Ảnh hưởng Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt Nam


Ảnh hưởng Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt Nam

Thái Văn Kiểm


Ảnh hưởng Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt

Một thi-sĩ Tây-phương có khuyên rằng : « Chúng ta nên yêu cái gì không bao giờ thấy được lần thứ hai » (Aimer ceque jamais on ne verra deux fois). Ấy là trường hợp của nước Chiêm-Thành mà đến lúc không còn nữa, chúng ta lại càng luyến tiếc và yêu thương gấp bội.

Tuy ngày nay nước Chiêm-Thành không còn, văn hóa Chiêm-Thành vẫn còn và sẽ còn lưu lại mẩi mãi trên non sông nước Việt. Vì lẽ ấy, hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau kiềm điểm những ảnh hưởng văn hóa mà trải qua bao nhiêu thế kỷ, chúng ta đã chịu hoặc thừa hưởng của dân tộc Chiêm-Thành. Âu cũng là một cách tôn kính đề nhắc nhở đến công ơn của người xưa, không phân biệt chủng tộc, dù Chàm hay Việt, vì dường nào người Việt người Chàm ngày nay cũng đã bắt tay nhau cùng chung sinh sống dưới trời Nam.

CHIÊM THÀNH XUẤT HIỆN TỪ BAO GIỜ ?

Nước Chiêm-Thành từ nghìn xưa có tên là Lâm Ấp (Lin Y), nghĩa là « Xử rừng ». Theo Sử Tàu thì nước Lâm Ấp được thành lập năm 192 sau T.L., tức là dưởi triều vua Hiến-Đế nhà Hản (190-220) (Thủy kinh chủ). Người ta không biết rõ kinh đô xứ Lâm Ấp ở nơi nào, duy có nhà khão cô, R. A. Stein suy đoán rằng ở Văn-Xả, huyện Quảng-điền, tỉnh Thừa-Thiên bây giờ, mặc dù phần đông những nhà khảo cô khác thi cho rằng thủ-đô Lâm Ấp ẻ ở Trà Kiệu tức Sinhapura hay là Champapura, thuộc tỉnh Quảng-Nam bây giờ.

Danh từ Champapura là chữ phạn đề chỉ thành-phố (pura) của nước Champa. Danh từ này xuất hiện lần đầu tiên trên một tấm bia đá tìm được ở Mĩ-Sơn có ghỉ niên hiệu 579c tức là 657 sau T.L. Tuy nhiên, người Ẩn-độ hinh như đã nhắc nhỡ đến tên nước này tử lâu hơn : Nagara. Campa tức là nước Campa. Danh từ Campa là tên bằng tiếng phạn của một thứ hoa trắng mà chúng ta gọi là hoa Ngọc Lan (michelia Champaca L..). Nước Campa ở Ẩn-độ ngày xưa là một vương- quốc mà địa thế là tỉnh Bengale (Bhagalpur) bây giờ vậy. Hình như người Ả-Rập cũng cỏ nói đến một nước tện là Canf và nhà sử-họcPtolémée cũng đã ghỉ trong sách địa dư của ông tên một nước tương tự ở Đông Nam Á Châu, mà những nhà cồ học gản cho nước ,Champa.

Riêng về người Trung-Hoa thì ngoài đdanh-từ Lâm-Ấp ra, người ta còn gọi là nước Hoàn Vương bắt đầu từ năm 758 và nước Chiêm Thành bắt đầu từ năm 877. Cũng có sách gọi là Chiệm-Ba, Chiêm-phù- lao, Chiêm-bất-Lao, Chiêm-Tư và Hö-Tôn. Riêng về xứ Panduranga (Phan Rang, Phan Ri bây giờ), là một tiều-quốc có tính cách tự-trị, mặc dầu nằm trong lãnh-thồ của nước Chiêm Thành xưa, cũng được sử sách Trung-quốc gọi là Tân-chung-Long (Pin-Tong-Long) và Tân-Đà-La (Pin- Tở-Lo). Chính họ nhà vua xứ này đã ngự trị toàn xứ Hoàn Vương ; trong thởi kỳ này, thủ đô đóng tại Virapura hoặc là Rajapura, gần tỉnh ly Phan-Rang bảy giờ, ở vùng Hòa Trinh. Nơi này, trên bờ sông Viêu (Rrong Biuh) có nghĩa là Sỏng Thành, còn nhiều vết /tích một ‘ thành- trì xưa và một bia đá thuộc thế-kỷ VIII, gọi là bia Glai Lamov.

Đến thời kỳ Chiêm-Thành, thủ đô đã được đời ra Indrapura (Đồng Dương) thuộc tỉnh Quảng-Nam là linh-địa của người Chàm (Ama-ravati). Nhưng ở đây, thường có sự xung đột giữa người Chiêm và người Việt. Đến năm 982, Lê-Đại-Hành cử đại binh vào đánh lấy thành Indrapura và từ đó người Chiêm phải đời đô năm 1000 vào Nam đóng tại thành Chà-Bàn (Vijaya) mà người Trung Hoa gọi là Phật Thệ.

Tuy thế, sau nhiều cuộc xung đột với người Việt, nhất là sau khi Lý- Thánh-Tôn đánh Chà Bàn năm 1069 và Lê-Thánh-Tôn đánh năm 1470 người Chiêm phải rút lui xa hơn nữa, vào miền Panduranga, đóng đô tại Bai Chanar, gần Phan-Ríi, rồi tại Bai Đattinong hay là Bal Hanong, tức là Sông Lũy gần Phan-Thiết. Hai vị vua cuối cùng của người Chàm là Po Romé (1627-1651) và Pỏ Thốt (Bà Trành) mất năm 1692, được xem như là những vị lãnh đạo cuối cùng của Chiêm “Thành.

Tuy nước Chiêm Thành không còn mà người Chiêm Thành vẫn còn và ảnh hưởng của họ đối với nền văn-hóa của nước ta không phải là ít. Chúng ta sẽ lần lượt nêu ra đây những sự lên lạc và ảnh hưởng văn hóa giữa hai nước, nhất là khi mọi người đều chủ-trương phải chấn hưng những nền văn-hóa các nước Á-Đông, đặng đi đến một sự hiều biết sâu rộng hơn. giữa những dàn tộc cùng chung một lý-tưởng là bảo vệ nền văn mỉnh của Nhân loại. Chúng ta sẽ đi từ địa hạt tôn giáo, qua Văn Chương; đến Kinh-Tế và Mỹ-Thuật. Trong mỗi địa hạt, chúng ta sẽ khách quan nhận thức những điều hay, điều dở mà chúng ta đã thừa hưởng được của Chiêm-quốc, những cái gì có tính cách trường cửu, cũng như những cải gì chỉ có tính cách nhất thời mà thôi.

