Sự tích Nam Hải Tạo Lực Đại Vương


Sự tích Nam Hải Tạo Lực Đại Vương

Truyền thuyết dân gian người Việt


Nam Hải Tạo Lực đại vương tên là Hùng Tuệ, làm quan lang đạo Ái châu (Thanh Hóa ngày nay), là dòng dõi vua Hùng, là một trong 50 người con của Lạc Long Quân theo cha về biển làm Thuỷ thần chia nhau cơi giữ các eo biển ngọn sông của đất nước.

Vào thời Tiền Lý Nam Đế, có giặc Lương ở phương Bắc tới xâm lăng nước ta, nhà vua xuống chiếu tuyển người hiển tài ra giúp nước đánh giặc. Vốn là người sẵn có chí tang bồng, khi nghe chiếu chỉ nhà vua. Hùng Tuệ liền nhập triều ứng thí. Vua hỏi bất cứ điều gì ông đều tỏ rõ là người có học vấn và tài năng, đều trả lời lưu loát mọi điều, thượng thiên văn, hạ địa lý, việc nhân sinh trị quốc không có việc gì không am tường. Vua phong cho ông làm Đốc lĩnh đạo Sơn Tây. Ngay hôm đó, ông lên đường ở nhiệm sở nhậm chức.

Sau năm sáu năm, bấy giờ có giặc Lương từ Bắc quốc sai bọn Dương Tường làm Chánh tưởng và Hùng Phong làm Phó tưởng đem 10 vạn tình binh sang xâm lược nước Nam Việt lúc bấy giờ bao gồm: Quảng Đông, Quảng Tây, Quảng Vân, Hải Dương, Kinh Bắc (tức Bắc Giang, Bắc Ninh) và các địa phương thuộc đạo Sơn Nam (tức các tỉnh Hà Đông, Hà Nam. Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình. Nình Bình), đâu đâu cũng thấy cờ giặc, tiếng trống chiêng ầm âm đậy đất long trời.

Quan quân ở các địa phương kháng cự không nối, sự ấy bức bách và kéo đài hai ba năm mà không kết thúc. Khi ấy ông dâng sớ tâu vua kế đánh giặc. Vua cả mừng, giao cho Hùng Tuệ chức Thống chế Tạo Lực quan đi đánh giặc. Quan Thông chế bèn chiêu tập được nghĩa binh 115 người gồm, họ Trần 30 người, họ Phạm 35 người, họ Đào 30 ngươi, họ Đặng 20 người, tại huyện Sơn Vị, phủ Lâm Thao làm gia thần thủ túc.

Khi ông cho tiến quân tới ấp Mỹ Lạc, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, đạo Sơn Nam thì mặt trời vừa khuât núi, ông bèn cho quân trú lại một đêm tới sáng. Sáng hôm sau, ông đi đạo bên dòng Tiểu giang, thấy địa thế núi sông bao bọc, gò Sao dẫn mạch, kiếm, cờ đối xứng, ông bèn ngắm nhìn mãi rồi lệnh cho gia thần rằng: “Tuy là nơi đất sa bồi mới lập, nhưng cũng có thể lập đồn pháo ở đây là rất có lợi cho việc bình phòng”.

Nói rồi ông ngâm nga bài thơ:

Thành thị lâu dài đều ngọc bứu,

Núi sông hoa có thủy mòu tranh.

Khí tôt đúc thành long mạch dẹp,

Đất lành cần dựng chôn cung thành.

Ngâm xong, ông ra lệnh cho sĩ tốt thiết lập một đồn pháo ở ngay bên để chống giặc biển. Sau ba năm, quả giặc tan. Ông làm sớ tâu vua xin cho lập một đồn làng tại đó gọi là làng Cao Mại. Lúc sống ông hưởng lộc vào đó, ngày sau xin làm nơi thờ chính cho mình. Vua ngự bút phê chuẩn. Còn về binh lương tạp dịch ngài đều xin cho miễn trừ. Từ đó ông giao phố cho các họ Trần, Phạm. Đào, Hoàng ở lại lấy nông tang trồng cấy làm nghề chính. Sau đó ông trở về triều, sớm tối phù giúp bên vua, trải hơn ba chục năm.

Bấy giờ có giặc bể Nam quấy nhiễu, cùng đạo tặc ở các địa phương động, sách, trang, châu đều khởi loạn cát cứ, giành lấy quá nửa đất đai trong nước. Vua bèn ban cho ông ấn kiếm, áo cảm bào, ngựa trắng, lại lĩnh hùng binh sáu vạn, thuyền rồng ba ngàn chiếc. Tiền Lý Nam Đế còn phong cho ông làm Nam Hải Tạo Lực thống lĩnh ba quân. Tiết chế Thủy bộ chư dinh sự vụ Đại tướng quân. Bấy g1iở ông bái tạ vua, lĩnh quân cưỡi ngựa trắng, cho quân tiến thắng đến Hoan châu (tức Nghệ An) trong một năm đánh hơn ba mươi trận, lấy được thủ cấp tướng giặc Nam Hãi Vĩnh Trinh bên trên ngọn giáo. Lý Nam Đế nghe tin cả mừng, ngài xuống chiếu triệu ba quân trở về.

Lại nói, khi đó ông cưỡi thuyền rồng khải hoàn tới làng Cao Mại, tổng Mỹ Lạc, huyện Chân Định, bỗng thấy trời đất tối đen mịt mù, giữa ban ngày mà chảng khác đêm, gió gào mưa trút, ông thấy con rắn xanh đài hơn thước rẽ nước mở đường mà tự hóa.

Ông sinh ngày 10 tháng Giêng, năm Giáp Tý, mất ngày 10 tháng 3 năm Ât Sửu. Ngày ấy quan quân và nhân dân Cao Mại thấy cảnh ấy đều kinh hãi và cho là chuyện kỳ đị, họ mới làm sớ tâu vua, vua Lý Nam Đế rất thương tiếc cho một vị trung thần nghĩa sĩ, mới sắc phong cho làm Thượng đẳng Tối linh Nam Hải Tạo Lực Tế thể An dân Đại vương. Lại sai quan là Lê Đình Chấn mang sắc chỉ về tận nơi ông hóa, tu sửa ngôi miếu làng bên bờ sông, theo hướng Tây bắc – Đông nam. Lại phong cho xã Cao Mại là nơi chính đền và các nơi ở bên các triển sông mà ông đã chiến đấu. lập mười địa phương nữa cùng thờ phụng ông.


Nguồn: Truyền thuyết dân gian người Việt, tập 1

Kiều Thu Hoạch chủ biên, nxb Khoa Học Xã Hội, 2009


*

để lại phản hồi