Giáo dục Nam Kỳ từ 1861 đến 1904 – phổ biến chữ quốc ngữ và thế tục hóa trường học


Giáo dục Nam Kỳ từ 1861 đến 1904 – phổ biến chữ quốc ngữ và thế tục hóa trường học

Trần Thị Phương Hoa


Bài viết trình bày về giáo dục ở Nam Kỳ từ năm 1861 đến năm 1904, tập trung vào hai nội dung: ảnh hưởng của nhà thờ Cơ đốc giáo tới giáo dục Nam Kỳ và chủ trương thế tục hóa giáo dục Nam Kỳ kể từ năm 1881-1882 đến năm 1904 của chính quyền thực dân Pháp. Số liệu về trường học ở Nam Kỳ từ 1861 đến cuối thế kỷ XIX cho thấy vai trò quan trọng của nhà thờ Cơ đốc giáo đối với giáo dục, trong đó, số học sinh do giáo sĩ và các xơ giảng dạy tăng đều đặn và đã có lúc chiếm một nửa số học sinh Nam Kỳ (1895-1897). Năm 1881, dưới ảnh hưởng của Luật giáo dục Jules Ferry ở Pháp về giáo dục bắt buộc và thế tục, việc thế tục hóa giáo dục ở Nam Kỳ được đưa ra thảo luận. Tuy nhiên, cho đến năm 1897, số trường do các giáo sĩ phụ trách vẫn chiếm tỉ lệ cao. Vào năm 1897, Sở Học chính Nam Kỳ đề ra kế hoạch cải tổ giáo dục, chủ trương đẩy mạnh việc học tiếng Pháp trong các trường công lập. Năm 1902, Pháp lập Sứ mệnh phổ biến tiếng Pháp (la Mission laique francaise) và việc thế tục hóa giáo dục trở thành bắt buộc đối với giáo dục ở thuộc địa. Năm 1904, Ủy ban Học chính Nam Kỳ tuyên bố Sở Học chính Nam Kỳ đã chính thức mang tính thế tục. Các trường học công lập tách khỏi sự can thiệp của các giáo sĩ. Các trường do nhà thờ tổ chức được xếp vào hệ thống trường tư.

Ngay sau khi xâm chiếm Sài Gòn năm 1861, thực dân Pháp đã chú ý đến việc lập trường học, thay thế các trường Nho học bằng các trường dạy tiếng Pháp và quốc ngữ. Để thiết lập một nền giáo dục kiểu mới ở Nam Kỳ, các đô đốc phải nhờ sự trợ giúp đắc lực của các giáo sĩ. Việc dựa vào giáo sĩ để phát triển trường học ở Nam Kỳ giai đoạn từ 1861 đến cuối thế kỷ XIX có nhiều lý do. Thứ nhất, các giáo sĩ có công trong việc thúc đẩy Pháp xâm lược Nam Kỳ; thứ hai, đế chế Pháp năm 1861 dưới sự trị vì của Napoleon III có mối quan hệ gần gũi với Cơ đốc giáo La Mã, vốn là lực lượngđắc lực trợ giúpông ta lên ngôi; và thứ ba, chính quyền Pháp ở Nam Kỳ đối diện với sự chống đối mạnh mẽ của các nhà Nho, gây tình trạng thiếu giáo viên trầm trọng. Trong bối cảnh đó, các giáo sĩ đã tận dụng cơ hội để thâm nhập vào xã hội Nam Kỳ thông qua trường học. Tuy nhiên, kể từ năm 1881-1882, dưới ảnh hưởng của Luật Jules Ferry về giáo dục bắt buộc và thế tục[1], chính quyền Nam Kỳ bắt đầu tìm cách hạn chế ảnh hưởng của nhà thờ đối với trường học. Quá trình “thế tục hoá” tiến hành đồng thời với việc xây dựng một nền giáo dục công lập, thay thế các giáo sĩ bằng giáo viên được đào tạo từ các trường sư phạm; các trường học công lập là nền tảng cho giáo dục phải do chính quyền và Sở học chính quản lý; chính quyền chấm dứt tài trợ cho các trường học do nhà thờ tổ chức. Năm 1904, Sở Học chính Nam Kỳ tuyên bố nền học chính xứ này đã hoàn toàn mang tính thế tục, mở đầu cho một giai đoạn phát triển mới của trường học.

1. Giáo dục Nam Kỳ dưới ảnh hưởng của nhà thờ từ năm 1861 đến cuối thế kỷ XIX

Trong bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XIX, các giáo sĩ Đạo Thiên Chúa đóng một vai trò đầy mâu thuẫn. Một mặt họ đóng góp vào việc truyền bá một dòng văn hoá mới vào Việt Nam, trong đó có phổ biến chữ quốc ngữ và phát triển một nền giáo dục kiểu phương Tây; mặt khác họ chính là tác nhân thúc đẩy Pháp xâm lược Việt Nam. Linh mục E.Huc đã từng viết thư cho Napoleon III hối thúc nước Pháp chiếm đóng Việt Nam, “vẫn tự coi mình là kẻ đủ tư cách bàn bạc, bởi ông ta là linh mục, cho nên cuộc vận động [xâm lược Việt Nam] của ông ta được Hoàng đế xem như đề nghị tối quan trọng, nếu đề nghị ấy do một người khác đưa ra thì chắc chắn là chẳng bao giờ được chuyển đến tay Hoàng đế”[2]. Cùng với Huc, Giám mục địa phận Tây Nam Kỳ tên là Pellerin mở các chiến dịch tuyên truyền về tình trạng thảm thương của giáo sĩ ở Việt Nam và trực tiếp thuyết phục Napoleon III đưa quân vào Việt Nam. Trong khi các giáo sĩ Pháp vận động chính phủ Pháp can thiệp vào Việt Nam và được Napoleon III chấp thuận, thì ở Nam Kỳ họ đã xây dựng trường học trước khi quân đội Pháp xâm chiếm.

tiki1-Chính sách giáo dục Nam Kỳ cuối thế kỷ 19
Tham khảo thêm: <LINK>

Sau khi chiếm được Nam Kỳ, vai trò của các giáo sĩ lại càng quan trọng hơn bao giờ hết, như Cao Huy Thuần chỉ ra “rõ ràng chính phủ Pháp muốn áp dụng một chính sách Gia Tô giáo ở Nam Kỳ… Gia Tô giáo phải vừa là mục đích mà mọi nỗ lực của chính quyền thuộc địa hướng đến, vừa là phương tiện để củng cố sự xâm lăng và đô họ thực dân”[3], bởi vì họ có thể “biến người An Nam thành tín đồ Gia Tô và thành người Pháp”, như đô đốc Bonard viết trong thư gửi Napoleon III năm 1863[4]. Chính quyền không chỉ dựa vào các giáo sĩ để phát triển đạo Thiên Chúa mà còn nhằm triển khai một nền giáo dục “theo kiểu Pháp”, qua đó nhanh chóng đào tạo các nhân viên phục vụ cho chế độ thực dân, theo như nhận định của sử gia Cultru năm 1883 “Một nền hành chính bản xứ hoạt động dưới quyền kiểm soát của người Pháp, nhưng nhân sự không phải như trước: không phải là giới nho sĩ như trước, mà là do chúng ta [người Pháp] tạo nên, mà trước hết “là trong số người theo Thiên Chúa giáo”[5].