ẢNH HƯỞNG TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG

Người ta biết rằng tấm bia xưa nhất đào thấy ở Đông-Dương là một tấm bia Chàm. Bia này đào thấy ở làng Vỏ-Cạnh, (tức Phú Vinh), thuộc huyện Vĩnh-Xương, tỉnh Khánh-Hòa. Bia này ghi bằng chữ phạn (sacserit) từ hồi thế kỷ thư hai, hay ít nhất cũng từ đầu thế kỷ thứ ba, do một người kế nghiệp vua Cri Mara xây dựng. Ý nghĩa tấm bia này thấm nhuần giáo-lý nhà Phật ; cho nên người ta đoán rằng đạo Phật đã truyền bá đầu tiên ở nước Chàm, trước hơn cả đạo Bà La Môn (Brah-manisme hay là Hindouisme). Những đền Đồng-đương, Đại-Hữu, Mỹ-đức, đều thờ Phật› Đời sống của Hoàng-tử Siddhartn đã được chạm trồ rất tài tình trên những bức tường đả ở Đồng-dương. Còn nhiều nơi khác, người ta tìm thấy nhiều tượng Quan Ẩm (Avalokitecvara) và ngay ở Trà Kiệu, người ta cũng có tìm thấy một tượng A-Di-Đà (Amitabha).

— Đạo Bà La Môn thường được tôn thờ dưới hình thức của một dương vật, bằng đá, có khi tạc hình thần Civa. Thần Civa và vợ là Uma được tôn thờ khắp nơi. Riêng ở Tháp Bà Nha-trang, người ta còn sùng bải vị nữ- thần Po Nagar, tức là bà Chúa của xứ Kauthara. Việc phụng thờ đền Po Nagar đã đo người Chàm chuyển giao cho người Việt-bằng cách lập biên bản bàn giao đường hoàng. Ngày nay, số người Việt đến chiêm bải nơi này có lể còn đông hơn số người Chàm ngày xưa nữa..,

Ngoài những đền đài ra, Người Chàm còn đề lại những phiến đá lính ứng mà ta gọi là ông đàn, bà đàn (yan: linh ứng), theo truyền thuyết nếu đàn bà có mang đụng nhằm cũng có thề hư thai được. Lại còn những đống đá gọi là Cairn rải rác khắp nơi, cũng do người Chàm đề lại và theo cổ tục, mỗi khi đi ngang qua đống đá ấy, người người phải ném vào một cục đá, làm thành một vành tròn chung quan phiến đả lớn dựng ở giữa. Ngày nay, những người mê tín vào ngày rằm mồng một rũ nhau đến cúng viếng với hai con gà, năm chén cơm, nắm lá trầu và một chén rượu.

Ngoài đạo Bà La Môn ra, người Chàm còn theo đạo Hồi Hồi (do chữ Mahomet mà ra). Ở trên đất Việt-Nam, một phần ba người Chăm theo đạo Bà La Môn, còn hai phần ba theo đạo Hồi. Hai tấm bia tìm thấy ở miền nam nước Chiêm Thành cho biết rằng đạo Hồi đến đây vào khoảng 10951035 sau. T.I. và cũng do dảnh-từ ấy mà người Việt gọi người Chàm là người Hồi. Sự đị đồng giữa hai đạo giáo ấy là người Chàm theo đạo Hồi Hồi có tên Bani (chữ Ä-rập nghĩa là con) thì không ăn thịt heo và chôn người chết ; còn người Chàm theo đạó Bà La Môn có tên là Kaphit (chữ Ả-Rập có nghĩa là không trung thành : infidèele) thi không ăn thịt bò và đốt xác người chết.

Trong những tín ngưỡng do người Chàm truyền lại cho người Việt cỏ việc thờ cá ông voi. Sở đĩ người ta biết như vậy là vì việc thờ cá ông voi chỉ thịnh hành từ Đèo Ngang trở vào mà thôi, còn ở ngoài Bắc thì không có. Hơn nữa, người Việt là giống du-mục ở lục địa đi xuống, còn người Chàm gốc ở các hải-đảo Ả-Úc tràn lên. Họ là người gốc ở biền, chuyên môn về chài lưới, du-hải, đu-điếu chứ không phải du-mục. Lại nữa, ở xử Chàm còn nhiều bài ca có nói đến thần cả Ông tức là thần Sóng. Theo bài ca ấy thì ba người con vua K-Nam (Patan Gahlau) kết hợp với Thần Cả Ông đề ngự trị xử này. Khi vua Cả Ông xuất hành, tất cả các loài cá phải đi theo châu hâu. Khốn đốn thay cho những ai lấy đá liệng vào hoặc tìm cách bắt cá, vì những bịnh hoạn cực kỳ nghiêm trọng sẽ bắt họ. Vua Cá Ông nồi trên mặt nước như một cái phao ; đàng xa nhìn thấy màu vàng. Trong khi bão táp, vua Cá Ông biến dạng thành con Thiên Nga (cygne), ngự tại những cửa biền và những đïm-phả gần biền. Những người đi biền khi nghe tiếng trống thứ ba phải lập tức khấn vái, đề cầu xin phò trợ. Vua Cá Ông sẽ cứu vớt khỏi tai nạn, trừ những người độc ác vô thần.

Ngày nay, người Việt bắt chước người Chàm dùng một số cây cỗ trong việc cúng vải, như những cây sau đây. Thứ nhất là cây ngọc-lan, hoa trắng như ngọn bút lông, thường tröng chung quanh những chùa chiền, khi cúng thì kết lại thành xâu dài đề treo trên bàn thờ ông bà ông vải. Việc dùng cây cỏ chỉ (Saccharun spicatum L.) kết thành sợi giây cuốn trong những ngón tay của thầy phù thủy cũng là một di-tích chàm, Cây cỏ này tên chàm là Ralan, thay thế cho cây Kuca của Ẩn-Độ (Saccha- rum spontaneum L.) cỏ tính cách làm cho trong sạch và một khi quấn vào tay, tu-sĩ có thề làm những phép long trọng và kỳ-lạ.

Ở nước Chiêm Thành ngày xưa, còn có một thử cây mù người Chàm sùng bải là cây kraik, được xem như là vị thần che chở cho nước họ. Cây kraik này tức là cây lim, cây vắp, cũng có tên là thiết- lực-mộc (bois đe fer), hay là Mesua ferrea, L. (Guttifères), là một trong những nguyên nhân thần bí đã đưa nước Chiêm Thành đến sự diệt vong. Nguyên là vua Po Romé có ba người vợ : hai người Cao-Miên và một người Việt-Nam. Ba người này suốt ngày cứ ghen nhau, la ó rùm beng trong cung điện. Người vợ Việt bị yếu thế tưởng mình bị vua bổ rơi, mới giả bịnh rên xiết và truyền đốn cây kraik to lớn nhất thì may ra mới lành. Vua nghe lời mới truyền đốn, mặc dầu cả triều đình và bốn ý sĩ can dản nói rằng đó chỉ là bịnh tưởng. Một trăm cận vệ ra sức đốn cây kraik, nhưng mỗi vết thương đều khép lại ngay. Vua tức giận bên lấy riu bổ vào cây mấy nhát thì máu phun ra. Người ta nghe tiếng cây rên rỉ và không mấy chốc cây ngã xuống giữa vũng máu. Từ đó, nước Chiêm Thành đi đến sự diệt vong.

