Đánh giá Lê Văn Duyệt từ trước đến nay


Đánh giá Lê Văn Duyệt từ trước đến nay

Nguyễn Minh Tường

Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ, nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2006

bản scan pdf: <LINK>


Lê Văn Duyệt sinh năm Quí Mùi (1763), quê gốc tại làng Bồ Đề, huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi“’. Từ đời ông là Lê Văn Hiếu đã đi cư vào miền Nam ngụ tại làng Hòa Khánh, tỉnh Định Tường. Lê Văn Hiếu sinh được một con trai là Lê Văn Toại (có sách chép là Lê Văn Thoại). Lê Văn Toại lại di cư đến Rạch Gầm, tổng Long Hưng, Mỹ Tho, cũng trong tỉnh Định Tường cũ. Lê Văn Toại sinh được 4 con trai, Duyệt là con trưởng. Sử cũ cho biết “ông hình thể ngắn nhỏ, tính hãn, có tài lực”? và mắc bệnh “ẩn cung hình”? từ lúc mới sinh. Tương truyền, từ năm 14,15 tuổi, Lê Văn Duyệt thường tự than: “Sinh ra ở đời loạn mà không dựng cờ nổi trống làm đại tướng, để công danh trên thẻ bạc, thì chẳng đáng mặt làm trai”!

Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Ánh xưng vương ở Gia Định. Lê Văn Duyệt năm ấy 17 tuổi, được tuyển dụng làm thái giám, việc nội đình làm rất giỏi, được đổi bổ làm thuộc nội Cai đội, quản 2 đội thuộc Nội. Lê Văn Duyệt từng có công hộ giá Nguyễn Ánh sang Xiêm (Thái Lan) hai lần, được thăng Diệu úy Hiệu úy, vì có quân công nên lại được thăng Tả doanh Đô Thống chế“. Khi trở về Gia Định, Lê Văn Duyệt lập được hai chiến công: Thu phục thành Qui Nhơn (Bình Định) và thắng trận ở Cửa bể Thị Nại (thuộc Bình Định) vào năm Canh Thân (1800) và đầu năm Tân Dậu (1801). Năm Tân Dậu (1801), chiếm xong Phú Xuân, Nguyễn Ánh phong ông làm Khâm sai Chưởng Tả quân dinh, Bình Tây tướng quân, được phong tước Quận công vào đầu năm 1802.

Mùa hạ năm Gia Long thứ nhất (1802), Lê Văn Duyệt nhận lệnh cùng Trung quân Nguyễn Văn Thành và Hậu quân Lê Chất đi bình định miền Bắc, rồi lãnh chức Kinh lược sứ hai trấn Thanh Hóa, Nghệ An.

Năm Quí Dậu (1813), vua Gia Long cử Lê Văn Duyệt vào Nam làm Tổng trấn Gia Định thành, bảo hộ Chân Lạp, đến năm 1816 thì triểu đình triệu ông về Kinh.

Năm Canh Thân (1820), với cương vị đại thần huân cựu, được vua Minh Mệnh tin cẩn, Lê Văn Duyệt lại vào giữ chức Tổng trấn Gia Định thành lần thứ hai cho đến khi qua đời.

Lê Văn Duyệt mất tại chức vào ngày I-8 năm Nhâm Thìn (30-8-1832) ®, Sách Đại Nam thực lục cho biết vua Minh Mạng đã “Truy tặng ông là Tả vận công thần, đặc tiến Tráng Võ tướng quân, Tả quân Đô Thống Phú, Chưởng phủ sự, Thái Bảo, Quận công, thụy Uy Nghị, ban cho 10 cây gấm mầu, 10 tấm nhiễu mầu, 3000 quan tiền, trước hãy ban một tuần (tức 10 ngày – NMT) tế, đến ngày an táng lại cho một tuần tế nữa ”

Lê Văn Duyệt mất gần được I năm thì xảy ra sự kiện con nuôi ông là Lê Văn Khôi khởi bình chiếm thành Phiên An, chiếm lục tỉnh Nam Kỳ chống lại triều đình nhà Nguyễn (1833 – 1835). Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những lời đánh giá của vua Minh Mạng sau này hoàn toàn trái với những nhận xét trước kia của ông đối với Lê Văn Duyệt.