Những trường học quan trọng nhất được thành lập sau khi Pháp chiếm đóng Nam Kỳ đều do các giáo sĩ phụ trách. Theo ghi chép của Paulin Vial, giám đốc nội vụ Nam Kỳ (directeur de l’interieur en Cochinchine), trường Adran (college d’Adran) do Giám mục Lefèbre thuộc Hội thừa sai Paris,thành lập trước khi quân đội Pháp chiếm Sài Gòn[6].  Sau khi chiếm đồn Kỳ Hoà, đội quân viễn chinh Pháp do Phó Đô đốc Charner chỉ huy tiến vào Sài Gòn. Trong khoảng thời gian chưa tới một năm từ tháng 2-1861 đến tháng 11 cùng năm, Charner đã kịp thực hiện một số hoạt động tổ chức dân sự, trong đó có chủ trương mở lớp dạy tiếng Việt cho người Pháp và tiếng Pháp cho người Việt. Charner ban hành nghị định ngày 29-9-1861 cấp 30 học bổng cho college d’Adran, mà ông ta gọi là trường Pháp-Việt, để thu hút thanh niên Việt Nam đến học. Đồng thời, một giáo sĩ trẻ tuổi đảm nhiệm các khoá tiếng Việt dành cho các phiên dịch người Pháp. Để giúp cho các khoá học này, chính quyền phổ biến cuốn từ vựng Pháp-Việt và Việt-Pháp do trung tá hải quân Aubaret biên soạn để làm công cụ tra cứu cho cả người Pháp lẫn người Việt [7]. Năm 1862, Đô đốc Bonard đã tăng số học bổng cho college d’Adran lên 100, thêm 100 học bổng cho trẻ em mồ côi tại Saint-Enfance và tiếp tục hoàn thiện các khoá đào tạo phiên dịch, theo nghị định ngày 15-1-1862[8].

Nhu cầu đào tạo nhân viên cho bộ máy cai trị của Pháp trở nên cấp bách, đặc biệt khi các nho sĩ Việt Nam dường như không hề quan tâm đến những hoạt động giáo dục mới và tỏ thái độ chống Pháp quyết liệt, mặc dù người Pháp tìm mọi cách lấy lòng họ, cố gắng tìm hiểu đặc tính của họ, theo như mô tả của Vial “Họ [người An Nam] thông minh, nhạy cảm và có trí tưởng tượng sống động; họ thích những sự nghiệp lớn, họ say sưa trong những câu chuyện lãng mạn và huyền thoại cảm động… Họ thường là những người thanh lịch đầy u sầu duyên dáng, được thể hiện qua tác phẩm nổi tiếng nhất, Lục Vân Tiên, đã được ông Aubaret dịch sang tiếng Pháp”[9]. Ngày 5-6-1862, triều đình Huế đã ký Hiệp ước Sài Gòn, thoả thuận nhượng 3 tỉnh miền Đông và đảo Côn Lôn cho Pháp. Phía Pháp yêu cầu triều đình Huế “phải sớm gọi về những quan lại mà Triều đình đã phái đi, trước và trong lúc chiến tranh”[10] Việc ba tỉnh miền Đông bị Pháp chiếm, trong đó có Gia Định là nơi đặt trường thi Nho học ở Nam Kỳ, đã dấy lên làn sóng chống Pháp và tẩy chay làm việc cho Pháp “Thái độ bất hợp tác khắp nơi buộc các đô đốc toàn quyền muốn duy trì bộ máy hành chánh Pháp tại Nam Kỳ chỉ còn sử dụng được một số tối thiểu những công chức Việt Nam (phiên dịch, thư ký) mà thôi. Và chỉ duy trì những phần tử kém hạnh kiểm nhất trong dân”[11]Trong bối cảnh hầu hết các quan lại Việt Nam đã dời khỏi vùng bị chiếm trong phong trào Tị địa, còn các quân nhân Pháp thì “bị cô lập, không quan hệ được với dân chúng… không một kiến thức về phong tục địa phương.. hoàn toàn không biết những gì xảy ra xung quanh những chiến hào phòng thủ”[12], các đô đốc Pháp buộc phải tìm cách gấp rút đào tạo nhân viên người bản xứ phục vụ cho công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa. Và ở đây, các giáo sĩ trở thành chỗ dựa sống còn cho việc xây dựng bộ máy thực dân ở Nam Kỳ.

Vốn đã có kinh nghiệm xây dựng cộng đồng giáo dân ở Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng trong hơn hai thế kỷ, một cộng đồng có số lượng 600 ngàn người vào năm 1864[13], trước hết các trường dòng cung cấp những phiên dịch đầu tiên giúp kết nối người Pháp với người Việt, giúp người Pháp hiểu về con người và phong tục tập quán của vùng đất Nam Kỳ và đặc biệt là giúp chính quyền Pháp xây dựng những trường học đầu tiên. Mục tiêu của Thiên Chúa giáo và giáo dục đã được đồng nhất với nhau, trong nhận thức của nhiều sĩ quan Pháp “Nếu muốn dân An Nam tận tuỵ [với chúng ta] thì phải đẩy họ trở thành con chiên, … Hãy nói thật rõ rằng ta đưa họ vào Gia Tô giáo mà không cần cưỡng bức một ai, rồi ta sẽ ngạc nhiên thấy rằng Thánh giá mạnh hơn lưỡi gươm để xây dựng cái gì to lớn và lâu dài, để tạo nên những công dân trung thành và hy sinh tận tuỵ về sau”[14]

Ngay từ khi triển khai trường học mới, các giáo sĩ đã chủ trương chú trọng dạy chữ quốc ngữ để thay thế cho chữ Nho, nhằm cô lập các giáo dân khỏi ảnh hưởng của các nho sĩ. Theo Nguyễn Văn Trung, chính là Giám mục Puginier đã đề xuất dạy chữ quốc ngữ và phổ biến đạo Thiên Chúa thông qua quốc ngữ “…khi thay thế chữ nho bằng quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm mục đích cô lập các giáo hữu. Những người này sẽ không còn có thể đọc được những tác phẩm dễ đọc nhất của Trung Hoa và sẽ không thể thư từ gì được với bất cứ một sĩ phu Tàu hay Ta nào. Được giáo dục như thế, các thày người bản xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng quốc ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần tuý tôn giáo”[15]

Kế hoạch phổ biến chữ quốc ngữ được chính quyền Pháp triển khai mạnh mẽ. Ngày 16 tháng 7 năm 1864, Đô đốc La Grandière ra nghị định lập các trường tiểu học ở tất cả các trung tâm lớn của Nam Kỳ. Những trường này chủ yếu dạy viết, làm các phép tính và hình học đơn giản. Tờ Gia Định Báo viết bằng chữ quốc ngữ xuất bản năm 1865, được phân phối trong tất cả các trường học. Những giáo viên đầu tiên của những trường này là các thông dịch viên đã được đào tạo từ trường thông ngôn. Các đô đốc trực tiếp đôn đốc hoạt động của trường học “chính các đô đốc đã theo dõi công việc này với một sự quan tâm nồng nhiệt. Hễ mỗi khi đến thăm một làng nào đó, Đô đốc de la Grandiere đều tới thăm trường học. Ông ta thường ra câu hỏi cho học sinh, cho các em viết một bài hoặc giải các bài toán sơ cấp trên bảng và thưởng cho những học sinh trả lời tốt nhất”[16] Có khoảng 15 trường như vậy năm 1864 và tăng lên thành 30 năm 1865.