Trong các loại thảo mộc thường dùng trong việc lễ bái của người Chàm, còn có thứ cúc tần ô (Conyza indica, Bì.) đề rầy nước thánh, lá trầu và trái cau. Lá trầu tên Chàm là hala, tên Khmer là melu, tên Lào là phu, tên Mã-lai là vettila, tên khoa học là Piper betle L. là một món quý đề đâng lên các vị thần thánh. Trầu khi nào cũng đi đôi với cau mà người Chàm gọi là panong, Mã-lai gọi là adakka, Khmer gọi là sÌa, Lào gọi là mak, tiếng khoa học gọi là Areca catechu L. Hai thứ này hợp thành một món nhai rất thanh khiết vị có chất thơm, sát trùng, trị bịnh, rất thông dụng ở khắp các nước Đông-Nam-Á, kề cả Nam-đương và Nhật-Bồn.

` Người Việt khi còn ở lưu vực sông Dương Tử chưa biết ăn trầu cau, chính là trong lúc Nam tiến, tiếp xúc với những dân-tộc gốc ở hải đảo miền Nam, mới thâu dụng tập quản ăn trầu ăn cau, cho nên người Trung Hoa không biết đùng trầu cau. Hơn nữa, ngày xưa ở Chiêm Thành có hai phải qui tộc tranh giảnh quyền bính là phái Cây Cau (Clan de Aréquier) và phải Cây Dừa (Clan đu cocotier). Phái cây cau ở miền Nam, ngự trị miền Panduranga trong một thời gian rất lâu. Phái cây Dừa ngự trị ở miền Bắc, nhưng về sau dần dần cũng phải chạy vào Nam, hòa nhập với phải Cây Cau, đề cùng bảo vệ những mảnh đất còn lại.

Nói về ảnh hưởng tôn-giảo, chúng ta cũng nên nhắc lại rằng khi vua Lê Đại Hành sang đánh Chiêm Thành, có mang về một về cao tăng Thiên Trúc. Theo học-giả Trần Văn Giáp cứu sách Thiền Uyên Tập Anh có ghỉ rằng có một vị sư tên là Đàm-khí mất về đầu thế kỷ thứ 10, lúc sinh thời người nhập môn một vị sư Chiêm Thành đắc đạo. Cùng vào thời ấy, có một vị tên là Maha Mara, tổ tiên là người Chiêm Thành, sang ta lấy họ là họ Dương, tu ở Chùa Quan Ải, sau đi du phương các nơi, không biết tung tích ở đâu.

Sử chép rằng năm 1069, vua Lý Thánh Tôn bình Chiêm nhập thành Phật-Thệ, nhảy múa điệu lăn khiên (danse du bouclier) và đả cầu (volant) ngay tại sân rồng của vua Chế Củ (Prudravarman II), sắp nhập ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma-Linh, lại còn đưa về nước một vị sư tên là Thảo Đường, người Tàu sang học đạo một vị sư Chiêm Thành. Vua tấn phong làm Quốc-sư và chính Thảo- đường Thiển-sư đã lập nên phải Thiền-học (Đyana) Việt-Nam, mà sử sách còn ghi chép sự tích-từ năm 1060 đến năm 1205.

Xem như thế đủ biết rằng Trung quốc một mặt hướng về Chiếm Thành đề sưu tầm giáo lý nhà Phật, một mặt cử người sang Tây Trúc thỉnh kinh, như Đường Huyền Trang, tức Tam Tạng, vì Sử có ghi rằng Tam Tạng có nhắc đến tên một nước gọi là Maha-Campa (Đại-Chiêm).

ẢNH HƯỞNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN CHƯƠNG

Sự bang giao Chiêm-Việt trong nhiều thế kỷ đã mang lại cho đôi bên nhiều từ-ngữ mới mẻ mà chúng ta sẽ lần lượt bàn đến. Những từ-: ngữ này có thề là những danh từ thông dụng trong đời sống hàng ngày, cũng có thê là những địa-đanh (toponyme) mà ngày nay đã Việt-hóa :

Trong số những danh từ thông dụng, có những chữ hai bên giống nhau, như chữ bởi của ta đồng nghĩa với chữ bata của Chàm, tức là cải bát, cải vại đựng nước khi làm lễ rửa những tượng đả cho trơn và láng. Có những danh từ khác như cù-Ìao là hòn đảo, chỉnh là chữ Xuiau mà ra (người Mã-Lai gọi là Poulo). Chữ sœnpof của Chàm có nghĩa là cái váy, mà đàn ông dùng ; còn đàn bà thì dùng cái sarong, cũng như ở Lào và Cao-Mèn. Chữ Yan, gang của Chàm cỏ nghĩa là Thần Thảnh, linh thiêng sang Việt-Nam ta cũng có nghĩa tương tự, khi chúng ta nói Ông Đàng Bà Đàng, đề chỉ một bức tượng đá hay một phiến đả linh ứng. Chữ Tani là tai, chữ (anin là tay. Chừ mặt của ta có lề do chữ raía của Mã-lai mota của Chàm, cũng có nghĩa là mặt.

Một số chữ ngoại quốc khác đã di qua nước Champa đề đến nước ta. Ví dụ như chữ Bụt là Phật là do chữ ba-tu But có nghĩa là tượng Phật mà ra. Còn chữ ba-tu Kedeh có nghĩa là chùa miếu đền, ghép với chữ But thành ra Pagoda là cải chùa thờ Phật vậy.

Một số tiếng nóii của người xử Huế ah nỉ, tê, mô, răng, rửa, hình như cũng có chịu ảnh-hưởng của Chiêm-Thành (Chữ chàm Ni là này, đây — Chữ Catê là kia).

Nói về địa-danh, những ai quen sống ở miền Trung, nhất là ở miền Nhatrang trở vào Phan-thiết, đều nhận thấy rất nhiều danh từ Chàm .đã bị Việt-hóa.

Cứ đi từ Đèo Ngang trở vào thì những địa danh Chàm đã mất đi nhiều, bị xóa nhòa theo gió bụi thời gian, chỉ còn lại một vài danh-từ như Thành Lồi (tức là Thành Hời) ở làng Nguyệt-Biều, tỉnh Thừa-Thiên, mà một số sử-gia cho là thành Khu-Túc (KinaSou) của”quận Nhật Nam (Je Nan) ngày xưa; hoặc là xa hơn nữa, những hòn Cù Lao Chàm ở ngoài khơi vịnh Đà Nẵng mà hình như hỏi đầu kỷ-nguyên T.L, _Mä-Viện có dựng tại đây một vài trụ-đồng, đề biều-thị uy-quyền nhà Hản.

ở Quảng-Nam, còn có những làn như Thanh-Chiêm, ở Quảng-Ngài cỏ cửa Cô-Lủy, tức là thành xưa, những địa danh ấy khòng nhiều thì ít cũng nhắc nhở một thời oanh liệt của những người đã đến trước chúng ta.

