Truyện Trung Định Công thời Hùng Vương


Truyện Trung Định Công thời Hùng Vương

Truyền thuyết dân gian người Việt


Thuở xưa, buổi khai thiên lập địa, ranh giới nước Nam ta ngang với sao Dực sao Chấn; Bắc quốc khi xưa được phân phong thắng đến vùng sao Ngưu sao Đầu.

Từ Hùng triều, vua Kinh Dương Vương nối nghiệp cha và được mệnh danh là bậc tông đế của các đế vương nước Việt ta. Hoan châu đất đẹp dựng mở kinh đô, Nghĩa lĩnh núi cao sửa sang miếu điện, cha truyền con nối giữ nước, lại truyền tới hiệu Lạc Long Quân lấy nàng tiên nữ con gái vua Động Đình.

Thuở ấy, mây tốt năm màu rực rỡ nổi trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, Âu Cơ mang thai sinh ra một bọc trăm trứng. nở ra một trăm chàng trai đều là bậc anh hùng tuấn tú. tài đức hơn đời không ai bì kịp. Tới lúc trưởng thành, vua cha đặt nước thành 1ð bộ, phong hầu phân cõi để cho cai quản. Long Quân bàn với Âu Cd: “Ta thuộc nòi Rồng, nàng lại giống Tiên, sở đi có con là bởi khí chất của âm dương ngũ hành hợp lại mà thành. Nhưng vì không cùng đồng loại, nước lửa khắc nhau. không thể ở cùng một nơi với nhau được” Thế rồi chia lấy 50 người theo cha về biển làm Thủy thần ngự trị các đầu sông ngọn bể; 50 người cùng mẹ lên non làm Sơn thần cai quản các đỉnh núi ngọn đôi. Tuy nhiêu nếu xảy ra chuyện gì thì hai bên đều biết để mà kịp giúp đỡ nhau, không được lấn loát phế trừ nhau. Bởi vậy, nhà Hùng xưa nay luôn có trăm thần sông núi thường thường xuất thế đầu thai xuống cõi trần gian, để cứu nước giúp dân. Nhà nào có phúc tất được thần giáng phúc.

Lại nói, cơ nghiệp nhà Hùng truyền đến đời thứ 18, tức Hùng Duệ Vương, đóng đô ở Việt Trì, Bạch Hạc, lấy quốc hiệu là Văn Lang, kinh đồ hiệu là Phong Châu thành. Vương là hậc đại lược hùng tài, thiên tự sáng suốt, thừa kế cơ nghiệp thịnh trị của ông cha 17 đời bổi đắp: ở trong nước thì Ìo sửa sang văn đức, tại nơi ngoại biên cương thì tăng cường võ công, đốc lòng lo toan sự nghiệp hòa bình thịnh vượng để giữ yên đất nước. Vào thời bấy giờ có người ở làng Lưu Xá, huyện Thượng Hiến, phú Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam, họ Trương tên Tung, vợ là Phùng Thị Ích vốn sống về nghề sông nước bắt tôm cá, rồi dần đà giàu có lên. Ông bà Trương Tung là người hay làm việc thiện, việc phúc đức dù nhỏ bé cũng gắng để làm, hai vợ chồng nhà ông đều đôn hậu phúc đức. Nhưng hiềm vì õng đã gần ngũ tuần, bà cũng ngoài bốn chục mà vẫn chưa có con trai để nối dõi. Một ngày nọ, nghe tin ở huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bác (cổ xưa gọi là quận Vũ Ninh), tại đó có một con sông nhỏ tên là Tiêu Tương có rất nhiều cá. Thế là vợ chồng ông sửa sang một con thuyền quay chèo ngược lên phía bắc, khi tới địa đầu trang Trình Xá ông bà dừng thuyền bên đòng sông nhỏ đánh cá. Buối chiều hôm ây. ông đang chèo thuyền ra giữa lòng sông đánh cá, ngước mắt lên trời bỗng thấy một đám mây đen sà xuống chỗ bà Phùng, vợ chồng hốt hoảng chạy lên bờ, tới địa đầu khu Nguyễn Xá, chợt lại thấy trời tối đen mịt mù giữa ban ngày nào khác nứa đêm, rồi nổi gió tuôn mưa buộc họ phải chạy vào ngôi miếu cổ gần đó mà trú ấn. Khi tới nơi ngước mắt trông lên thấy tấm hoành phi đề 4 chữ “Anh Linh Thúy Cung”, hai người bèn quỳ ngay xuống mà cầu xin. Một loáng họ lại thấy một dải hào quang bao trùm lên thân thể bà Phùng. Bà Phùng té nằm ra đất đầu óc mông lung như ở trong mộng. Bà trông thấy một trang nam nhi mặc quần áo màu đỏ, thắt đai lưng ngọc, dáng vẻ đị kỳ, từ ở bên đường ởi tới, tự xưng là quan Thủy thần ở xứ sở này và nói: “Nhà ngươi phúc cả đức dày, trời đã biết, nay ta vâng mệnh giáng sinh làm con”. Chốc lát, bà Phùng tỉnh lại, trời tạnh mây quang, bà kế cho ông nghe chuyện dị kỳ vừa xảy ra. Ông bảo: “Đó là điểm lành”: Thế rồi xuống thuyền quay về nơi ở Bà Phùng có thai đến ngày 10 tháng 3 năm Qaý Ty thì sinh ra một cậu con trai, tư chất thông minh, thể mạo khôi ngô khác thường. Ông Trương cho rằng đấy là Thủy Lĩnh thần xuất thế, nên càng yêu mến cậu, mới đặt tên là Nam Định.