Nhằm thúc đẩy hơn nữa việc sử dụng chữ quốc ngữ, chính quyền đã luật hoá vấn đề này. Ngày 22-2-1869 Đô đốc Ohier ban hành Nghị định về việc sử dụng chữ “châu Âu” thay cho chữ Hán trong các văn bản hành chính. Nghị định này nêu rõ “Do việc viết chữ An Nam bằng con chữ châu Âu sáng tỏ hơn nhiều so với viết bằng chữ Nho truyền thống; do số người An Nam biết chữ châu Âu ngày càng tăng, nay quyết định:  kể từ ngày 1-4-1869 tất cả điều luật, nghị định, quyết định, phán quyết, chỉ thị đều viết bằng chữ châu Âu, với chữ ký của chính quyền[17]. Mặc dù nghị định này và nhiều nghị định về sử dụng chữ quốc ngữ trong văn bản hành chính không hề được thực thi trên thực tế[18], việc triển khai giảng dạy chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ được thực hiện rộng rãi. Khi trường học do các thông ngôn giảng dạy không đáp ứng được yêu cầu, nhu cầu sử dụng giáo sĩ làm giáo viên trở nên cấp thiết.

Năm 1866, Nam Kỳ tuyển dụng sáu sư huynh dòng La San từ Paris sang dạy tiếng Pháp cho người bản xứ[19]. Không chỉ trường Adran được đặt dưới sự phụ trách của các sư huynh mà sau đó một loạt trường học ở các tỉnh cũng do các sư huynh và các giáo sĩ thuộc Hội thừa sai Paris điều hành. Các giáo sĩ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong giảng dạy mà cả trong giao tiếp với người dân bản xứ, như nhận định của Léon Beugnot, phụ trách các vấn đề bản xứ ở Nam Kỳ “Khi một người truyền giáo biết một chút ngôn ngữ bản xứ, Hội truyền giáo sẽ gửi họ đến với những người bản xứ, và, chỉ một năm sau, nhà truyền giáo đã có thể trò chuyện với người bản xứ, trong khi những nhà cai trị có nhiều năm ở thuộc địa, không giao tiếp được với người dân và rất ít người có thể làm cho người dân hiểu được họ”[20]. Các đô đốc còn đặt một niềm tin to lớn đối với các giáo sĩ trong việc chinh phục người dân An Nam “Chúng ta cần những thừa sai… Chúng ta có thể nhanh chóng đạt đến kết quả vốn là mục tiêu của chính sách chúng ta: cải đạo, tức là đồng hoá dễ dàng một dân tộc với sự trợ giúp của những sư huynh, các trường dòng và các bà xơ”[21]

Cho đến năm 1889, Aymonier, giám đốc trường Thuộc địa ở Paris, nhận thấy chỉ có các giáo sĩ mới giải quyết được những khó khăn trong phổ biến tiếng Pháp ở Nam Kỳ “Quý vị có thể tài trợ cho các nhà truyền giáo hàng năm tới hai triệu, và không tiền nào đầu tư đúng chỗ hơn thế. “Chỉ có giáo dục mới buộc chặt muôn đời”, có người nói vậy và tôi thấy rất chí lý. Những nhà truyền giáo là những kẻ tung dây trói buộc tuyệt vời”[22] Và vai trò của giáo sĩ cũng như của cộng đồng Thiên Chúa giáo trong phổ biến tiếng Pháp ở Đông Dương được khẳng định “Hiện nay nếu không có các nhà truyền giáo và 600.000 người theo đạo Ki-tô, những người được xem là một yếu tố cắt đứt tính đồng nhất của nòi giống thì công cuộc của chúng ta sẽ phải vạn lần khó hơn.. phải dựa vào những hội truyền giáo và việc truyền bá tiếng Pháp”[23]

Trong khi đó, Emile Roucoules, giám đốc Học chính Nam Kỳ cũng nhấn mạnh đến vai trò của giáo sĩ khi đề cập đến lịch sử phát triển của giáo dục Nam Kỳ từ khi Pháp đặt chân lên xứ này  “Kể từ đó [1866] việc dạy tiếng Pháp cho dân bản xứ bắt đầu bắt rễ tại thuộc địa nhưng hoàn toàn nằm trong tay các nhà truyền giáo và tu sĩ đạo Ki-tô. Những vị này mau chóng mở thêm các trường khác tại các trung tâm tỉnh lỵ quan trọng nhất như Mỹ Tho, chợ Lớn và Vĩnh Long”[24]

Đồng thời với hoạt động của các trường do giáo sĩ phụ trách, các đô đốc cũng lập ra các trường mà họ gọi là “trường thế tục”, như một kiểu trường độc lập với trường “giáo sĩ”. Trường thành phố Sài Gòn được thành lập theo nghị định ngày 19-2-1868 do Đô đốc De la Grandiere ký. Trong báo cáo về giáo dục các xứ thuộc địa của Pháp tại Triển lãm thuộc địa năm 1900, Henri Froidevaux gọi trường này là “l’école municipal laique de Saigon”[25] (trường thế tục thuộc thành phố Sài Gòn).  Cùng thời kỳ này, một số trường nữ sinh được thành lập theo sáng kiến các nữ tu Saint-Paul de Chartres, những người đến Nam Kỳ từ năm 1860 để phục vụ cho bệnh viện và công việc của trường Sainte-Enfance.

Ghi chép của Paulin Vial và tài liệu lưu trữ cho thấy từ năm 1861 đến 1870 số trường và số học sinh tăng đáng kể, trong đó trường giáo sĩ và bà xơ phụ trách được liệt kê chi tiết: năm 1866 có 49 trường với 1.238 học sinh (trong đó có 2 trường cho trẻ em Pháp, do các sư huynh quản lý); năm 1867: 58 trường với 1.368 học sinh (2 trường sư huynh); năm 1868: 116 trường học nam với 3.067 học sinh (4 trong số đó do các sư huynh điều hành); ngoài ra, có 4 trường nữ sinh, do các nữ tu ở St. Paul de Chartres phụ trách, với 372 học sinh; năm 1869: 126 trường học nam (bao gồm 1 trường thế tục của thành phố Sài Gòn và 4 trường sư huynh): với 1.760 học sinh; cộng thêm 8 trường nữ sinh, với 500 học sinh; năm 1870: 131 trường học của nam sinh (bao gồm 1 chủng viện, 5 trường sư huynh và 1 trường học thành phố): 5,000 học sinh;  8 trường nữ sinh, với 530 học sinh.[26]

Bảng 1 cho thấy số trường học ở Nam Kỳ năm 1871, theo đó tổng số trường là 139, số học sinh là 5.578. So với năm 1866, số trường tăng gần gấp 3 và số học sinh tăng gần gấp 5 lần. Hơn một nửa số học sinh do các sư huynh và nữ tu phụ trách. Tất cả các trường đều nhận trợ giúp từ ngân sách Nam Kỳ

Trong khi đó, các trường Nho học vẫn được duy trì tự do, dù kỳ thi Nho học đã bị bãi bỏ ở Nam Kỳ. Chính quyền Pháp dường như bỏ bê những trường học này và không có chính sách gì đối với việc dạy chữ Nho. Trong khi đó, họ có kế hoạch bắt buộc trẻ em phải theo học trường Pháp-Việt nhưng biện pháp cực đoan như vậy chỉ có thể được thực hiện trong trường hợp đủ nguồn tài chính và nhân lực để mở trường ở tất cả các làng, với số lượng ít nhất là hơn hai nghìn. Theo nhận định của Vial, điều đó là bất khả thi vì “chúng tôi không có đủ giáo viên để thoả mãn điều đó”[27]

