Hòa nhập hay Tiếp biến?


Hòa nhập hay Tiếp biến?

Hồ Trung Tú


Có 500 năm như thế” hay “Bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch sử” của Hồ Trung Tú là tập sách nghiên cứu một giai đoạn lịch sử “mờ mở nhân ảnh” không chỉ vì thiếu sử liệu mà còn vì đụng vào bao định kiến có sẵn, bao quan điểm đã gần như được mặc định, không còn gì phải nói thêm; đó là các giai đoạn Nam tiến của dân tộc trên đất Quảng Nam. Nói chính xác hơn, đó là dấu ấn để lại của các thời kỳ người Việt vào Nam, sống bên cạnh người Chăm, sống cộng cư hòa hiếu không phải trong một vài thế hệ mà đã kéo đài gần đúng 500 năm, từ 1306 (đám cưới Huyền Trân) đến 1802 (Gia Long lên ngôi).

Bằng các cứ liệu không phải là phát hiện mới, chỉ với sự phân tích lại, dưới cái nhìn của phương pháp phân kỳ, tác giả đã đưa ra những cái nhìn mới, đặt lại những vấn để tưởng chừng đã cũ và mở ra nhiều hướng tiếp cận rất bất ngờ trong công tác nghiên cứu lịch sử, bản sắc văn hóa vùng đất thuộc “xứ Đàng Trong” xưa. Xin giới thiệu với bạn đọc chương “Hòa nhập hay tiếp biến” trong cuốn sách này.

***

Một nhóm người ở một làng gần Hội An. Tranh du ký trong tập sách A Voyage to Cochinchina in the year 1792 and 1793 của John Barrow, in năm 1806

Dấu vết văn hóa Chăm còn  để lại trong đời sống người Việt ở Quảng Nam hiện nay là rất nhiều. Có thể dẫn ra đây rât nhiều những công trình, những bài viết được in trong các tạp chí địa phương hoặc được đọc trong các cuộc hội thảo về văn hóa và lịch sử ở các tỉnh miền Trung. Các dấu hiệu, hay nói cách khác là các bằng chứng, thường được nhiều người nói đến và đã hầu như được công nhận là của người Chăm mà không cần bản cãi thêm là tục thờ cúng cá ông và các lễ hội miền biến, những miếu bà Giàng, bà Lỗi, các nữ thần Chăm như lăng bà Thu Bồn, Thiên Y A Na Diễn phi chúa ngọc, Phiếm Ai châu đại đức phu nhân; ghe bầu, làm nhà trên cọc của các cư dân sông nước, mùa chiêm và lúa chiêm, cái cày Trung bộ, ăn gỏi, đội khăn, bới tóc, các giếng vuông vẫn đang được dùng ở một số nơi; một số phong tục tập quán trong cúng đất, cúng giỗ ma chay, các làn điệu dân ca, hát ru… Dĩ nhiên chúng ta có thể bảo tât cả những hiện tượng văn hóa truyền thống nào của người Quảng Nam nhưng ngoài Bắc không có đều là của người Chăm để lại và con số thống kê có thể kéo dài mãi một cách vô nghĩa nếu như ta không nhận thấy ở đây cái tiến trình hình thành bản sắc mang trong nó những bí ấn đang cần được giải thích, chứ không phải chỉ là những hiện tượng đáng ghi nhận.