Vào đến Binh-Định, Phú-Yên thi chúng ta gặp di tích của thành Chả Bàn, tức Đỏ-Bàn, tức Phật-Thệ, hải cảng Thị-Nai, tức Crí Banoy, tức Qui-Nhơn bây giờ. Nhưng đèo Cù-Mông, Varella (Đại-Lãnh), Tu- Bông, Cö-Mä, Ninh-Mã ở giáp giới hai tỉnh Phú-Yên, Khánh-Hòa là những địa đanh có âm thanh Chàm.

Từ Khánh Hòa trở vào, những địa đanh này càng nhiều và càng rở rệt hơn. Nào là đèo Rotuong, đèo Rủ Rỳ, nghe đã rợn gáy, chưa kề cọp Khánh- Hòa, ma Bình-Thuận !

Và đây NHA-TRANG, một danh từ bí hiểm nhất: Có hai thuyết đảng đề ý! đề cắt nghĩa danh-từ này. Theo nhà cö học A. Cabaton, thì có lẽ Nha-trang đo chữ phạn yathakramam (có nghĩa là thứ-tự, lần lượt),chuyển sang tiếng (hàm thành ra /a-di-krom (ja : nước, dì là của, krom : tre), nghĩa là nước tre (suc de bambou), Theo ý tôii, cùng có thể rằng hai chữ Na-Thran, do hai chữ Nagura #authara kết lại (Nagara : xứ ; Rauthara : tên Chàun của vùng Khánh-Hòa),

Vào đến Ba-Ngôi, chúng ta gặp vịnh Cam-Ranh, cũng là một danh từ Chàm mà chúng ta Việt-Hỏa thành ra Cam-Linh, Cam-Lâm,  Cứ theo con đường Quốc Lộ số 1, chúng ta rời miền Kauthitra đề đi đến miền Panduranga, tức là Phan Rang vậy. Người Trung Hoa phiên âm miền này là Tân Đà lúa (Dín To Lo) hoặc là Tản chung Long: (Pin Tong Iong). Đi qua rừng dừa Hiệp Mỹ, chúng ta đến Karom, qua những ga xe lửa tên là Bà Râu, Ba Láp rồi mới đến tỉnh ly Phan Rang. Tử đây trở vào di tích Chiêm Thành cũng khá nhiều. Địa-dành có âm thanh Chàm cũng còn nhiều như Cà Ná, là nơi ngày nay sẵn xuất rất nhiều muối và ngày xưa, hỏi thế kỷ thứ 16 là nơi vua chúa Chăm săn bắn voi, cọp, tê giác. Phía ngoài bờ biền là mũi Padaran, còn ngoài khơi là Pouilo Cecir dc Terre cũng là một đanh từ ngoại bang.

Vào đến địa-phận Bình Thuận, chúng ta gặp ga xe lửa Nhà Me, tức là Palai Ea Moemih (Làng Nước Ngọt), vì nơi này có suối nước nóng. Rồi đến Phan Ri (là do chữ Parik), thủ-phủ của chứa miền Cây Cau đã ngự trị xử Hoan Vương một trăm năm (758-850). Từ Phan Rí trở vào thì có Mũi Né, Phan Thiết (tức Manthit), Phố-Hải (tức Pajai) là nơi còn trông thấy những ngọn tháp Chàm ở cực Nam Chiêm Thành.

Nói về:ảnh hưởng Chiêm-Thành trong văn chương Việt-Nam, chúng ta có thê nói rằng một số truyện có-tích như truyện Tấm. Cảm, truyện Thằng Cuội ngồi gốc Cây Đa, truyện Dạ Soa ở sách Lĩnh-Nam chích quái (là từ thế kỷ thứ 14) và truyện Chúa Ôn, trong Truyền Kỳ Mạn Lục (làm từ thế kỷ thứ 16) cũng mượn ở truyện Ramayana của người Ấn Độ truyền sang Chiêm-Thành. Tôi chỉ xin kề lại truyện Thằng Cuội theo người Chàm, như sau : Một người đàn bà đi đạo trong rừng giết một con rắn con, rồi ngồi đợi mẹ rắn về xem nó làm thế nào. Rắn mẹ về thấy con chết mới bỏ đi tìm cây « phun jrai »e tức là cây đa của ta (Fibus Bengalensis L.) (Cây này ở Ấn độ người ta thường nấu thành nước thuốc đề bằng bó các vết thương). Rắn mẹ nhai mấy lá phun vào mấy rấn con, tức khắc rắn con hồi sinh. Thấy như vậy, người đàn bà mới bẻ một nhành lá jrai, đem về trồng ở sau nhà. Một ngày kía, trước khi ra đi, người đàn bà dặn con cái không được đái trên cây đa, vì nếu phạm lỗi ấy, cây sẽ biến mất. Bầy con muốn thử xem cỏ thật không, mới rũ nhau đái, Khi bà mẹ trở về thi thấy cây đa bổng nhiên bay lưng lửng lên trời. Bà mới níu cây lại, nhưng cày vẫn bay mang theo bà ấy và một con chó đen. Bây giờ, người ta còn có thể trông thấy bà ấy ở trên cung trăng. Người Chàm tôn thờ và gọi là Paja Yan (Bà Chúa linh thiêng, Khi nào mắt trời đi ngang trước mặt thi bà ta quỳ lạy và do đó sinh ra nguyệt-thực.

Sự giao thiệp với Chiêm Thành, nhất là khi Công chúa Huyền Trân kết duyền với vua Chế Mân, đã là một cơ hội cho dân ta chế riễu với những cầu ca đao chua chát:

Tiếc thay cây quế Châu Thường,

Để cho người Mọi người Mướng nó leo.

 

Con vua lấp thằng bán than,

Nó đưa lên ngàn cũng phải di theo.

 

Hoài cành Ngô cho cú đậu

Hoài bột lọc cho ngâu vầy

 

Tiếc thay hạt gạo trắng ngần,

Đã vo nước đục lại vần lửa rơm.

Cũng có người cho rằng thí ca Chiêm Thành cũng cho ta thể song thất lục bát, nhưng theo ý tôi thì không phải mình bất chước người ta nrà có lẽ người ta đã bắt chước mình, ví dù sao về mặt văn chương, chúng ta cũng văn hơn người Chiêm Thành về phẩm và lượng. Huống hồ, từ trước đến nay, thể thơ ấy là đặc biệt của Việt Nam, bởi vậy chúng ta mới tạo ra từ nghìn xưa một kho ca-dao vô tận mà các nước khác đều cho là phong-phủú vào bậc nhất.

ẢNH HƯỞNG VẺ KINH TẾ XÃ-HỘI

Về hai mặt kinh-tế và xã-hội, chúng ta cũng đã chịu nhiều ảnh- hưởng của Chiêm-Thành. Là một dân tộc sinh sản rất nhiều và rất nhanh, chúng ta luôn luôn cần khai khần đất đai đề sinh sống.- Vì vậy, chúng ta không những cần đất mà cần nhân công và kỹ-thuật, Một số những nhân công ấy do người Chàm cung cấp.