Bảng 1: Tình hình trường học ở Nam Kỳ, 1871

Trường Số trường Số học sinh
Trường thành phố Sài Gòn 1 131
trường Adran (nam) 1 117 Do các sư huynh phụ trách
Trường Ste-Enfance Sài Gòn (nữ) 1 102 Do các sơ Saint-Paul de Chartres phụ trách
Trường Ste-Enfance Sài Gòn (nam) 1 53
Chủng viện Sài Gòn 1 131 Giáo sĩ Hội thừa sai
Tổng số trường ở Sài Gòn 18 649
Chợ quán (nữ) 1 25
Chợ Lớn 8 197 Do các sư huynh phụ trách
Cangloc 3 177
Gò Công 2 98
Tân An 4 125
Tây Ninh 1 22
Trảng Bàng 3 92
Mỹ Tho 9 181 Trường Mỹ Tho do các sư huynh phụ trách
Ste-Enf Mỹ tho (nữ) 1 153 Trường do các sơ phụ trách
Cai Be 7 249
Biên Hoà 5 99
Bà Rịa 3 108
Long Thành 7 190
Thủ Dầu Một 6 161
Vĩnh Long 10 428
Bac Trang (nam) 2 78 1 trường của các sư huynh
Bac Trang (nữ) 2 156
Bến Tre 3 165
Mỏ Cày (nam) 6 420
Mỏ Cày (nữ) 2 278
Trà Vinh 3 97
Châu Đốc 2 67
Cần Thơ 9 317
Đông Xuyên 5 180
Sa Đéc 5 187
Sóc Trăng 4 99
Hà Tiên 1 8
Rạch Giá 2 38
Tổng 139 5.578

Nguồn: Annuaire de la Cochinchine, 1871

Năm 1879  chế độ soái phủ Nam Kỳ (Gouvernement des Amiraux) được thay thế bằng chế độ dân sự. Hai thống đốc dân sự đầu tiên, Myre de Vilers và Thomson, chủ trương mở rộng việc dạy tiếng Pháp và quốc ngữ trong trường học.Đây cũng là năm Sở Học chính Nam Kỳ được thành lập theo Nghị định ngày 17-3-1879. Cơ quan này, đứng đầu là giám đốc học chính, được đặt trực tiếp dưới quyền điều hành của Thống đốc Nam Kỳ[28].

Mặc dù có những quan điểm cho rằng cần duy trì truyền thống Nho học của Nam Kỳ, như ý kiến của Luro, giám đốc trường Tham biện[29], cho đến cuối thế kỷ XIX, ảnh hưởng của nhà thờ đối với giáo dục xứ này vẫn tiếp tục tăng. Theo niên giám Nam Kỳ năm 1876 trường tiểu học thế tục (laique) ở trung tâm Mỹ tho chỉ có 65 học sinh (trường này sau phát triển thành College Mỹ Tho, một trong những trường lâu đời nhất ở Nam Kỳ)  thì trường các sư huynhcó 135 học sinh[30]. Cũng năm này trường tiểu học ở Vĩnh Long có 45 học sinh, trong khi trường sư huynh và trường các sơ có hơn 100 học sinh[31].

Việc đặt trường học dưới sự giảng dạy của các giáo sĩ chứa đựng nhiều vấn đề, trong đó có  việc chương trình do các giáo sĩ biên soạn còn sơ sài, chủ yếu chỉ giúp học sinh biết đọc, viết và làm tính, theo đánh giá của Henri Froidevaux “Các giáo sĩ đã lập ra một số trường tự do để giảng dạy những chương trình hết sức đơn giản, một ít bài đọc và viết bằng chữ quốc ngữ[32] và bốn phép tính. Các xơ của tu viện Saint-Paul de Chartres đã mở một số trường học ở một số vị trí quan trọng nhất. Các nữ sinh bản xứ được giáo dục ở bậc sơ học, mang tính thực tế”[33] Giám đốc Học chính Nam Kỳ Roucoules nhận định rằng các giáo sĩ chỉ chú trọng vào việc dạy chữ quốc ngữ bởi vì mục tiêu của họ chỉ là nhằm giúp giáo dân có thể dễ dàng đọc kinh cầu nguyện “những vị lãnh đạo tâm linh tối cao của các nhà truyền giáo và các nữ tu đã tuyên bố rằng giáo dục dân bản xứ không phải là mục tiêu của họ, và việc dạy tiếng Pháp lại càng xa vời. Vì vậy, họ chỉ còn truyền dạy chữ quốc ngữ cần thiết để học kinh cầu nguyện”[34]. Nhận xét này của Roucoules cho thấy, ở vào thời kỳ đầu đặt bộ máy cai trị ở Nam Kỳ, cũng là thời kỳ bắt đầu triển khai một nền giáo dục mới, mối quan hệ giữa chính quyền Pháp và các giáo sĩ hết sức khăng khít, dựa trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Chính quyền lợi dụng giáo sĩ để phổ biến giáo dục kiểu mới trong bối cảnh thiếu thốn nguồn nhân lực, các giáo sĩ được lợi nhiều từ nguồn ngân sách Nam Kỳ để triển khai các chương trình dạy chữ quốc ngữ, cũng là một phần quan trọng trong công cuộc phát triển Thiên Chúa giáo ở xứ này.

Có thể nói từ năm 1879 đến cuối thế kỷ XIX, mặc dù Nam Kỳ có giám đốc Học chính, cũng như có Hội đồng cấp cao về giáo dục (commission superieure de l’Instruction publique), bức tranh giáo dục Nam Kỳ mang đậm tính pha trộn hỗn hợp của các trường thế tục, trường giáo sĩ và sư huynh, trường dạy chữ Nho. Sự pha trộn thể hiện qua thành phần nhân sự của Hội đồng cấp cao về giáo dục cũng như về sự đa dạng của trường học. Trong số 12 thành viên của Hội đồng cấp cao về giáo dục Nam Kỳ năm 1880 có 2 đại diện của nhà thờ Cơ đốc giáo là giám đốc trường college d’Adran và giám mục thành phố Sài Gòn[35].

2. Đẩy mạnh quá trình thế tục hoá giáo dục ở Nam Kỳ, 1881-1904

Vào những năm 1880-1882, khi quá trình thế tục hoá diễn ra mạnh mẽ ở Pháp trong bối cảnh Jules Ferry ra Bộ luật quy định giáo dục mang tính thế tục, miễn phí cho trẻ em dưới 13 tuổi, ở Nam Kỳ khái niệm giáo dục thế tục (laique) và thế tục hoá (laicisation) bắt đầu được đưa vào chương trình nghị sự của chính quyền Nam Kỳ. Ngay từ năm 1881, một số đại biểu trong Hội đồng Nam Kỳ   đề xuất ngừng cấp kinh phí cho các trường giáo hội và tập trung nguồn lực vào các trường thế tục cũng như trao quyền kiểm soát trường học và xây dựng nội dung chương trình cho chính quyền và Sở học chính. Để thế tục hoá trường Adran, trước hết người ta đề xuất thay các thày giáo dạy giáo lý nhà thờ bằng giáo viên từ trường Chasseloup Laubat, những giáo viên “thế tục và không chịu sự điều khiển của nhà thờ”[36]. Trong phiên họp ngày 13-12-1882, có ý kiến đề nghị chuyển tất cả học bổng của học sinh trường Adran cho các trường thế tục và các giáo viên của trường dòng phải có bằng cấp sư phạm, tương tự như đòi hỏi đối với giáo viên trường thế tục. [37] Tuy nhiên, kinh nghiệm giảng dạy và nhiệt tình của các giáo sĩ đã bù lấp đáng kể vào sự thiếu hụt giáo viên và trường học Nam Kỳ vẫn nằm dưới sự bảo trợ của họ. Ngoài những viên thông ngôn còn rất trẻ đảm nhiệm việc giảng dạy, nguồn giáo viên quan trọng nhất vẫn là các giáo sĩ, thày giảng. Năm 1881,  giáo hội ở Nam Kỳ có 1 giám mục; 49 giáo sĩ Pháp, 28 linh mục người Việt, 15 thày dòng, 103 giáo viên nam và nữ. Họ phụ trách 35 giáo xứ lớn, 171 chi nhánh, 158 nhà thờ với 47.612 giáo dân trên toàn Nam Kỳ. Các cơ sở giáo dục của nhà thờ gồm 2 chủng viện với 225 học sinh, 1 trường thày dòng với 45 học sinh; 70 trường tiểu học với 1.897 học sinh và 1.872 học sinh nữ; 4 trường đào tạo nữ giáo viên; trường Taberd dành cho con lai có 66 học sinh. Tất cả các trường học đều miễn phí, học sinh còn được cấp quần áo, thức ăn và sách vở.[38]