Nam Định lên 3 tuổi đã biết lễ nghĩa, hay kính trên nhường dưới. Nghe học lỏm mà hiểu. nghe tiếng mà hiểu thấu âm luật. Năm lên 7 tuổi đi học, 13 tuổi đã đọc thông sử sách chư tử, lại giỏi võ nghệ, đám học trò thời đó đa phần đều thán phục và khen là thần đồng. Năm 18 tuổi cha mẹ đều qua đời. Nam Định làm lễ chôn cất cha mẹ, sau 3 năm mãn tang, thì vừa gặp lúc Hùng Duệ Vương xuống chiếu cầu hiển, giao cho các châu huyện phải tiến cứ những người hiển lương phương chính và những người học trò có tài học vấn uyên thâm quảng bác, văn Võ song toàn, hoặc người tình thông một nghề, người thạo một việc cũng đều phải tiến cử để họ được nhận quan tước của nhà vua. Bấy giờ Nam Định hền ứng tuyển. đến lúc bệ kiến vua. cậu ứng đối rất lưu loát, trả lời các câu hỏi về văn về võ tất thaày đều trôi chảy, không hề bị vấp váp chút nào. Vua khen mà ban danh là Trung Định công và giao cho chức Chỉ huy sứ ở huyện Thượng Hiển, đạo Sơn Nam. Tự đấy ơn vua nhuần thấm, nghĩa để cao dây, phải chăng đó là cái duyên vua tôi quân thần vậy.

Khi ấy, đúng vào cuối thời nhà Hùng. ý trời cáo chung. Duệ Vương sinh hạ 20 hoàng tử. 6 nàng công chúa. nhưng đều nối gót. lên tiên cả, chỉ còn lại 2 công chúa. Con gái lớn gà cho Chử Đồng Tử, còn công chúa bé thì khuê phòng còn khép. duyên đẹp thời lành chưa định. Cho nên nhà vua mới phải dựng lầu ở cửa Việt Trì để kén phò mã, truyền chiếu cho thần dân thiên hạ, tìm người anh hùng thông minh tài trí, đức độ hơn người đều có thể ứng tuyển. Nếu có thực tài thì sẽ được nhà vua ga công chúa và truyền ngôi cho. Ngày ấy, dưới sông thuyền bè tấp nập, trên bộ ngựa xe xuôi ngược âm ầm. Một khi được thấy chiếu chỉ của nhà vua kén rể, thì đám tài tử trong thiên hạ lòng dạ đã sẵn sục sôi, thi chương xướng họa, bút pháp tung hoành, rồng bay phượng múa, trăng rơi dòng nước sao lặn đáy hồ. Thị võ thì trận khai hổ báo mất hồn, sấm dậy trống rung, long trời động đất, một thân đua tài giữa đám anh hùng của bốn cõi. Nhưng tất thầy là người đạt môn này, kẻ thua nghề nọ, lần lượt ra về, chưa toàn vẹn toàn thẳng.