Sinh thời Lê Văn Duyệt là người “Xuất tích cương lệ ” (lời vua Minh Mạng), hùng dũng, cứng cỏi, có đảm lược, quyết đoán, một danh tướng, một chính trị gia sắc sảo của triều Nguyễn, có công lao không nhỏ đối với việc giữ yên bờ cõi phía Nam của Tổ quốc ta hồi những thập niên đầu thế kỷ XIX.

Trong bài viết này, để tiện cho việc trình bày, chúng tôi tạm phân chia việc đánh giá Lê Văn Duyệt qua 3 giai đoạn:

– Giai đoạn từ 1813 đến 1884.

– Giai đoạn từ 1885 đến 1954.

– Giai đoạn từ 1954 đến nay.

Các tác giả từ 1813 đến 1884 nhận định về Lê Văn Duyệt

Bộ sách đầu tiên ghi chép tương đối kỹ về tiểu sử, hành trạng, sự nghiệp của Lê Văn Duyệt là bộ chính sử triều Nguyễn Đại Nam thực lực (ở hai kỳ: Gia Long (1802 – 1819); và Minh Mạng (1820 – 1840)

Đọc bộ sử triều Nguyễn này, chúng ta có thể nhận thức được công lao của Lê Văn Duyệt đối với vùng đất phía Nam trên nhiều phương diện: từ việc trấn giữ bờ cõi phía Nam tổ quốc đến việc tổ chức đào kênh Vĩnh Tế, khuyến khích dân chúng khẩn hoang, mở rộng đất canh tác nông nghiệp; từ việc khéo dùng người hiền tài đến chính sách đối với Ky tô giáo hợp lòng dân; từ việc đối xử với các tội phạm biết ăn năn, hối cải đến chính sách đối ngoại vừa khôn khéo, mềm dẻo vừa cương quyết… Bộ Đại Nam thực lục này được coi như bộ sử “Mẹ”, sau này các bộ sử khác của triều Nguyễn hoặc các tập chuyên khảo về Lê Văn Duyệt của các tác giả cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều phải căn cứ vào đó.

Các tác giả đều khẳng định dưới đời vua Gia Long, Lê Văn Duyệt rất được tin cẩn, tin yêu, đồng thời Lê Văn Duyệt cũng rất kính trọng vua Gia Long. Mâu thuẫn giữa ông với triều đình Huế, có chăng chỉ khi vua Minh Mạng lên ngôi năm 1820.

Mặc dù có những mâu thuẫn nhất định giữa hai người nhưng khi cử Lê Văn Duyệt vào chức Tổng trấn Gia Định thành, vua Minh Mạng đã trao cho ông quyền hành rất rộng lớn. Sách Đại Nam thực lục cho biết: “Tháng 5 năm Canh Thìn (1820) lấy Chưởng quân Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành (thay Nguyễn Văn Nhân – NMT). Phàm truất thăng quan lại, hưởng lợi, trừ hại, tất cả việc thành (bao gồm trấn: Phiên An – Biên Hòa – Định Tường – Vĩnh Thanh – Hà Tiên – NMT) và việc biên cương đều cho tùy tiện mà làm. Duyệt bệ từ, Vua cho rằng ký thác công việc biên vốn khó tìm được người, hai ba lần vỗ về yên ủi”).

Với những công lao của mình, vào tháng 4 năm Quí Mùi (1823), Lê Văn Duyệt được vua Minh Mạng thưởng cho đai ngọc và nhận xét về ông như sau: “Trầm nghĩ khanh khi xưa đi theo vua đã có công lao, giữ hết lòng trung, cho nên Hoàng khảo ta (tức vua Gia Long – NMT) dặn lại giúp Trầm. Trước đó nhân đất Gia Định ở giáp nước Phiên nên sai khanh làm Tổng trấn. Từ khi khanh giữ việc đến nay thì dẹp yên giặc Chân Lạp, tiếp đến tra xét định lậu, thêm lên hơn vạn hộ khẩu. Nay lại tự mình đốc soát việc đào sông (Vĩnh Tế – NMT) để thành cái chí noi theo việc trước của Trầm. Làm tôi siêng năng duy khanh là hơn cả cho nên hậu thưởng. Từ trước đến nay các hoàng tử tước công chưa từng cho đeo đai ngọc. Nay nghĩ khanh công trước vốn đã rạng rỡ, lại dựng được công mới, nên đặc cách ban cho ”°),