Sử chép rằng năm 1044, khi vua Lý Thánh Tôn bình Chiêm trở về, có mang theo 5.000 ngưới Chàm để khai khần trấn Vĩnh-Khang, giáp tỉnh Ninh Bình Thanh Hóa bây giờ. Dân di-cư này chia ra thành nhiều hương, mỗi hương mang tên Chiêm để cho họ khỏi nhớ quê hương.

Đến đời Lê Thái Tôn (14311142), có người Chiêm tên Phạm-Ất dẫn một bọn chừng 300 người sang quy thuận và được phân chia đi dinh-điền khắp các nơi.

Đến đời vua Lê Thánh Tôn (1460-1307), đúng năm 1470, sau khi mất thành Đồ Bàn, vua Chàm là Trà Toàn và vợ con được đưa về Thăng Long, cho ở ngoài cửa ô Báo Khánh, có lẽ ở vào cửa Nam Hậu Giảm, gần phường Bích Câu.

Cử theo sử-gia Trản-văn-Giáp, thì ở Bắc-Việt, còn nhiều nơi khác do dân Chàm khai khẩn, như (rại Nhật-Tảo, tức Nhật-Kiều, gần Tây- Hồ, làng Nhan-Hỏa, cách tỉnh-ly Hà-Đông 20 cảy-sổ, các trang trại ở đồn Yên-Định, tiếp giáp huyện Căm-Thủy, các dinh-trại doanh điền của họ Võ rãi rác 38 nơi `’ở vùng Ninh-Bình, Thanh-Hóa. v.v..

Theo sách Vân Đài Loại ngữ của Lê-qui-Đôn, thì « Lúa của nước Chiêm ở ta, hạt trắng cấy về mùa nực…» Theo Nam Sử Tập Biên của Vũ Văn Lập thì « Nước ta liên tiếp với Chiêm Thành, được nhiều giống ‘thóc ở Chiêm mang sang, cho nên lúa cấy mùa nắng, có nhiều giống mà gọi là lúa Chiêm, chừng tất cả có 35 thứ…, nhưng đại khái có hai giống thông dụng là lúa chiêm hầm và lúa chiếm dự…» Theo sách Tương Sơn Đã Lục, thì «vua Chân Tôn nhà Tống lưu ý đến việc thóc lúa, nghe nói nước Chiêm “Thành có giống lúa ưa cấy về mùa nắng, khoảng năm Đại Trung tương phù (1008-1018), sai sứ đem tiền sang Chiêm Thành mua được ba vạn hộc đem. về làm giống, từ đó nước Tàu mới có thứ lúa gọi là lúa Chiêm.

Ngoài giống lúa Chiêm ra, có lẽ chúng ta cũng đã chịu ít nhiều ảnh hưởng về kỹ-thuật khai mương đắp đập, dẫn thủy nhập điền, vì ngày nay người ta còn thấy nhiều vết tích những đập nước xưa của Chiêm Thành. Riêng về tỉnh Ninh-Thuận, có hai cái đập Nha-Trình và Ò-Câm được nhà cầm quyền Việt-Nam tu bổ lại đề dẫn nước vào mười ngàn mẫu ruộng miền Phan-Rang.

Đến như nghề làm ruộng muối, suốt miền, duyên hải Trung-Việt, rải rác khắp nơi, từ Sa-Huỳnh đến Đề-Gi, từ Hòn Khỏi đến Cà-Ná, đâu đâu cũng thấy ruộng muối ở ngay những chỗ người Chàm ngày xưa khai thác, để nhật dụng và trao đổi hàng hóa với đân miền Thượng và Lào.

Về lâm-sản, nước Chiêm Thành xưa đã nồi tiếng khắp thế giới, với giống trầm hương và kỳ-nam. Trầm-hương là thứ hương chìm, tìm thấy trong thản cây gió Bầu (Aloexylụm agallochum Lour., hay là Aqui-laria agallocha Roxb.). Thứ trầm nồi gọi là sạn-hương. Gòn kỳ-nam là thứ lõi tràm cô đọng rất nhiều dầu. Trầm và kỳ-nam là những sản-phầm đặc biệt của Chiêm-Thành. Các nhà đi buôn và thám hiềm Tây Phương thường đến Chiêm “Thành đề trao đổi mua bán với giá rất đắt. Công dụng của nó thường đi đôi với việc cúng vái trong các chùa chiền miếu vũ. Có thề nói rằng trầm hương và kỳ-nam là tiêu biều cho tâm linh và tôn giáo.

Ngày xưa, vua Chàm phải cống tiến cho vua Việt và vua Tàu một số trầm hương và kỳ-nam hảo hạng. Việc tìm kiếm trầm thương ngày trước được giao phó cho một tù-trưởng Chàm, danh-chức là Po Gahlun, Gahun, Gahla, Gahlau tức là Chúa trầm-mộc, tù-trưởng làng Palei Palap hoặc Palam (tên Việt là An-Nhơn), ở phía Bắc Phan Rang 10 cày số. Ông này chỉ huy một tốp 16 người kani, hoặc kuni tức là người tìm trầm mộc, Những người này có nhiệm vụ tròng coi những người thiểu-số khác, thuộc các bộ lạc Uran Giai, tức là Raglai (có nghĩa là người rừng) do một Pavak điều khiến, trong việc tìm trầm mộc. Họ được hưởng quyền clủa thứ gỏ quỷ khi tìm được. Trước khi xông vào rừng, họ phải làm lễ cúng các vị thần như Po Klong Garai, Po Romé Pồ Nogar Dara (con gái của Po Nagar) và Po Nogar Hamu Kut. Bốn vị thần ấy đỡ đầu cho họ được kết quả tốt. Những đồ cúng lễ gồm có một con dê, năm bát cơm, mười quả trứng và một bát canh thịt dê. Lễ cử hành nhằm ngày tốt (harai cjam) trong tuần, ,tức là ngày thứ nhất, thứ tư và thứ sáu trong tuần.‹

Xong lễ, những người đi tìm trảm mộc khởi hành dưới sự hướng dẫn của Gahla và Pavak. Trong khi đi trong rừng, cấm nói chuyện, vì ngưới Châm tin rằng một tiếng động có thể làm bay hương trầm mộc.

Ngày trở về, họ lập đàn cúng vị nữ-thần Po Bịa Binon, che chở cày trầm-mộc, đề tỏ lòng tri-ân. Rồi lần lượt, họ phải đi hết thẩy 4 nợi có tháp thờ 4 vị nói trên, đề chiêm bái một lần nữa., Mỗi một lễ đều phải hạ một con trâu.