Mặc dù vấn đề “thế tục hoá” giáo dục được đưa ra bàn luận từ năm 1881-1882 ở Nam Kỳ, thực tế cho thấy số trường do giáo sĩ đảm nhiệm không giảm mà lại tăng lên. Đồng thời cáctrường dạy chữ Nhocũngtăng mạnh. Năm 1886, Sở Học chính Nam Kỳ quản lý một hệ thống trường học đa dạng, gồm trường do giáo sĩ phụ trách (ngân sách Nam Kỳ), trường hàng quận (ngân sách Nam Kỳ), trường hàng tổng (ngân sách tỉnh), trường xã (ngân sách làng xã), trường chữ Nho (xem bảng 2)

Bảng 2: Trường học Nam Kỳ 1886
Loại trường số lượng giáo viên châu Âu giáo viên bản xứ số học sinh
trường hàng quận 16 24 51 1.553
trường hàng tổng 219 0 270 10.441
trường xã 91 0 91 3.416
trường chữ Nho 426 0 426 8.496
trường do giáo sĩ phụ trách 68 14 79 3.567
Tổng 820 38 917 27.473

Nguồn: Annuaire de la Cochinchine pour l’annee 1886,113

Bảng 2 cho thấy vào năm 1886  trường dạy chữ Nho  chiếm số lượng lớn (hơn một nửa số trường học ở Nam Kỳ), và số học sinh chiếm 1/3 tổng học sinh toàn Nam Kỳ. Điều này cho thấy khái niệm “thế tục hoá” ở Nam Kỳ được hiểu là “chấp nhận các trường học với những giáo lý khác nhau”.

Năm 1886 Nam Kỳ được chia làm 21 quận (arrondissement), trong đó 16 quận có trường hàng quận đặt ở trung tâm.  Đây là những trường tiểu học với khoảng 3800 học sinh được học hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Các trường Tiểu học hàng quận lớn nhất là trường Biên Hoà, trường Gia Định, trường Bến Tre (mỗi trường có 10 giáo viên); các trường nhỏ hơn như Vĩnh Long, Sóc Trăng, Gò Công, Tây Ninh, Sa Đéc, Tân An, Long Xuyên …mỗi trường có từ 4-7 giáo viên với khoảng 100-150 học sinh[39]. 3 trường lớn nhất Nam Kỳ được ngân sách Nam Kỳ tài trợ hoàn toàn là collège Chasseloup Laubat (320 học sinh có học bổng), collège d’Adran (280 học sinh có học bổng), collège Mỹ Tho (220 học sinh có học bổng)[40]

Năm 1892 chính quyền dừng cấp kinh phí cho trường college d’Adran, cơ sở của trường được dùng làm nơi đặt trường nữ sinh thành phố, sau đó là cho trường tiểu học nam và  trường Nam Sư phạm sử dụng. Như vậy, nhà thờ chỉ còn tham gia bảo trợ cho bậc Sơ học. Ở bậc học này, ảnh hưởng của nhà thờ vẫn còn rất lớn. Năm 1892 ở Nam Kỳ có 149 trường do giáo hội tổ chức với 7.490 học sinh (4.181 nam và 3.309 nữ)[41], chiếm khoảng ½ số học sinh Nam Kỳ[42]

Năm 1897, tổng số học sinh do Hội truyền giáo và dòng Lasan bảo trợ là hơn 11.157, với 5.899 học sinh nam và 5.258 học sinh nữ, quan trọng nhất là trường nam sinh Taberd và trường nữ sinh do các bà sơ của  Saint Paul hay trường Providence dạy dỗ. Báo cáo của giám mục Depierre đại diện Tổng Tòa Đàng Trong vào tháng 10-1897 mô tả những trường này như sau “Hơn 10 ngàn trẻ em theo học các trường tiểu học do các tu sĩ Thiên Chúa giáo phụ trách. Sau khi học viết được ngôn ngữ của họ bằng bảng chữ cái mới (tức là chữ quốc ngữ), những học sinh thông minh nhất sẽ được học tiếng Pháp hoặc được gửi đến các trường Pháp tại thuộc địa. Số trẻ được học tiếng Pháp là 2.200. Ngoài ra giáo hội còn mở các trường miễn phí thu hút học sinh thành phố và vùng ngoại ô đến học”[43].

Trong bối cảnh các trường học do nhà thờ tổ chức và số học sinh do các giáo sĩ và bà xơ giảng dạy vẫn chiếm số đông, vào năm 1897, chính quyền Pháp đã soạn thảo kế hoạch cải tổ lại giáo dục ở Nam Kỳ.Ngày 20-4-1897, ông Roucoules là giám đốc Học chính Nam Kỳ đã đưa ra một dự án về tổ chức lại nền học chính ở xứ này, trong đó ông đặt lên hàng đầu tầm quan trọng của chính quyền trong quản lý giáo dục. Theo dự án này, nền học công lập gồm trường bản xứ và trường Pháp. Trường bản xứ ở Cấp I gồm trường hàng quận (les écoles d’arrondissements) và trường hàng tổng (les écoles contonales); các trường Cấp II gồm 1 trường sư phạm đào tạo giáo viên (une école normales d’instituteurs), 1 trường cao đẳng tiểu học (une école primaire superieure); ngoài ra còn có các trường tập nghề và dạy nghề (des écoles d’apprentissage et des écoles professionnelles). Trường Pháp sẽ có từ bậc đồng ấu đến trung học, sử dụng chương trình của Pháp chính quốc.[44] Dự án này đã được đưa ra bàn thảo tại phiên họp 7-5-1897 của Hội đồng thuộc địa và về cơ bản nhận được sự đồng thuận của Hội đồng.

Ngày 20-9-1897 Hội đồng Giáo dục Nam Kỳ đã lên kế hoạch tổ chức lại học chính Nam Kỳ và ấn định chương trình cho các trường bản xứ, thiết lập trường tập nghề Sài Gòn. Ở kết luận cuối cùng, Hội đồng cho rằng ưu tiên của học chính Nam Kỳ là phải phổ biến tiếng Pháp một cách đại trà, sao cho đến năm 1908 tất cả các văn bản phải viết bằng tiếng Pháp; lập một trường tập nghề trong trường Chasseloup Laubat. [45] Chủ trương phổ biến tiếng Pháp của chính quyền Nam Kỳ dường như đi ngược lại với thực tiễn trường học được nhà thờ tổ chức là hướng tới đại trà, sử dụng quốc ngữ nhằm thu hút đông người đến nghe giảng và đọc Kinh thánh.

