầy mòn đi… cái vẻ nhìn chân thực, thông minh đối với tôi không có gì là non trẻ. Phó Đức Chính đã theo ban Trung học, đã làm việc cho chính quyền Pháp với cương vị là một nhà chuyên môn về công chính. Nhưng ông có tầm vóc của một nhà lãnh đạo. Lần trước sau khi bị bắt, bị tù án treo 2 năm, ông vẫn là người phụ tá đắc lực của ông Học. Sau này, ông từng sống những tuần sinh động nhất, tự tay hoạch định đường lối tấn công và cũng chính ông đảm nhận chỉ huy tiến đánh thành Sơn Tây. Nhưng đó là một đêm bi thảm. Trước tòa án, ông rất có tư cách, không khoe mình mà chỉ nhận trách nhiệm về mình. Ông là người duy nhất từ chối ký chống án…”.

Nguyên ở Hội đồng đề hình (Tòa án đặc biệt), Nguyễn Thái Học và 39 người chỉ đạo trực tiếp cuộc khởi nghĩa bị kết án tử hình, trong đó có Phó Đức Chính, nguyên tắc là người bị kết án có quyền chống án. Ông Học thì ký để những người bị kết án khác ký theo, hy vọng một số thoát chết (quả nhiên sau khi bản án chuyển đệ lên Tổng thống Pháp, 27 người bị kết án tử hình đã được giảm án thành tù chung thân, chỉ còn 13 người giữ nguyên án). Và thế là ngày 17/06/1930, án thi hành tại thị xã Yên Bái, nơi địch bị tổn thất lớn.

Pháp trường là sân trại lính, 13 người lên máy chém, 2 người cuối cùng là Phó Đức Chính rồi đến Nguyễn Thái Học. Phó Đức Chính đòi được nằm ngửa để nhìn lưỡi dao hạ xuống. Lúc đó là 5 giờ 35 phút sáng ngày 17/06/1930, Phó Đức Chính 23 tuổi, Nguyễn Thái Học 28 tuổi. Tất cả 13 liệt sỹ được chôn cùng một huyệt ở chân đồi Cao.

Những người sáng lập ra VNQDĐ thực sự là những người yêu nước, có điều là đường lối chính trị và đấu tranh không chuẩn xác nên đã thất bại. Cho nên nơi an táng thi hài 13 liệt sỹ trên, nay thuộc phường Nguyễn Thái Học, thị xã Yên Bái đã được Nhà nước ta công nhận là “Di tích lịch sử cấp Quốc gia” tại Quyết định số 177/QĐ-VHTT của Bộ Văn hóa – Thông tin ngày 05/03/1990, trong đó ghi rõ là “Khu mộ Nguyễn Thái Học và các chiến sỹ hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái”. Sau đó chính quyền thị xã xây dựng tượng đài và tạo nên một khu quần thể tưởng niệm giàu tính mỹ thuật. Trên tượng đài, đứng giữa là hình tượng Nguyễn Thái Học và bên cạnh là Phó Đức Chính.

Sang năm 2010, chẵn 80 năm các liệt sỹ VNQDĐ đền nợ nước, mong rằng ở quê hương các vị, nếu con cháu có điều kiện thì nên có những hình thức lưu danh, như lập bia hoặc tu tạo những di tích tâm linh gắn bó với các liệt sỹ. Ví dụ ở Đa Ngưu đã sẵn có di tích Từ đường họ Phó thì nên tu tạo xây dựng theo hướng ghi công một người con anh hùng của dòng họ. Đó là việc rất nên làm và cần được chính quyền ủng hộ.


Nguồn: Tạp Chí Xưa Nay, số 340, 2009


*

để lại phản hồi