Xin soi gương cổ


Xin soi gương cổ

Nam Sư Thị


Quan văn không tiếc tiền

Quan võ không tiếc mạng

Thiên hạ mới được thái bình

(Nhạc Phi)

***

Xưa nay việc đời không nhất định, thì lẽ đời phải biến đi, nên ông Khổng Tử đã có câu “ngày thêm mới” để thục giục ta tiến thủ. Nhưng muốn có mới, tất cũng phải do cũ mà thành, cho nên phàm việc gì cũng phải xem trước ngắm sau cho kỹ thì mới hay được.

Cho nên lại có câu:

Ôn cố tri tân (nhắc việc cũ, biết việc mới).

Lấy việc trước mà đoán việc sau; thấy vết xe trước nghiên, vết xe sau tránh; xem cái hay của người, biết cái dở của mình, ngắm cái mạnh của người, biết cái yếu của mình; gặp cái thiện của người, biết cái ác của mình.

Đó là những phương thuật của thánh hiền dạy ta chính tâm, tu thân, tề gia trị quốc bình thiên hạ, cho nên cổ huấn của các bực tiên hiền tất phải nên thuộc để tầm tưới tinh thần, mà những gương sáng của các bực tiền bối tất phải nên soi, để gắng gỏi noi theo cho khỏi phỉ tiếng con giồng cháu giống.

Ít lâu nay, triều đình chú ý đến việc “trừng thanh lại trị” để gây hạnh phúc cho thần dân, nên cụ khâm sai Bắc Bộ Việt Nam có tuyên bố cho các báo rộng nói những hành vi mờ tối thấp hèn của những viên chức bất chính.

Làm thế là một phương sách rất hay để trừng giới những tham quan ô lại.

Song như thế chỉ là phương diện trừng trị, chưa có phương cách cải quá, vì người phạm tội có khi vì chế độ, hoàn cảnh mà phải làm càn, có khi bị lợi dụng mà phạm vào luật.

Phàm dụng nhân: không phải chỉ để cho người làm lỗi mà trị tội, càng cần phải khíc lệ để người tỉnh ngộ cải tà quy chính như thế mới là bản ý của Triều Đình và dụng tâm của nhà hành chính.

Muốn giúp một phần vào phương lược cải quá trên đây, không gì bằng nên những đức sáng việc hay của các bực tiên hiền ngày trước để người đjc lấy đấy làm gương noi theo, rồi tự tâm sửa chữa lỗi lầm để thành người hữu ích cho quốc gia chủng tộc.

Vì thế, tôi xim tạm đan cữ ra mấy việc “thanh cần” và “nghiêm minh” – kể còn nhiều xin có dịp sẽ lúc đăng thành cảo – có ghi trong sử sách để tỏ rõ dân tộc ta gần ddaaay có những vị quan lại rất là đáng kính đáng phục và luật háp của ta cũng rát là nghiêm minh.

Trương Đăng Quế

Ông người làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, tỉnh Quãng Ngãi, đậu cử nhân triều Gia Long. Ông rất thông minh, tài học uyên bác, có nhiều sáng kiến, lại có tư cách đặc biệt về tổ chức, nrrn vua thường giao cho ông kiến thiết các tòa, các bộ, các phủ. Phàm cơ quan nào Triều Đình mới đặt là cũng phải có ông tham dự.

Triều Đình đặt nội các, ông cũng phải sung vào nội các, mới đặt cơ mật, ông cũng phải sung vào cơ mật, khi đặt Phụ Chánh, ông cũng có chân trong Phụ Chánh. Ông thật là nguyên thủ trong quan trường, làm đến cố mạnh đại thần, giữ ngôi Tể Tướng đến 20 năm, điện hàm đến Cần chánh, cung hàm đến thái sư tước phong đến Quận Công, thế mà lúc về hưu cả giang san cơ nghiệp chỉ vỏn vẹn có nếp nhà tranh với mấy bộ ghế ngựa gỗ.

Trịnh Hoài Đức

Tổ tiên người Tàu, chạy sang ta tránh loạn Mãn Châu, ông tên riêng là An, tự là Chi SƠn, hiệu là Cấn Trai, năm 10 tuổi mồ côi cha, bà mẹ mang vào Gia Định cho theo học cụ Nguyễn Trường Toản. Nhờ gặp thày hay học lực ông rất tấn tới. Kịp khi đức Cao Hoàng khắc phục Gia Định, cụ Võ Trường Toản tiến cử ông và mấy môn sinh ra giúp nhà Nguyễn.

Ông là người rất cẩn thận, phong độ hòa nhã, tính khí trầm majcm học vấn uyên thâm, tài ba lỗi lạc; mỗi khi nghị luận thường giữ đại thể nên vua Minh Mệnh rất kính nể thăng cho ông nhất phẩm văn thần (triều Nguyễn, từ vua Gia Long chưa phong ai đến trật ấy, mãi đến vua Minh Mệnh mới thăng cho ông là đâu tiên).