Đến đầu thế kỷ XX, kể từ năm 1901, vấn đề thế tục hoá giáo dục trở thành nội dung chủ chốt trong các phiên họp Hội đồng Nam Kỳ.  Với một gánh nặng ngân sách hàng năm cho các trường công giáo và trường Thuộc địa, xây dựng các trường học cho người bản xứ, chẳng hạn mở rộng trường Mỹ Tho, Bến Tre và khu bản xứ của trường Chasseloup Laubat, mở thêm trường nam sinh Sài Gòn, dường như là nhiệm vụ khó khăn, như nhận định của Uỷ ban giáo dục năm 1903 “Vấn đề thế tục hoá giáo dục được quan tâm vì tầm quan trọng của nó, nhưng đã gặp khó khăn do trở ngại về vật chất, khiến cho nhiệm vụ này trở nên không thể thực hiện được, và chúng ta đã từng phải đóng đề xuất này lại”[46]. Vào cuối thế kỷ XIX, khi số trường công giáo chiếm tỉ lệ lớn trong giáo dục Nam Kỳ, chi phí cho trường trở thành gánh nặng ngân sách. Năm 1887, ngân sách cho 280 học sinh của trường college d’Adran là gần 54 ngàn piastre(đồng Đông Dương), gần bằng chi phí cho college Chasseloup Laubat (54,5 ngàn piaster) và nhiều hơn trường Mỹ Tho (hơn 33 ngàn piaster)[47]. Cuối năm 1902, chính quyền bắt đầu cắt kinh phí dành cho các trường công giáo và tập trung nhiều hơn cho việc xây các trường ở tỉnh cũng như đầu tư cho trường dạy nghề. Năm 1903 chủ trương thế tục hoá giáo dục được gắn liền với dự án mở rộng trường Chasseloup Laubat trị giá hơn 250 ngàn piastre phục vụ cho học sinh bản xứ, như giải trình tại cuộc họp Hội đồng Nam Kỳ tháng 7-1903 “Vấn đề thế tục hoá giáo dục Nam Kỳ hiện đang được nghiên cứu. Trước hết, cần phải mở rộng trường Chasseloup Laubat, một dự án không nên trì hoãn nếu ta có đủ nguồn lực. Vấn đề thế tục hoá, vẫn còn phức tạp vì liên quan đến nhiều việc, trong đó có việc cấp học bổng cho học sinh ở các trường học xứ thuộc địa”[48]

Năm 1902 Sứ mệnh phổ biến tiếng Pháp (la Mission laïque française) được thành lập nhằm phổ biến tiếng Pháp trong các trường học bên ngoài nước Pháp. Trong phiên họp Hội đồng Nam Kỳ ngày 3-8-1904, Báo cáo của Uỷ ban giáo dục Nam Kỳ nêu rõ “Uỷ ban vui mừng thông báo rằng niềm mong mỏi mà Hội đồng Nam Kỳ đã đưa ra từ lâu hiện đã được đáp ứng: Sở Học chính giờ đây đã hoàn toàn mang tính thế tục[49]. Việc thế tục hóa đặt ra cho chúng ta những nhiệm vụ mới, như ngài Toàn quyền đã nói, là phải có những trường học thật tốt, những trường học lớn, những giáo viên chất lượng cao ở nhiều trình độ để đáp ứng những nhu cầu khác nhau”[50] Cũng trong phiên họp này, Hội đồng yêu cầu Bộ thuộc địa tiến hành “thế tục hóa” tất cả các ngành, đặc biệt là giáo dục và y tế.

Bảng 3: Trường công cho người bản xứ ở Nam Kỳ, 1902

Tỉnh Số trường Loại trường Số học sinh Số giáo viên
Bạc Liêu 3 tổng 230 7
Bà Rịa 5 4 trường tổng và 1 tiểu học cấp tỉnh 13
Bến Tre 6
Biên Hoà 6 5 trường tổng và 1 tiểu học cấp tỉnh 354 7
Cần Thơ 10 trường tổng 866 18
Châu Đốc 6 5 trường tổng và 1 tiểu học cấp tỉnh 240 10
Chợ Lớn 10 9 trường tổng và 1 trường thành phố 10
Gia Định 18 16 trường tổng; 1 trường hàng quận; 1 trường sư phạm 24
Gò Công 33 5 trường hàng tổng, 27 trường xã, 1 trường hàng tỉnh 1073 45
Hà Tiên 4 3 trưởng tổng, 1 trường tiểu học hàng tỉnh 5
Long Xuyên 11 10 trường tổng, 1 trường tiểu học nam 21
Mỹ Tho 4 3 trưởng tổng, 1 trường college 9
Rạch Giá 7 trường tổng 356 13
Sa Đéc 6 5 trường tổng, 1 trường hàng tỉnh 9
Sóc Trăng 1 trường hàng tỉnh 6
Tân An 15 14 trường xã, 1 trường tiểu học nam 18
Tây Ninh 8 7 trường hàng tổng, 1 tiểu học nam 12
Thủ Dầu Một 10 9 trường hàng tổng, 1 tiểu học nam 830 14
Trà Vinh 8 7 trường hàng tổng, 1 tiểu học nam 392 16
Vĩnh Long 5 4 trường hàng tổng, 1 tiểu học nam 10
Thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn 2 1 trường nam , 1 trường nữ 560 20
Thành phố Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu)
 Tổng 172 4901 293

Nguồn: Annuaire général de l’Indochine, 1902

Bảng thống kê trường học Nam Kỳ (bảng 3) công bố trong Niên giám Đông Dương năm 1902 cho thấy trừ thành phố Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu), 21 tỉnh/thành còn lại của Nam Kỳ đều có trường học, và không có trường học nào của nhà thờ cũng như không trường chữ Nho nào được đưa vào danh sách. Những trường này được xếp vào hệ thống trường tư.

Các trường học công lập được phân loại từ thấp lên cao là trường hàng tổng (écoles cantonnales), trường hàng quận (écoles d’arrondissement), trường hàng tỉnh (écoles provinciales). Phổ biến nhất là trường tổng, trong đó Gia Định có nhiều nhất, với 15 trường. Tổng số trường công cho người bản xứ là 172, với 293 giáo viên. Số học sinh được công bố trong niên giám là 4.901, nhưng trên thực tế con số này có thể lớn hơn do 12/22 tỉnh không có số liệu cụ thể về học sinh. Năm 1905, tổng số học sinh Nam Kỳ là 16.000,[51] chỉ bằng với con số thống kê năm 1895, khi ảnh hưởng của nhà thờ vẫn còn duy trì. Nếu tính riêng trường thế tục thì số học sinh đã tăng gần 10.000[52]

Ngày 27-4-1904, Toàn quyền Beau đã ký Nghị định lập ra chức vụ Tổng thanh tra Học chính Đông Dương, trực thuộc Toàn quyền Đông Dương. Thanh tra Học chính có trách nhiệm kiểm tra việc dạy và học ở tất cả các trường công và tư trên toàn xứ Đông Dương theo một kế hoạch được Toàn quyền phê duyệt trước.[53] Việc đặt ra vị trí thanh tra giáo dục Đông Dương khẳng định một chính sách giáo dục thống nhất và thế tục, với vai trò kiểm soát thuộc về chính quyền.