Ngoài bộ Đại Nam thực lục, còn nhiều bộ quốc sử hoặc tư sử khác được viết dưới thời Nguyễn đều có chép về hành trạng của Lê Văn Duyệt, mà phần lớn khẳng định công lao của ông đối với triều Nguyễn. Chúng tôi xin dẫn ra đây một số bộ tiêu biểu: Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Minh Mệnh chính yếu do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn; Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội Các thời Tự Đức biên soạn; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825); Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực (1808 – 1852); Quốc triều chánh biên toát yếu của Cao Xuân Dục (1842 – 1923) và Bản triều bạn nghịch liệt truyện của Kiều Oánh Mậu (1854 – 1912). Do giới hạn của một tham luận khoa học, chúng tôi không thể trình bày tất cả những đánh giá, những nhận định về Lê Văn Duyệt trong các bộ sử nêu trên. Chúng tôi chỉ xin trình bày tóm tắt những ý kiến của sử thần triều Nguyễn thế kỷ XIX về Lê Văn Duyệt trong hai bộ Đại Nam nhất thống chí và Đại Nam liệt truyện. Vì theo chúng tôi hai bộ sách này ghi chép những ý kiến đánh giá chính thức về Lê Văn Duyệt của sử gia triều Nguyễn.

Sách Đại Nam nhất thống chí là bộ địa lý học – lịch sử được biên soạn dưới triểu Nguyễn vào nửa cuối thế kỷ XIX. Ở mục “Nhân vật” tỉnh Quảng Ngãi, các tác giả chọn Lê Văn Duyệt là một trong những người cần ghi lại công tích và biểu dương sự nghiệp. Đại Nam nhất thống chí nhận định về Lê Văn Duyệt như sau: “… Duyệt là người thâm trầm, dữ tợn, chiến đấu giỏi. Vũ công của Duyệt đứng hàng đầu, sau được phong tước Quận công… Sau đó, làm Tổng trấn Gia Định thành, đẹp loạn người Cao Miên là Tăng Kế, sau trông nom đào sông Vĩnh Tế, công việc xong xuôi được ban thưởng hậu…”2?, Cũng bộ sách này đã chép khá khách quan việc Lê Văn Duyệt sau khi qua đời còn bị vua Minh Mạng đối xử oan khuất như sau: “Năm Minh Mạng thứ 14 (1833) vì Lê Văn Khôi là bộ hạ của Lê Văn Duyệt làm loạn, chiếm cứ thành Phiên An, quan quân đi đánh 3 năm mới dẹp được. Năm thứ 16 (1835) viện Đô sát truy hặc về việc này, giao xuống đình nghị, thành án, hạ chiếu cho san bằng mộ và dựng kệ đề là “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Chỗ quyền yêm Lê Văn Duyệt chịu tội), lại dựng bia ở nhà học để làm gương răn những kẻ quyền yêm muôn đời. Vợ con thân thuộc đều bị tội chết. Cũng cố người được xử tội nhẹ, đi đày. Năm Thiệu Trị thứ I (1841), những người bị đi đày đều được giảm nhẹ hoặc tha… 09,

Nhưng chép kỹ lưỡng và tập trung hơn cả về hành trạng của Lê Văn Duyệt là bộ Đại Nam liệt truyện. Khác với Đại Nam thực lục chép theo thể biên niên, các sự kiện bị cắt rời ra theo từng năm, do đó thiếu sự liền mạch, thể tài kỷ truyện của Đại Nam liệt truyện cho phép chép rõ hơn về hành trạng và việc đánh giá Lê Văn Duyệt của sử thần triểu Nguyễn.