Sự giao thoa hai nền văn hóa Việt – Chăm trước nay vẫn thường được các nhà nghiên cứu thích dùng từ tiếp thu văn hóa, giai đoạn gần đây xuất hiện thêm thuật ngữ tiếp biến văn hóa để nhấn mạnh hơn sự tồn tại rất cụ thể, có phần nguyên gốc của các yếu tố Chăm nhằm phản ảnh một xã hội người Việt đã tiếp thu, kế thừa, tiếp nhận và thích nghi nhiều yếu tố văn hóa Chăm trong một quá trình dài vay mượn có chọn lọc cái mới. Nổi bật trong số này là luận án tiến sĩ Xứ Đàng Trong của Li Tana. Li Tana đã đánh giá sự tiếp biến này là vô cùng quan trọng và lần đầu tiên trong giới nghiên cứu, chị đã đề cập nó ở góc độ bản sắc văn hóa người Việt hiện nay: “Tác động qua lại phong phú này cuối cùng đã cho ra đời một ý thức về bản sắc Việt Nam, cắm rễ sâu trong môi trường xã hội, văn hóa và tự nhiên của vùng đất mới phương Nam. Các di dân người Việt đã bỏ lại phía sau nơi chôn nhau  cắt rốn của họ và giờ đây thường phải sống thành những nhóm nhỏ trong vùng đất của người Chăm cũ, hăn là đã cảm thấy nền văn hóa Chăm vừa có những nét đẹp riêng vừa xa lạ khiến người ta phải e dè. Trong một trạng thái tâm lý bất ổn, người Việt vừa bị lôi cuốn nhưng đồng thời lại cũng cố gắng tìm cách thoát khỏi (hay thu phục khi có thể) nền văn hóa xa lạ đã có ở đó trước khi họ đến và thường là vẫn còn bao quanh họ”!“‘. L¡ Tana đã dừng lại ở đó và không khảo sát thêm là những nhóm nhỏ người Việt trong vùng đất của người Chăm. Vậy họ đã tiếp thu cái văn hóa Chăm ấy từ đâu, từ những người Chăm cụ thể hay từ những dấu vết họ để lại. Chị đã cảm thấy cái văn hóa ấy vần bao quanh họ thế nhưng cái bao quanh ấy không hề được mô tả bất cứ dòng nào trong luận án mặc dù nó xứng đáng được đầu tư nhiều hơn nữa. “Phía nam có nghĩa là một môi trường có nhiều khả năng để chọn lựa, là không gian để rèn luyện và phát triển những yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa mới khá xa với những chờ đợi chật hẹp trong khuôn khổ Nho giáo. Việc chấp nhận là một thành phần của một thế giới Đông Nam Á rộng lớn hơn đã giúp cho các di dân người Việt có khả năng vay mượn, trộn lẫn và hấp thụ một cách rộng rãi các yếu tố văn hóa người Chăm và của các đân tộc khác trong vùng. Và kết quả là trong quá trình dài tiến về phía Nam, chính người Việt Nam đã được địa phương hóa. Nhưng nói thế không có ý nói là người Việt Nam ở Đàng Trong đã không còn là người Việt Nam nữa hay đã đánh mất bản sắc của họ. Phải hơn, họ đã tạo ra ở đây một cách thức khác làm người Việt Nam, một cách thức nảy sinh từ một thái độ sắn sàng kinh qua, chấp nhận và tiếp biến những gì hữu ích trong môi trường mới, bất luận từ đâu đến… Nhiều đức tính của người phía Nam như óc tò mò và cởi mở đối với những cái mới, với những tư tưởng mới, tính hồn nhiên và khoáng đạt hơn, thái độ không mấy dễ dàng để mình bị ràng buộc bởi lịch sử và truyền thông, tât cả có thể đã do ảnh hưởng của hai thế kỷ dưới thời của các chúa Nguyễn này”?.,

Hồ Trung tú 2
Một buổi lễ tín ngưỡng ở một làng phía Bắc vịnh Đà Nẵng (có thể là Nam Ô). Tranh du ký trong tập sách A Voyage to Cochinchina in the year 1792 and 1793 của John Barrow, in năm 1806

Đánh giá cao sự tiếp biến, theo nghĩa tiếp thu có chọn lọc nền văn hóa Chăm, Li Tana vẫn cứ thiếu sót khi một mực bảo rằng đó là sự tiếp thu đưa đên tiếp biến, ngoài ra không có gì khác. Đây gần như là một quan điểm chính thống và đã được hầu hết các nhà nghiên cứu cũng như hầu hết những người quan tâm đến các vân đề Xứ Đàng Trong và các tộc họ chấp nhận như là một sự thật hiển nhiên. Đó là sự tiếp thu một chiều, người Việt tiếp thu văn hóa người Chăm rồi biến nó thành văn hóa Việt, văn hóa xứ Quảng, hay nói cách khác văn hóa Việt đã được khoác lên mình chiếc áo mới rộng rải hơn, tươi tắn, năng động hơn và vì thế nhìn ở góc độ nào thì nó cũng là da thịt Việt, con người Việt. Có phải sự thật như vậy hay sự việc đã diễn ra một cách phức tạp, đa chiều hơn? Có quá ít tư liệu để chúng ta có thể dựng lại những gì đã xảy ra, để có thể tường tận những bước phát triển, những chặng đường mà người xứ Quảng đã trải qua để hình thành nên người xứ Quảng hôm nay, tuy vậy chúng tôi vẫn tin rằng không phải là không có thể.

Thiếu những viên đá đặt nền móng ban đầu về một lịch sử Xứ Đàng trong gợi mở sự hình dung những quá trình tiếp biến, các công trình nghiên cứu đều hầu như mặc nhiên công nhận con đường thẳng của lịch sử Nam tiến. Điển hình của quan niệm này là ý kiến sau đây, mặc dầu thời gian nó được viết là đã gần cuối năm 2002: “Có thể nghĩ rằng vào thời kỳ này, thế kỷ XV, người Chăm đã rút về phần đất phía nam với kinh đô Vjaya, chỉ còn một bộ phận làm quân canh giữ biên giới, để đất cho người Việt di cư đến tiếp quản”.