Ngày 14-11-1905, Tổng thống Pháp ký Nghị định lập Tổng Nha học chính Đông Dương, do Henri Gourdon làm giám đốc[54]. Henri Gourdon được mô tả là người quyết liệt theo đuổi sự nghiệp thế tục hoá giáo dục và bản thân coi các hoạt động của Mission laique francaise là nghĩa vụ quan trọng nhất mà ông phải thực hiện ở Đông Dương[55]

Kết luận

Giáo dục Nam Kỳ có nhiều thay đổi kể từ khi Pháp xâm chiếm và đặt xứ này dưới chế độ trực trị. Để có thể “giáo hoá” xã hội Việt Nam luôn có thái độ chống Pháp quyết liệt, chính quyền Pháp đã nhìn thấy vai trò to lớn của các giáo sĩ trong việc thâm nhập vào đời sống người dân và triển khai một nền giáo dục mới, thay thế chữ Nho bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Trong khi đó, thế lực nhà thờ, với đại diện là các giáo sĩ thừa sai và các sư huynh dòng Lasan cũng dựa vào nguồn lực tài chính của chính quyền để thực hiện các nghĩa vụ tôn giáo. Mối quan hệ chặt chẽ giữa các giáo sĩ với chính quyền, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục ở Nam Kỳ từ năm 1861 cho đến đầu thế kỷ XX cho thấy một mối quan hệ đặc biệt của “thần quyền”, khi cả hai bên đều phải dựa vào nhau phục vụ cho các mục tiêu riêng.

Từ năm 1861 đến năm 1879, thời kỳ Soái phủ, dưới sự quản lý của các đô đốc, các trường dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp sớm được mở ở nhiều tỉnh, trong đó hơn một nửa dưới sự bảo trợ của các giáo sĩ cũng như các xơ thuộc Hội truyền giáo Paris và các sư huynh thuộc dòng Lasan. Năm 1879, chế độ Soái phủ chấm dứt, bắt đầu thời kỳ các thống đốc nắm quyền, cũng là năm Sở Học chính Nam Kỳ thành lập, nền học chính trực tiếp do các thống đốc giám sát và điều hành. Kể từ năm 1881-1882, chính quyền Nam Kỳ đã có kế hoạch thu hẹp ảnh hưởng của nhà thờ và tập trung ngân sách phát triển các trường thế tục. Tuy nhiên, do thiếu giáo viên, việc giảng dạy vẫn nằm trong tay các giáo sĩ và các sư huynh. Đặc biệt, trong giai đoạn từ 1881 đến 1897, các trường Nho học hồi phục với số lượng học sinh tăng cao, chiếm 1/3 tổng số học sinh toàn Nam Kỳ. Năm 1895, Nam Kỳ có trên 300 trường học và hơn 15 ngàn học sinh, trong đó có đến 10 ngàn học sinh do các giáo sĩ giảng dạy. Bên cạnh đó, các trường Nho học cũng được phục hồi và không ngừng tăng. Vào năm 1897, Sở Học chính Nam Kỳ quyết định cải tổ lại nền học chính công, chủ trương đẩy mạnh việc học tiếng Pháp. Năm 1902 Pháp lập Mission laique francaise, tăng cường việc mở trường học để phổ biến tiếng Pháp bên ngoài nước Pháp. Năm 1904 Hội đồng Nam Kỳ tuyên bố giáo dục Nam Kỳ đã hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng nhà thờ và mang tính thế tục, các trường học do chính quyền quản lý không còn sử dụng các giáo sĩ làm giáo viên và chính quyền chấm dứt cấp kinh phí cho các trường do nhà thờ tổ chức. Tất cả các trường do nhà thờ tổ chức và trường Nho học đều được xếp vào hệ thống trường tư.

 


[1]Jules Ferry làm Bộ trưởng Giáo dục Pháp từ năm 1879 đến 1883 (bị ngắt quãng từ tháng 11-1881 đến tháng 1-1882, khi Paul Bert làm Bộ trưởng). Năm 1881 Jules Ferry soạn bộ luật Giáo dục mới cho nước Pháp, trong đó năm 1881 ra quy định về giáo dục tiểu học miễn phí; năm 1882 ra tiếp các điều luật về giáo dục thế tục, phi tôn giáo và bắt buộc cho tất cả trẻ em từ 7 đến 13 tuổi. Kể từ năm 1882, “cấm các trường học nhà nước không được giảng dạy tôn giáo và chương trình học mang tính thế tục hoàn toàn”; xem W.D. Halls, Edmund J. King, 1976, Education, Culture and Politics in Modern France, Elsevier Ltd, Pergamon Press, tr.8.  Khái niệm “thế tục hoá” giáo dục (education laïque, laïcisation) có thể hiểu: 1)tách rời giáo dục công khỏi nhà thờ; 2) chấp nhận sự truyền giảng của mọi tôn giáo chứ không riêng gì Cơ đốc giáo; 3) ngăn cấm, trừng phạt mọi nội dung có yếu tố tôn giáo trong giáo dục công lập. Luật Jules Ferry năm 1881-1882 quy định “trường học phải là công lập và thế tục, không được giao cho giới tăng lữ quản lý vì họ không quan tâm đến xã hội hiện đại”, Xem Walter Kuster, Marc Depaepe, 2011, “The French Third Republic: Popular Education, Conceptions of Citizenship and the Flemish Immigrants The French Third Republic: Popular Education, Conceptions of Citizenship and the Flemish Immigrants”, Historical Studies in Education/Revue d’histoire de l’éducation, Vol21, No1, tr.27. Động cơ thế tục hóa giáo dục của Ferry còn xuất phát từ nhu cầu xây dựng một nền Cộng hòa cho nước Pháp, trong đó giáo dục có vai trò quan trọng trong việc khẳng định diện mạo và sức mạnh quốc gia.

 

[2]Theo Nguyễn Xuân Thọ, 2018, Bước mở đầu của sự thiết lâp hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897), Omega, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.124

[3]Cao Huy Thuần, 2018, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, Tái bản lần 3, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.126

[4]Dẫn theo Cao Huy Thuần, 2018, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, Tái bản lần 3, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.140

[5]Cultru, 1883,  Histoire de la Cochinchine des origines à 1883, Paris Augustin Challamel, Éditeur, tr.298

[6]Paulin Vial, 1872, L’Instruction publique en Cochinchine, Paris: Challamek Ainé, Éditeur, tr.7. Theo Cao Huy Thuần thì phải tới năm 1863, college d’Adran mới thành lập, xem Cao Huy Thuần, 2018, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, Tái bản lần 3, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.143. Ở đây chúng tôi sử dụng tài liệu của Paulin Vial.