Tên bộ sách chính thức là Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập” chép: “Các truyện về Hậu phi, thứ là Hoàng tử, Công chúa, thứ nữa là các bề tôi, thứ nữa là người có hạnh, có nghĩa, và các liệt nữ, cuối cùng chép phụ thêm các truyện bọn tiếm thiết và việc nước ngoài (dưới thời Nguyễn Ánh – Gia Long – NMT), gồm có 8 mục, cộng 33 quyển,

Riêng truyện các bề tôi, được chép từ quyển 4 đến quyển 28, tổng cộng tới gần 1.000 người, thế mà các sử thần triều Nguyễn đã giành cả hai quyển 22 và 23 để chép về Lê Văn Duyệt, đủ thấy tầm quan trọng của ông đối với lịch sử vương triều Nguyễn buổi đầu. Đáng chú ý, hai người từng làm chức Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Văn Thành và Lê Chất cũng chỉ được chép trong một quyển (Nguyễn Văn Thành quyển 21, Lê Chất quyển 24).

Sách Đại Nam liệt truyện ghì lại nhiều nhận định, đánh giá Lê Văn Duyệt của sử thần triều Nguyễn, khiến chúng ta có được một cái nhìn khá toàn diện về ông. Sử thần triều Nguyễn nhận xét: “Duyệt là huân cựu đại thần, được đự nhận lời vua (Gia Long – NMT) dặn lại, triểu đình dựa làm trọng. Nhưng tính táo nóng, suất lược, lúc châu vua (Minh Mạng – NMT) nói năng nhiều không theo lễ độ ”

Năm Minh Mạng thứ 8 (1827) mùa đông nhân gặp đại khánh tiết Thuận Thiên Cao hoàng hậu, tức bà họ Trần mẹ đẻ vua Minh Mạng thánh thọ 60 tuổi, Lê Văn Duyệt được về kinh chúc thọ. Sách Đại Nam liệt ruyện cho biết sự biệt đãi của vua Minh Mạng đối với ông: “Duyệt lai kinh chúc hỗ, vua đãi hậu hơn, lúc thoái chầu vua đưa mắt tiễn. Thường nói với Trần Văn Năng, Tống Phước Lương rằng: người ta nói Lê Văn Duyệt xuất tích cương lệ, nay trẫm xem ra thì Duyệt trung thuận, nghĩa thờ vua vẫn giữ được, những tính bình nhật cương lệ, đều rửa sạch hết, không ngờ tuổi già lại hay tu tỉnh như thế…” rồi cho Duyệt về thành. Dụ rằng: “Gia Định là trọng trấn phương Nam, không nên vắng lâu. Ngươi ngày thường vẫn được người Xiêm sợ, nay lại giữ một mặt ấy có thể hùng dũng như hổ báo ở núi. Cũng là thâm ý chế phục người xa vậy”. Duyệt trước sau hai lần làm Tổng trấn, uy danh rất thịnh, người Xiêm sợ. Mỗi khi sứ bộ đi lại tất hỏi: “Lê công mạnh khỏe không?” được người xa sợ phục như thế. Duyệt hành quân nghiêm chỉnh và đãi văn viên thường hay khoan dung. Thấy người có tài biện như Nguyễn Hữu Nghi tất suy cử lên, tin không ngờ ”

Vào đêm 18-5 năm Minh Mạng thứ 14 (1833), Lê Văn Khôi khởi binh tiến vào thành Phiên An giết Bố chánh Bạch Xuân Nguyên, Tổng đốc Nguyễn Văn Quế rồi giữ thành chống lại triều Nguyễn. Sau sự kiện này, vua Minh Mạng từ chỗ căm ghét Lê Văn Khôi đã ghét lây cả Lê Văn Duyệt. Đại Nam liệt truyện chép: “… Vua mỗi khi coi châu cùng quần thần bàn việc binh, bèn truy trách tội ấp ủ bọn giặc nuôi thành họa thai của Lê Văn Duyệt”