Về sau thấy có Tân Viên Sơn Thánh họ Nguyễn tên Tùng người đạo Sơn Nam có nhiều phép lạ thông đời tô đất, lắm thuật hay có thể dời núi lấp sông. Vua cho rằng đó là người kỳ tài bậc nhất thiên hạ, vua bèn gọi công chúa tới gả cho và nhường ca ngôi báu. Bấy giờ có Bộ chủ Ai Lao họ Thục tên Phán vốn là dòng dõi của nhà Hùng, trước chia cho để cai quản đất Ai Lao rồi đối thành họ Thục và đặt tên là Phán. Đến nay được tin Hùng Duệ Vương tuổi cao sức yếu mà 20 hoàng tử đều chết yếu cả, vua không có người kế vị mới nhường ngôi cho con rễ là Sơn Thánh. Nhân đó phát động các nước lân cận giúp đỡ viện binh, chỉnh đốn quân ngũ tình binh trăm vạn, ngựa xe 8 ngàn cỗ chia làm 5 đạo quân theo các ngả đường, thuận những cửa biển thủy bộ ồ ạt tiến vào nước Văn Lang, thư cáo cấp từ biên cương gửi về triều một ngày tới ã bận. Duệ Vương hoảng hốt lo sợ, bèn triệu Sơn Tình vào hỏi kế sách chống giặc. Sơn Thánh tâu: “Một trăm hai mươi năm lẻ bệ hạ là hiển thánh trên ngôi, công đắp móng xây nền. Nghĩa nặng ẩn sâu của mười bay đời tiên vương ta đã thấm sâu vào cốt tủy mọi người dân, nay sự thế đã như vậy. bệ hạ còn do dự gì mà không đánh. Nhưng trước tiên hãy cử Trung Định công làm tướng đem quân ởi tuần tiểu, thần nguyện xin tận lực tuyển chọn tướng tài để diệt giác Thục không quá tuần nhật (10 ngày) là dẹp xong”. Vua nghe theo, ngài liền triệu Trung Định công tới hỏi han và phong làm Tiền đạo Đương lộ Tướng quân. Việc trước tiên là ông lãnh quân đì tuần tiếu để phòng giặc ở các ngả đường sông. Khi ấy Trung Định công đem hai nghìn quân sĩ tuần tiễu canh chừng giặc ở các triền sông: lại lĩnh một nghìn quân lục chiến lên đường, cờ dong gió thôi, tiếng chiêng tiếng trống ầm ầm rung động muôn nú1 ngàn sông, suốt một ngày đêm quan quân tiến đến đóng đồn tại bến sông khu Nguyễn Xá, trang Trịnh Xá, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, dạo Kinh Bắc. Ông cho hội quân tại đây và bái yết miếu thần. Ông triệu các phụ lão của Nguyên Xá tới mà nói rằng: “Đây vốn là nơi cha mẹ ta đã sinh ra ta, ông bà xuất thân từ sông nước. lấy việc đánh bắt cá làm nghề sinh nhai. Nay nhìn tình cảnh bà con như thế này ta liên tưởng tới mẹ cha mà lòng dau xốt khôn nguôi. Mẹ cha ta xưa căn dặn ta phải nói cho các người biết. Ta chính là vị Thủy thần giáng sinh mà khu các người phải phụng thờ. nên nay ta phải về đây đóng quân để mà quan sát địch tình, nếu không sẽ bị quân ngoại bang tới xâm hại”. Các bô lão bản khu đều trình thưa: “Dân khu của chúng thần đúng là tôn thờ một vị thần có duệ hiệu là như thế mà ngày trước rất linh thiêng. Từ 30 năm lại đây có vợ chồng người ở đạo Sơn Nam từng trú ngụ ở ngôi miềễu này, từ đó trở đi không thấy linh ứng lắm”. Ông đáp: “Đó chính là cha mẹ của ta đấy”. Các phụ lão nghe rồi. bèn hành lễ bái lạy, xin làm thần tử.