Ngoài trầm mộc ra, người Chàm còn đề lại cho. chúng ta, trên giang sơn ‘cũ của . họ, một số hòn đảo và mồm đá mà trọng hang có rất nhiều tổ yến. Trên toàn cầu, người ta nhận thấy chỉ có ở hải phận Champa ngày xưa tức Trung Việt ngày nay là có.tổ chim yến thứ hảo hạng mà thôi. Từ nghìn xưa, tổ yến là món ăn quý nhất và có lẽ có nhiều chất bổ kỳ lạ mà khoa học chưa phân chất một cách thấu đáo. Một điều nhận xét là giống chim yến có máy radar hướng dẫn trong hang hóc tối om ; giống chỉm yến bay nhanh hơn gió và khi chết không hôi. Lại có người cho rằng trong tổ yến có chất: thơm của nhựa cây trầm mộc, hai thứ ấy thưởng sống cùng một khu vực. Cũng có thứ yến đỏ hoe như quả cam Xã đoài, mà người ta gọi là yến huyết, và được xem như là bổ nhất vì có nhiều chất sắt.

Nước Chiêm ngày xưa cũng có tiếng về những khoáng chất như vàng mà họ gọi là mah, nhất là ở Bồng-Miêu, mà sách sử Trung-Hoa thường có nói đến. Có lẽ người Chàm cũng đã truyền cho tá nghề đãi vàng ở các mỏ quặng. Trong lúc đào các đi tích Chàm, những nhà khảo cổ có tìm thấy rất nhiều đông tiền vùng và tượng Phật, Thánh bằng vàng, Nhờ đó, người ta được biết rằng. kỹ-thuật đãi vàng, nấu vàng và khẩm vàng của người CHàm ngày xưa đã tiến đến một trình độ khá cao.

Ngoài những mỏ quặng ra, nước Chiêm Thành còn đề lại cho ta rất nhiều suối nước nóng. Cái suối quan trọng nhất là suối Vĩnh-Hảo, cây số 276 đường Quốc lộ số 1. Ở dọc bở biển, nhiều suối nước nóng ở trong bãi cát phun ra. Một cái suối mạnh nhất và nhiều nước nhất phun ra sôi sùng sục, nhiệt độ 30, đem ra phản chất thì thấy là một thứ nước bicarbonatée sodique, tương tự như nước suối Vichy hoặc là Vals ở Pháp.

Theo truyền thuyết, hình như hồi đầu thế kỷ thử 14 (1306), Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) có đưa Huyền Tràn Công Chúa vào đây để tắm gội. Gần nơi này, lại có một rừng mai rộng lớn, nở hoa quanh năm, thật là một cảnh đẹp hiếm có mà các vua Chàm đã biết tận hưởng, nhưng không biết giữ gìn nên chỉ phải mất nước. Âu cũng là một bài học cho những’ kẻ đến sau.

Gần Vĩnh-Hảo, ở cây số 257, có một nơi gọi là Nha Mè, tức là Palei Ea Moemih, cũng có một suối nước nóng. ở đây người ta không dùng nước, nhưng lại dùng thứ «cát lội», tức là một khoảng chất do sự cô đọng nước nóng hai bèn bờ suối, phân chất ra là một thứ diễm sinh (torre savonnifèere) mà người trong Nam thưởng dùng đề gội đầu cho sạch tóc.

Người Chàm lại dùng thứ cát lồi này đề chế một thứ nước gọi là «ea mu » dùng đề tắm gội những bức tượng đá cho trơn và sạch. Ea Mu là nước thử ba mà thôi, còn hai thứ nước kia là «Ea GahÌa» (nước trầm) và «Ea Krvoc»-tức là nước Chanh (Citrus acida Hort.). Gần Phan Ri, là làng Palai Baplom, cũng có một suối nước nóng sinh ra thứ «cát lồi » phản ,chất là Carbonate de chaux. Các loại suối này đều gọi là suối diệm (source incrustante).

Ngày nay, Chính-phủ hợp tác với Tư-nhân đã khuếch trương kỳ- nghệ khai thác nước Vĩnh-Hảo, cho vào chai có nhãn biệu và lưu dùng khắp nước. Còn lại trong nước gắn 100 suối nước nóng khác, phần nhiều đã được phân chất, lăn lượt cũng nên khai thác, vì là mối lợi thiên nhiên rất lớn cho chúng ta.

Về phương diện xä-hội, một số tập quán của người Chiêm hình như đã xảm nhập phong tục nước ta, như việc để cao vai trò của phụ- nữ. Chúng ta biết rằng theo luật Hồng-Đức do vua Lê-Thánh:Tôn bạn bố, thì nam nữ đều được hưởng quyền chia gia tài ngang nhau. Có lẽ đây là ảnh hưởng chế độ mẫu hệ còn tồn tại của người Chiêm-Thành chăng ?

Về phương diện nhân chủng, giống người Việt từ Đèo Ngang trở vào một số khả đông đã pha máu người Chàm, càng đi vào bao nhiều, cảng nhận thấy sự pha trộn ấy bấy nhiều, Đại khái, người phương Bắc thì đầu vuởng, (brachycépbale), vai tròn, tóc thẳng và lép, trần cao, môi mỏng, nước da bảnh ít bột lọc. Ấy là giống thuộc về nhành Mông-Cô miền Nam (Mongoloide Sud). Còn người phương Nam tức là các giống từ hải-đảo tràn lên (Indonésions, Mélanesiens, Polynésiens) thì đầu dài (dolichocephaule), vai ngang, tóc quản và tròn, trán thấp, môi đày, nước da bánh mật hoặc bảnh iL lá gai. Người phương Bắc ưa ngồi xếp bàn, người phương Nam ưa ngỏi chồm hỏm. Giống người phương Nam từ các hái- đảo đí-dàn lên lục địa theo chiều rẻ quạt (migrations en éventail) đến tận châu Úc, chàu Mỹ, Nhật-Bổn và Phi Châu. Giống người phương Bắc từ lục địa Á-Chảu tiến về Nam cùng theo chiều rẻ quạt, nhưng ngược lại, nhờ những thung lũng và lưu vực các sông lớn, như Dương-Tử, Hồng-Hà, Cứu-Long, Ménam, Irraouaddy, v.v… Hai làn sóng rẽ quạt ấy đã chạm nhau, dung dưỡng nhau, hoặc chỉnh phục nhau và riêng về miền Đông Nam Châu Á, chúng ta có thể nói rắng giống người phương Bắc đã thàu được nhiều thẳng lợi trên con đường Nam tiến.

ẢNH HƯỞNG VỀ MỸ THUẬT

Nói về ảnh hưởng Mỹ-thuật của Chiêm-Thành, chúng ta sẽ bàn qua về những ảnh hưởng trong (ạo-hinh-thuật (arts plastiques), như kiến-trúc và điêu-khắc, trong ca-vũ-nhạc Việt-Nam.