Ông làm quan, thế mà vẫn nghèo, ở Kinh làm việc, không có nhà rieeng, mãi đến năm Minh Mệnh thứ ba (1822) vua mới biết bèn ban cho ông hai ngàn quan tiền và ngói gạch để xây phủ đệ.

Ấy là vài nhân vật mới cách đây độ hoen trăm năm tức là 40, 50 năm trước hồi Pháp thuộc, mà tiết tháo làm quan còn cao như vậy; mới hay ngày trước các cụ ra làm quan chỉ chăm việc nước việc dân chư không nghĩ đến việc nhà.

Đó cũng là do noi gương vua Vũ ngày xưa trị thủy tám năm không về thăm nhà vậy.

***

Luật pháp nghiêm minh: con vua không được nể?

Trong thời Minh Mệnh, có một lần ông Hoàng Tám tên là Mân Phủ (con thứ 3 đức Minh Mệnh) cùng thủ hạ Hoàng Văn Vần quần ngựa trong thành. Ngựa lên cơn giẫm chết một bà cụ 80. Việc lên đến bộ Hình, các quan kết tội tên thủ hạ, mà nể Hoàng Tử, cho là vô can, miễn nghị.

Án đệ lên, vua Minh Mệnh xem phê: “Đường trong thành là chỗ nhân dân lai vãng, mà dám cho ngựa ruổi rong, tuy tên Vân phạm tội sát thương nhân song Mân Phủ phải hồi cho khổ chủ 200 lạng bạc. Tội đã liên đái, thì không xứng đáng là con vua; Mân Phủ tự hậu không được dự vào hàng Hoàng Tử. Còn tên Vân ỷ thế của Hoàng Tử cho nên miệt hị bần dân, luật qui trụ tâm, phải vấn quyết cho trọng nhân mạng.

Phạm Văn Điền

Người huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên, xuất thân tự lính Kinh Tượng làm đến chức Thống Chế, chuyên cai quản đội voi. Có tài vũ dũng, lại có can đẩm gan dạ, nên vua Minh Mệnh rất yêu quý, có ban cho ông thanh “Long Kiếm” được tiền trảm hậu tấu.

Trải bao chiến trận, công nghiệp lớn lao, thế mà có một lần đi kinh lý châu Lam Lệ làm việc không xứng chỉ, liền bị cách chức phải ra làm lính ở trấn Hải Đài.

Nguyễn Duy Hòa

Người ở Lê Thủy tỉnh Quảng Bình, lúc nhỏ rất chăm học, không chịu đầu Tây Sươn.

Năm 1793, vào nam, làm mạc khách của Nguyễn Văn Thành, năm sai được tiến cử vào triều ĐÌnh làm Hàn Lâm viện chế cáo. Vua Gia Long thấy người học rộng tài cao rất mến nể, sau thăng cho chức Hình Bộ hữ tham tri, đã có lần làm khảo quan trường thi Thăng Long.

Quan chức như thế, thế mà có một lần đi qua cửa Đoan môn vo ý không xuống xe, quan Hữu tư bắt lại phạt đánh 80 trượng.

Phạm Phú Thứ

Người huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, đậu Tiến Sĩ, triều Thiệu Trị, làm quan đến cơ mật viện đại thần. Vua Tự Đức rất là ỷ trọng thường trao giải quyết nhiều vấn đề ngoại giao can hệ. Nhất sinh ông làm quan chỉ chăm việc kinh tế cho dân, đã thi hành được nhiều phương lược lợi dân ích quốc, như thương khẩu Hải Phòng là chính ông thiết lập trong khi làm Tổng Đốc An Quảng.

Công huân như thế, mà có khi công vụ sơ xuất vua cũng không dám vì, luật pháp vô tư cũng phải bãi quan ra làm lính trạm, chạy công văn ở trạm Thửa Nông.

Quân pháp vô tư, luật lệ có nghiêm minh, thì dân tâm mới yên ổn.

Thưởng phạt có công bằng thì người hay mới muốn làm hay, mà người dở mới mong chừa dở.

***

Xét ngắm những cái quá khứ rực rỡ của ta, mà có thể tin rằng giòng giống của ta không đến nỗi yếu hèn.

Sáu mươi năm dưới quyền áp chế, người Pháp đã làm cho ta tiêu mòn một phần lớn cái nho phong sỹ khí thời xưa, gây cho ta một chế độ xấu xa, nên trong thời Pháp thuộc mới có những việc mà ta đã thấy.

Cố tren trúc lấy ngôi nô dịch

Ấm no riêng là thích chí rồi

Đúc nên tư cách tôi đòi

Nước suy mặc nước, dân đồi mặc dân

(Nguyễn Phan Lang)

Cho hay, hoàn cảnh có ảnh hưởng lớn đến nhân tâm. Nay gặp lúc này, trên quan dưới dân ai cũng một lòng vì nước, thì lo gì chả có lúc thái bình trị.


Nguồn: Tri Tân Tạp Chí, số 200, 1945


*

để lại phản hồi