Không hiểu tại sao cái quan điểm ấy lại được chấp nhận một cách dai đẳng và hầu như không thể thay đối mặc dù chỉ với một câu hỏi “Con người ta có thể tiếp thu cái gì ở chỗ không người?” nó đã bộc lộ ra tất cả mâu thuẫn không thể tự giải thích. Con người ta không thể tiếp thu bất cứ thứ gì ở chỗ trống không, người Việt không thể tiếp thu hoặc tiếp biến bất cứ điều gì nếu người Chăm đều bỏ đi cả, hoặc giả cứ gặp họ là đuổi đánh, khinh khi, khinh bỉ. Ngay cả trong trường hợp họ có ở lại thì người Việt tiếp thu cái gì nếu họ là số ít, ngay cả trong trường hợp họ là số nhiều thì cũng tiếp thu cái gì trong khi vẫn xem họ là mọi?!

Cái môi trường để nền văn hóa này tiếp thu nền văn hóa kia là điều chắng phải dễ có. Nó chỉ hình thành trên sự bình đẳng và tôn trọng lần nhau ở một mức độ nào đó. Người Việt khinh người Chăm, miệt thị người Chăm thì sẽ tiếp thu cái gì ở họ? Mà cái tiếp thu được thì như đã nói ở trên là nhiều lắm. Hơn nữa, lịch sử nhân loại cho thấy một nên văn minh cao hơn sẽ luôn có tác dụng áp đặt, đồng hóa lên nền văn minh thấp hơn. La Mã mạnh hơn nhưng khi xâm chiếm Hy Lạp thì hoàn toàn bị ảnh hưởng của văn mình Hy Lạp. Mông Cổ rồi sau này Mãn Thanh, khi thôn tính Trung Hoa đều bị nền văn minh khổng lồ này đồng hóa. Vậy trong trường hợp 300 năm Việt – Chăm trên đất Quảng Nam thì cái gì đồng hóa cái gì, cái gì tác động lên cái gì và cái gì chiếm ưu thể?

Trở lại với những lập luận trên ta thấy người Việt sẽ không bao giờ chịu tiếp thu bất cứ điều gì bởi luôn tự hào mình có nền văn minh cao hơn. Trong Chiếu bình Chiêm của Lê Thánh Tôn đã cho thấy một sự miệt thị văn hóa Chămpa và trong các văn bản đều luôn xem họ là người man di, mọi rợ. Sự tiếp thu và tiếp biến chỉ diễn ra khi người Việt đôi diện với nền văn minh cao hơn. Xem họ là mọi thì tiếp thu cái gì? Vì vậy lập luận hữu lý nhất ở đây chính là giả thiết cho rằng người Chăm ở lại là số đông. Người Việt đến chìm lấp trong cộng đồng người Chăm. Sau khi Nguyễn Hoàng vào Nam và thiết lập nên nền chính trị tập quyền thì họ mang nguyên nền văn hóa của mình khi bắt buộc mang họ Việt, chuyển thành người Việt bằng cách nói tiếng Việt và quên dần gốc gác. Cái sự quên dần gốc gác này củng đã diễn ra một cách phức tạp khó tìm ra căn nguyên thật sự. Giả định đặt ra là người Việt khi mạnh lên và nắm toàn bộ quyền lực, bắt người Chăm mang họ Việt, bắt họ nói tiếng Việt đồng thời hình thành trong xã hội một, cái nhìn miệt thị với người Chăm, xem họ là “mọi” đã khiến những người Chăm cảm thây sự quên đi gốc gác sẽ khiến họ dễ sống, được tôn trọng hơn, cũng là điều hợp logic.

Vì vậy, cố gắng dựng lại cái mô hình xã hội cho phép hình dung nên cái cộng đồng cộng cư của hai nên văn hóa Việt – Chăm cũng như quá trình giao lưu và hòa nhập cũng như tiếp biến của hai nên văn hóa này ở Quảng Nam những năm trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam là một công việc cực kỳ quan trọng, đó không chỉ là sư nhìn nhận lại lịch sử một cách chính xác đầy đủ hơn mà đó còn là sự tìm lại cội gốc, căn nguyên hình thành của một bản sắc văn hóa có tính cội nguồn của phương Nam, một nửa của đất nước.


Nguồn: Tạp Chí Xưa Nay, số 342, 2009


*

để lại phản hồi