Bấy giờ, Định công tuyển chọn những đình tráng của trang khu 35 người cho làm gia thần thủy thú. Hôm sau thấy cố sứ giả mang chiếu chỉ của nhà vua sai Định công đẹp giặc Thục ở đạo Kinh Bắc. Ngay hôm đó, ông sai thiết đàn làm lễ cầu đảo trăm thần sông núi, khao thưởng dân thôn và sĩ tốt, rồi đem quân thăng tiến đến chân núi Sóc Sơn. Ông đang ngồi trao đổi với Tả đạo Đương lộ Ngô Tướng quân về chiến thuật tiến công và giải giáp tàn quân giặc ở dưới chân núi, thì bỗng thình lình thấy quân Thục ập tới bổ vây tứ phía trùng điệp, trong khi quân sĩ của ông chưa kịp cởi áo giáp và tháo yên ngựa lại bị bao vây, triều đình ắt sẽ không lường tới tình hình này, nên không hy vọng vào sự viện bình. Ông bèn tập trung binh sĩ rồi cùng hồ to lên câu: “Hới các tướng sĩ lòng trơi còn thương giúp chúng ta, mọi người hãy xông lên diệt giặc Thục”. Đúng là lấy một, người địch trăm người, ông chỉ huy trong hoàn cảnh địch bao vây trùng điệp, thế mà chém được đâu Chánh tướng, Phó tướng của giặc Thục và mấy vạn thủ cấp giặc, thu hồi vũ khí, lương thảo ngựa xe nhiều vô kể, nhìn vào đám sĩ tốt thì biết rằng quân Thục không còn đường để mà thoát chạy nữa. Lúc ấy là vào thượng tuần tháng 3, thấy có thư của Sơn Thánh gửi tới trong ấy có câu đặn Định công răng: “Sau khi giặc Thục bại trận bỏ chạy, thì phải viết biểu tâu lên Duệ Vương ngay, rồi lĩnh chiếu chỉ hồi triều”, Ông phụng mệnh trở về triều, nhà vua mở đại yến tiệc mừng công gia phong tướng sĩ đăng cấp cao thấp khác nhau. Lại phong thực ấp cho Định công tại huyện Đông Ngàn. Định công bái tạ Duệ Vương rồi quay về nhiệm sở ở Đông Ngàn. Bấy giờ ông trở về khu Nguyễn Xá, nghe tin đất ấy có long mạch tốt, sơn thủy châu tuần, rồng chầu hổ chực, núi không cao mà lại có sa bồi, sơn thủy hữu tình, thiết tưởng đó cũng là một mảnh đất phong quang thắng cảnh, ông vô cùng xúc động.

Ngay hôm ấy, ông ra lệnh cho bình sĩ và nhân dân dựng đinh để ð sửa sang đền miếu. Mở yến tiệc một ngày cho mời phụ lão và nhân dân khu Nguyễn Xá tới yến ẩm. Giữa lúc mọi người đang ăn uống, ông nói với các cụ phụ lão và gia thần rằng: “Các ngươi xử hậu với ta, tất là trọng, nên ta có lời để lại cho nhân dân. gia thần và các tộc họ muôn ngàn năm là ở khu các ngươi phải phụng thờ một vị thần. nay ta đặt 50 hốt vàng để ngày sau mua thêm ruộng vườn cúng tế hương đăng”. Bỗng dưng thấy trên không trung xuất hiện một đầm mây vàng tựa như đải lụa rơi thăng xuống trước dinh, rồi thấy ông bay ra khoảng giữa dòng Nguyệt Giang mà biến mất. Khi ấy nhằm vào ngày 10 tháng 7. Trong khoảnh khắc lòng sông sóng nổi âm ẩm, rùa, rấn, thuồng luồng, ba ba quây nhảy tung tăng tiễn dẫn ông ởi. Nhân dân thấy vậy kinh sợ, bèn hành lễ viết số tầu lên nhà vua, triều đình sai trở về làm lễ tế xin cho khu Nguyễn Xá là nơi sinh của thần được phụng thờ thần.

Đến thời vua Lê Đại Hành vào niên hiệu Thiên Phúc (980 – 988) khi khảo cứu bách thần thấy có lì nh ứng mới gia phong: Thượng đẳng Phúc thân và phong cho giữ nguyên thần hiệu: Nam Định đại Vương.

Lại gia phong mĩ tự: Càn đức chí cương, Khan cung sở tú, Dục uận hông du, Trạch dân hiển ứng, Cảm diệu linh thông phù hưu.

Lại nói, từ đó về sau, luôn luôn linh ứng. Cho nên đế vương các triều đều gia phong mỹ tự.

Thời Trần Thái Tông (1225-1258), quân Nguyên Mông tới xâm lăng, kinh thành bị vây hãm, Trần Quốc Tuấn được lệnh của vua cầu đảo tại các linh từ, cầu xin trăm thần phù hộ, trong đó có đền thần khu Nguyễn Xá cũng hiển ứng phù giúp, đến khi đánh được giặc Ô Mã Nhị, Thái Tông ban phong mĩ tự cho đến thần: Một vị: Tế thế hộ quốc tý dân, Phù uận dương uõ, Dực thánh bản cảnh hiển hưu. Cho đến đời Lê Thái Tổ (1428 – 1433) khởi nghĩa bình giặc Minh – chém Liễu Thăng, khôi phục giang sơn, Thái Tổ phong cho là: Phổ tế cương nghị, Hậu đức chí nhân, Phù cảm hiển ứng anh lính. Ban sắc chỉ cho khu Nguyễn Xá trùng tu miếu điện để thử cúng ngài mãi về sau…


Nguồn: Truyền thuyết dân gian người Việt, tập 1

Kiều Thu Hoạch chủ biên, nxb Khoa Học Xã Hội, 2009


*

để lại phản hồi