KIỂN-TRÚC.— Đại khái kiến-trúc của người Chàm chỉ hướng một mục đích phụng-sự Tôn-Giáo, nhất là đạo Bà-La-Môn. Bao nhiều tháp, điện xây cất phần đông chỉ đề thờ thần Civa, những biến dạng của thần ấy và những thần thánh địa-phương. Bao nhiêu tiền của, vật liệu, tài năng và nhân công đề sung vào một việc xây dựng đền đài cho những kẻ đã khuất hoặc chỉ có trong trí tưởng tượng, còn nhà cửa của người đương sống thì quả ư đơn giản. Dân tộc ấy thường sống với dĩ-vãng và quen thóii nhìn lui ; trái lại, người đản Việt thường bâng khuâng về tương lai nên hay nhìn tới. Quan niệm đời sống của đôi bên khác hẳn và đó là một yếu-tố quan trọng cho sự tồn tại của dân-tộc ta.

Những tháp Chàm còn lại hiện rải rác khắp miền duyên-hải Trung-Việt. Tháp cực Bắc còn lại là Tháp Linh-Thái ở gần Cao-Hai (Thừa-Thiên) ; tháp cực Nam là tháp Phô-Hai (tức Pajai) ở gần Phan- Thiết. Ở chính giữa, còn lại những tháp và. đền ở Trà-Kiệu, Đông- Dương, Mỹ-sơn (Quảng-Nam), Chánh-Lộ (Quảng -Ngãi, Tháp Bạc, Thấp Đồng, Tháp Ngà (Bình-Định), Nhạn-Tháp (Phú-Yên), Thảáp-Bà (Nha- Trang), Tháp-Chàm, Tháp Hòa-I.ai, Thảp Po. Romé Ninh-Thuận). Những tháp và đền này xây toàn bằng gạch nung, không có vôi ở giữa. Người Chàm chỉ phết một lớp đầu rải, tức đầu lòng (Diptérocarpus Crispalatus L.), là một thứ cày thân to và rất cao. Người ta có thể thấy rất nhiều cây dầu rái, trước một quận Suối Dầu, cách Nha-trang 25 cây số, trên đường Quốc-Lộ. Muốn lấy dâu rải, người tiểu-phu khoét nhiều lỗ lớn bằng trái dừa ở gốc cây, rồi đốt lửa vào đó. Lửa đốt lim nóng. thân cây rút xuống và chảy ra lỗ qua ngày hỏm sau.

Một điều đặc-biệt thứ hai của kiến-trúc Chàm là những -vòm không xây theo lối La-Mã (voute romaine), nghĩa là gạch xếp rẻ quạt (assises đe claveaux convergeants), mà lại xây theo lối xếp gạch lôi ngang cho đến khi gặp nhau (cncobellements successifs). Cách này cũng có lợi mà cùng có hại. Có lợi là cái khung cửa ít khi bị nóng ra mà sa đọa ; cái hại là không thể xây những vòm to lớn được.

Lối kiến-trúc này đã được áp dụng một phần nào tại Chùa Bảo- “Thiện về đời Lý, do vua Lý-Thánh-Tôn sai thợ Chiếm-Thành làm ra, Ngoài ra, ở Lý-Nhàn tức Phủ-Lỷ, tỉnh Hà-Nam, còn có một cái đền thờ Cung-phí Chàm My-È, trong «Tam Cung» cửa vua Sạ-Đầu (Rudravarman II), một liệt-nữ đã giữ lòng trinh-tiết bằng cách nhảy xuống sông Lý- Nhân mà tự vận, nhất quyết khống chịu vâng lệnh vua Lý-Thánh-Tôn đòi nàng sang hầu thuyền rồng. Gần đền, người ta còn thấy một nơi gọi là Lăng Bà Chúa, tức bà My-E.

ĐIÊU-KHẮC.— Ở Bắc-Việt, còn rất nhiều di-tich điều-khắc hoặc do người Chàm hoặc bắt chước của người Chàm, nhất ở các đền đài thờ vua, quan đời Lý, Trần, Lê. Ở những nơi này, người ta thường thấy tượng người Chàm bằng đá, chân quỷ, hai tay chắp phía đàn trước, bụng phệ, gọi là phống (orant).

Sau khi vua Lê-Thánh-Tỏn bình Chiêm, người ta xảy nhiều đền đề thờ vị anh hùng dân-tộc ; trong mỗi đền thờ, thường có hai ông phống đá hình đạng như đã tả trên kia, đang quỳ trước bàn thờ vua, như đề khấn vải và tổ bày sự quy-thuận hoàn toàn của một dân-tộc chiến-bại.

Người ta cũng nhận thấy những ông phổng bằng đả ở đến Lý Bát Để ở làng Đình-hảng (Bắc Ninh), làm từ đời Trần, ở lãng quận-công Nguyễn-Diễn, cạnh chùa Lim cũng có tượng phống đá, vì ông này có công đi đánh Chiêm Thành. Tượng phống nào cũng bụng phệ, mắt sâu, có giày thắt lưng sơ sài, mà Lê quý Đôn cho là người nước Ngu-Hống hay là lực-sĩ Chiêm-Thành.

Ngoài ra các nhà khảo cồ cũng nhận thấy ở ChùaThầy, tức chùa Thiên-Phúc (làng Thụy-Khê, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây), thờ vị sư Từ Đạo Hạnh, có sang Thiên Trúc thỉnh kinh, sau về tu tại đây rồi hỏa kiếp thành vua Lý Thân Tôn (1128-1138) hai tượng phỗng đá, một cải bệ đả chạm trồ hình quỷ quải theo lối Chàm, tất cả di-tích này đều do thợ Chàm bị bắt trong thời chỉnh chiến.

Nói tóm lại, về nghệ thuật kiến-trúc và điêu-khắc, chúng ta phải công nhận rằng, đân tộc Chiêm-Thành đã tiến đến một trình độ cao hơn đân-tộc Việt-Nam, vì họ quen thuộc với nghệ thuật đá, còn ta thì chuyên môn về nghệ thuật gỗ (civilisation du végétal). Tuy, nhiên, kỹ-thuật chạm-trö trên vàng bạc chưa chắc người Chiêm Thành đã giỏi hơn chúng ta, mặc đầu ngày nay chúng ta còn có thể chứng kiến cái kho báu của các vua Chàm. Kho này hiện đề tại một nhà là trong rừng thẳm, xứ Dran, thuộc tỉnh Djiring, do người miền Thượng phụ trách gìn giữ. So với bản kê lập 1005, kho bảu này đã bị thất lạc rất nhiều. Ngày nay, không còn bao nhiêu đồ vật, như gươm kiếm áo mão, đựng trong mấy cải rương gỗ bị mọt ăn, mà hàng năm người Chàm chỉ mang ra một vài lần đề cúng vái những vị vua xưa.

ÂM NHẠC, — Về phương-điện âm-nhạc, chúng ta đã chịu ảnh hưỡng rất lớn của âm-nhạc Chiêm-Thành về cả hai mặt : ca vũ điệu và nhạc-khí. Đại-khái, âm-nhạc ta có hai điệu : điệu Khách và điệu Nam. Điệu khách là những điệu từ phương Bắc tức Trung Hỏa mang vào mà chế-biến ; điệu Nam thì chịu ảnh hưởng của Chiêm-Thành.