[7]Paulin Vial, 1872, L’Instruction publique en Cochinchine, Paris: Challamek Ainé, Éditeur, tr.8

[8]Tham khảo nội dung của Nghị định 15-1-1862 do Bonard ký trên trang chủ của Dòng Lasan Việt Nam, http://lsvn.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=86

[9]Paulin Vial, dd, tr.9

[10]Nguyễn Kỳ Nam, 2016, Nước Pháp với Việt Nam đã mấy lần ký hiệp ước, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.49

[11]Nguyễn Xuân Thọ, 2017, Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897), Nhà sách Omega, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.146

[12]Cao Huy Thuần, 2018, Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, ..tr. 138

[13]Paulin Vial, 1874, Les prèmieres années de la Cochinchine, Paris: Challamel Aine, Libraire-Éditeur, 312

[14]Cao Huy Thuần, 2018, sdd, 141

[15]Nguyễn Văn Trung, 1974, Chữ văn quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc, Nam Sơn xuất bản, 19

[16]Paulin Vial, dd, tr.9

[17]Lưu trữ Quốc gia II, thành phố Hồ Chí Minh, Gouchoch-6961

[18]Tác giả Nguyễn Phương Nam đã khảo sát khối tài liệu trong kho Lưu trữ II, thuộc Phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ và nhận thấy “chỉ có tài liệu tiếng Pháp, rất ít (có thể nói là hầu như không có) tài liệu tiếng Việt” và trên thực tế chỉ có chữ Pháp được sử dụng duy nhất bắt buộc đối với văn bản hành chính. Xem Nguyễn Phương Nam, 2015, “Chữ quốc ngữ latinh” và vấn đề công ngữ trong hệ thống văn bản hành chính thời thuộc Pháp tại Nam Kỳ thuộc địa”, Văn thư-Lưu trữ Việt Nam số 11/2015, tr.21-26

[19]Dòng La San (hay Dòng Sư huynh La San; còn gọi là Dòng Anh Em Trường Kitô;  tiếng Pháp là Frères des Ecoles Chretiennes) là một dòng tu Công giáo Rôma với nhiệm vụ giáo dục là chủ yếu, đặc biệt là giáo dục cho trẻ em nghèo. Hệ thống các trường học thuộc dòng này có chất lượng giáo dục tốt nổi tiếng trên thế giới.

[20]Léon Beugnot, 1879, L’Administration de la Cochinchine francaise, Paris Imprimerie V Goupy et Jourdan, tr.21

[21]Cao Huy Thuần, 2018, sdd, 140

[22]Etienne Francois Aymonier Emile Rocoules, 2018, Chính sách giáo dục tại Nam Kỳ cuối thế kỷ 19, Lại Như Bằng dịch và chú giải, Nhà xuất bản Thế giới, tr.78

[23]Etienne Francois Aymonier Emile Rocoules, 2018, Chính sách giáo dục.. tr. 104

[24]Etienne Francois Aymonier Emile Rocoules, 2018, Chính sách giáo dục.. 157-158

[25]Henri Froidevaux, 1900, L’Ouvre scolaire de la France aux Colonies, Paris: Augustin Challamel Éditeur, tr.158; kết hợp số liệu lưu trữ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Goucoch-1416, 1417, 1440, 3356

[26]Pauline Vial, dd, tr.14

[27]nt, tr.11

[28]Theo Henri Froidevaux, dd, tr.160

[29]Năm 1873, Luro, nguyên là sĩ quan hải quân, đề xuất mở trường đào tạo nhân viên để phục vụ cho bộ máy công quyền ở Nam Kỳ, gọi là trường Tham biện hậu bổ, hay trường tập sự hành chính (College des stagiaires). Nghị định ngày 29-8-1873 chính thức thành lập trường Tham biện hậu bổ Sài Gòn do Luro làm giám đốc. Theo ông ta, nhân viên Pháp phải học lịch sử, ngôn ngữ, phong tục tập quán của người bản xứ để phục vụ cho bộ máy hành chính ở Nam Kỳ.

[30]Annuaire de la Cochinchine pour l’année 1876,Saigon: Imprimerie du Gouvernement, 1876,tr. 153

[31]Annuaire de la Cochinchine pour l’année 1876, tr.159

[32]Henri Froidevaux, nguyên văn “viết tiếng An Nam bằng chữ latin”

[33]Henri Froidevaux, tr.162

[34]Etienne Francois Aymonier Emile Rocoules, 2018, Chính sách giáo dục.. 143-144

[35]Các thành viên gồm giám đốc Nội vụ làm chủ tịch Uỷ ban, thị trưởng Sài Gòn, giám đốc Học chính, thanh tra các vấn đề bản xứ, tham biện Sài Gòn và Chợ Lớn, giám đốc trường Chasseloup Laubat, giám đốc trường Adran, cha xứ Sài Gòn, 1 bác sĩ hải quân, 1 giáo sư người bản xứ (Ông Trương Vĩnh Ký nắm giữ vị trí này), giám đốc phụ trách văn phòng Nội vụ nơi đặt Sở học chính, xem Annuaire de la Cochinchine pour l’annee 1880,Saigon Imprimerie du gouvernement, 1879, tr.57.

[36]Proces Verbaux du Conseil Colonial(Session ordinaire de 1882), Saigon Imprimerie du Gouvernement, 1882, tr.146

[37]Proces Verbaux du Conseil Colonial(Session ordinaire de 1882), Saigon Imprimerie du Gouvernement, 1882, tr.187

[38]Procès verbaux du Conseil colonial,(Session ordinaire de 1881), Saigon Imprimerie du Gouvernement, 1881, tr.37

[39]Procès verbaux du Conseil colonial,(Session ordinaire de 1886-1887), Saigon Imprimerie du Gouvernement, 1887,162

[40]Procès verbaux du Conseil colonial,(Session ordinaire de 1886-1887),tr.168

[41]“Demande de subvention formulée par Mgr l’évêque de Saigon”, Procès verbaux du Conseil colonial,(Session ordinaire de 1892), Saigon Imprimerie Coloniale, 1892,tr.68

[42]Theo Henri Froideux, năm 1895 tổng số học sinh toàn Nam Kỳ là 15.000, trong số 300 ngàn trẻ em độ tuổi đến trường ở xứ này, xem Henri Froideux, dd, tr.164

[43]Báo cáo của giám mục Depierre đại diện Tổng Tòa Đàng Trong vào tháng 10-1897 về tình trạng của các trường truyền giáo năm 1896-1897 “Situation des écoles de la Mission en Cochinchine”, Procès-Verbaux du Conseil Colonial (Session ordinaire de 1897-1898), Saigon Imprimerie Coloniale, 1898, 57

[44]Cochinchine francaise, 1897, Proces Verbaux du Conseil Colonial, Séance du 7 Mai1897, “Projet d’arrete sur la reorganization du service de l’enseignement”, Saigon: Imprimerie colonial, 49-52

[45]Procès-Verbaux du Conseil Colonial(Session ordinaire de 1897-1898), Saigon Imprimerie Coloniale, 1898,182

[46]“Au sujet de la laicisation de l’Enseignement”, Proces Verbaux du Conseil Colonial(session ordinaire de 1903), Saigon Imprimerie Coloniale, tr.86

[47]Proces Verbaux du Conseil Colonial(session ordinaire de 1886-1887), Saigon Imprimerie Coloniale, 168

[48]“Voeux relatifs à la laicisation de l’Enseignement et à la creation d’un internat indigene au College Chasseloup-Laubat pour les élèves payants”, Proces Verbaux du Conseil Colonial(session ordinaire de 1903), Saigon Imprimerie Coloniale, tr.35

[49]Nguyên văn “Le Service de l’Instruction publique est aujourd’hui exclusivement laique”,

[50]Bulletin administratif de la Cochinchine francaise du 11-8-1904 N41, tr.50

[51]Proces-verbaux du Conseil Colonial (session ordinaire 1905) Séance 15 Sept 1905, Saigon: Imprimerie Saigonais, 1905, tr.5

[52]Henri Froideux, dd, 164

[53]“Arrête portant création d’un emploi d’Inspecteur de l’Enseignement public et prive de l’Indo-Chine”, 27-4-1904

[54]DÉCRET du 14 novembre 1905, instituant une Direction générale de l’Instruction publique en Indo-Chine (Arrêté de promulgation), Bulletin official de l’Indochine francaise 1906 N1, tr.151.

[55]Theo Depeche coloniale, 15-5-1908


Nguồn: Văn Hóa Nghệ An


*

để lại phản hồi