Trong sử ta, có chép nhiều sự-kiện đã giúp cho việc cấu tạo nên quốc nhạc Việt-Nam qua những điệu Nam. Chẳng hạn như năm 1044, vua Lý-Thái-Tôn (đi đánh Chiêm-Thành, kéo quân hạ thành Phật-Thê, bắt các thần thiếp vua Chiêm là Sạ-Đầu và chọn những người cung nữ giỏi múa hát, bắt diễn khúc Tây-Thiên, mang về cho ở trong cung, năm sau làm nhà riêng cho bọn nữ-nhạc ấy ở. Đến đời Lý-Thánh-Tôn (1060), bắt bọn nữ nhạc Ấy biều-diễn các khúc Chiêm-Thành rồi tự bắt chước phổ vào âm nhạc ta cho nhạc công đánh, Đến năm 1202, vua Lý-Cao-Tôn «có lệnh sai nhạc công chế các khúc nhạc đặt tên là Chiêm-Thành-Âm, tiếng nhạc thanh oan, ai-thương, khiến ai nghe thấy cũng phải châu mày rơi lệ». Ấy là thứ nhạc của những dân-tộc miền biển, chuyên nghề du điếu, phải sống bình bồng trên mặt nước từ năm này qua tháng nọ, tương-lai mờ-mịt giữa bề khơi, ấy cũng là khúc nhạc của những kẻ mất nước, đau lòng trạnh nhớ quê hương phút chốc đã tan tành như mây khói. Trái lại nhạc phương Bắc, do những bộ-lạc du-mục kiến tạo nên, đêm thì cắm trại đốt lửa ca hát vui chơi, ngày thì phi ngựa đường xa, hiên ngang với núi cao đồng rộng, lục lạo vang rền khắp bốn phương.

Để dung hòa, hai thứ nhạc Nam và Bắc ấy, vua Tự-Đức và một số nhạc công danh tiếng thời bấy giờ, đã cố gắng chế ra những bản nhạc êm ái, nhẹ nhàng, bình-thản, không vui không buôn, ấy là điệu Tử-Đại-Cảnh. ‘Điều này giữ mức trung-dung giữa hai điệu Nam và Bắc, có thể gọi là tiêu-biều phần nào tâm hồn binh-dị thanh-khiết của người đân Việt.

Chúng ta cũng không quên nhắc đến những câu hò mái nhỉ, những điệu châu văn hay những bài vọng vô säu oán ai thương, hình như cũng đã chịu nhiều ảnh-hưởng của âm-nhạc Chiêm-Thành. Các điệu múa nhảy của ta, hoặc có tính cách tôn-giáo, hoặc trong cung điện nhà vua, như ở Duyệt-Thi-Đường, chắc hẳn có pha trộn ít nhiều những vũ-nhạc Chiêm-Thành. Ở xứ này, múa nhảy luôn luôn đi đôi với ca-nhạc, cũng như ở Nhật-Bồn là nước rất xa đã chịu ảnh-hưởng của Lâm-Ấp-Nhạc (Rinyugaku).

Ngày nay ở những vùng còn người Chàm, có một số người phi Nam phi Nữ, chuyên làm nghề múa nhảy và ca hát theo điệu Chàm, nhất là trong những kỳ tế lễ long trọng. Một số hiện còn ở Phan-Thiết và thỉnh thoảng có biều diễn ở các chợ phiên giải-trí. Họ còn kiêm thêm nhiều trò ảo thuật và nguy vũ (danse acrobatique).

Về nhạc khí, người Chàm ngày xưa có nhiều thứ tương tự nhạc khí của Trung-Hoa và ‘ Việt-Nam. Mã-đoan-Lâm, một sử gia Trung-Hoa hồi thế kỷ thứ XIII, đã viết rằng người nước Lâm Ấp có đàn tranh (cythare), đờn cò 5 giây (violon à õ cordes), ống sáo, tù-và, trống, v. v. Hiện nay, chúng tôi nhận thấy người Chàm còn rất ít nhạc-khí, như là : kuni-kara (đờn cò 2 giây), sanarai (kèn 7 lỗ), ganan (trống cơm bịt ở hai đầu), baranon (trống dẹp bịt một mặt).

Theo sách Thiên Nam Dư hạ tập do vua Lê Thánh Tôn sai Thân Nhân Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm văn Lễ, biên tập năm 1483, về mục .nhã-nhạc thì có thấy nói rằng cái long-sinh, tức là sênh tiền làm bằng hai miếng tre, một đầu chạm rồng có đeo nhạc đồng và tiền đồng, khi đánh nhạc ấy phải vừa múa vừa đánh, đề cho tiếng nhạc theo nhịp múa. Người ta đoán rằng cái sênh tiền chúng ta đã mượn của Chiêm Thành qua những điệu múa nhảy của họ.

Theo sách Vũ Trung tùy bút của Phạm đình Hồ, cái trống cơm (ganan) có tên yêu-cỗ, đánh cả hai mặt một lúc, khi đánh phải dán hai miếng cơm nếp vào giữa hai mặt trống thì mới kêu, vì thế mà gọi là trống cơm. Khi đánh trống ,cơm không cần phải múa nhảy, nhưng phải run rầy thân mình. Theo sách An-Nam chí-lược của Lê-Tắc thì : « Vào đầu thế kệ thứ X, âm nhạc đám ma nước Nara có một thứ nhạc khí tên là Phạn Cô Ba, là một vật từ Chiêm Thành mang lại ». Phạn cổ ba, tức Phạn chiêm ba, là cái trống cơm rất thông dụng từ xưa đến nay.

***

Chúng ta đã duyệt qua những ảnh hưởng của Chiêm Thành trong nền văn-hóa Việt-Nam, từ phẩm-vị tôn-giáo, tín ngưỡng, ngôn-ngữ, văn- chương đến phạm-vi kinh-tế, xã-hội và mỹ-thuật, Trong mỗi ngành, đều có sự trao qua đổi lại, nhưng vì thiếu sự thăng bằng và ‘hiểu biết lẫn nhau, nên chỉ một văn hóa thì còn hoàn toàn, còn văn hóa kia thì chỉ đề lại những di-tích. Âu cũng là một cơ hội đề chúng ta suy nghiệm những lẽ hưng vong của các dàn tộc. Trong. sự trao đổi vẫn hóa, hai điều cần nhất là bảo tồn và chọn lọc. Bảo tồn văn hóa của mình, chọn lọc những cái hay của văn hóa ngoại bang. Không biết bảo tồn thì tất phải bị văn hóa ngoại lai chinh phục. Thâu nhận bừa bãi, không biết phân biệt hay dở, thì sẽ mất cả “bản sắc đân-tộc”. Vậy trong lúc năm châu họp chợ, gương Chiêm Thành còn trước mắt, bổn phận của hết thầy chúng ta, thiết nghĩ rất quan trọng và khẩn-thiết hơn lúc nào cả là phải biết BẢO TỒN và CHỌN LỌC.


Nguồn: Văn Hóa Á Châu, số 1, 1958

bản scan gốc: <LINK>


*

để lại phản hồi