Thêm vào đó, vào năm Minh Mạng thứ I6 (1835), sau khi dẹp xong cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi, viên quan đứng đầu Đô sát viện là Phan Bá Đạt dâng sớ nói rằng: “Duyệt trước ở Gia Định lấy lũ giặc Khôi, giặc Nhã làm nanh vuốt, lấy lính Bắc Thuận, Hồi Lương làm lòng bụng… nay Duyệt đã chết, nên sự trạng không thể xét rõ được, nhưng xem con nuôi nó là Lê Văn Hán trước đây ra vào trong thành cùng giặc Khôi trong ngoài ứng nhau… Nếu không nói rõ tội danh sợ không lấy gì làm răn sau này. Vậy xin truy lấy quan chức, vợ con giao bộ Hình tra rõ, làm tội nặng tổ phép nước ”

Dụ của vua Minh Mạng đề ngày 2-6 năm Minh Mạng thứ 16 (1835) cũng ghi rõ: “Nay theo tập tâu của Viện Đô sát vạch tội cố Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt sinh thời đã nuôi dưỡng che chở bọn phi, gây mầm loạn và xin truy thu quan chức, vạch rõ tội danh của Lê Văn Duyệt. Lời tâu rất đúng… ”

Sau đó các viên quan phụ trách Nội các là Hà Tông Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quýnh cũng dâng sớ tâu rằng: “Duyệt ấp ủ loài giặc gây nên sự biến, nó bao chứa mầm họa, không phải là một ngày, nay tìm ra những điều từ trước bày vào chương sớ có hình tích bội nghịch 6 điều… Vua nghe cho, đến lúc đình thần nghị án dâng lên, chỉ ra những lời nói việc làm bội nghịch đáng làm tội xử trắm 7 điều… Nay sai Tổng đốc Gia Định đến chỗ mả đắp, san ra làm đất bằng, lại dựng bia đá lên trên, viết khắc to 8 chữ: “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” để tỏ tội danh, khi đã chết và rõ phép nước vào đời sau, cho những đứa quyền gian vạn năm răn sợ ”

Nỗi oan khuất này của Lê Văn Duyệt phải 13 năm sau mới được cởi bỏ. Vào tháng 3 năm Tự Đức thứ 1 (1848) Đông Các đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn dâng sớ lên vua Tự Đức xin rửa oan cho ông. Sách Đại Nam liệt truyện cho biết: “Tờ sớ này vào đến nơi, vua cảm lời nói ấy, sai bộ Binh tra hỏi cháu chắt, cho cháu Duyệt là Diễn làm chư quân cai đội. Có chiếu rửa sạch tội trước cho Duyệt. Lại truy phục nguyên hàm Thống chế cho Lê Văn Phong (em trai của Lê Văn Duyệt – NMT). Con Lê Văn Yên là Diễn, Minh, con Lê Văn Tề là Dũng, Hợp đều được bổ dùng”29),

Nhận định của các tác giả từ 1885 đến 1954

Trong tiểu mục này, trước hết chúng tôi quan tâm tới một số tác giả người Pháp sống đồng thời hoặc sau Lê Văn Duyệt một thời gian ngắn như cố Marchand và J.B. Chaigneau.

Marchand là một thừa sai trẻ tuổi, hăm hở trước nhiệm vụ và mục đích của Hội Truyền giáo. Marchand vừa đặt chân lên Nam kỳ đã lao ngay vào việc học tiếng Việt ở trường dòng Lái Thiêu (Biên Hòa), dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giám mục Taberd. Hiện nay, người ta còn giữ được những bức thư của ông gửi về cho gia đình tại Pháp trong những năm tháng ông ở Gia Định dưới quyền Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Qua một số thư của Marchand, ta biết thái độ của Lê Văn Duyệt đối với Ky tô giáo. Trong một lá thư gửi Cha Cả Jeune ở Passa vant, khoảng cuối tháng 6-1830, Marchand viết: “Thưa Cha… trên xứ sở bao la này, đang hứa hẹn một mùa gặt phong phú, mà thợ gặt thì ít ói quá! Mong Cha hãy nhanh chóng thúc giục các Cha bề trên gửi nhiều thợ gặt sang đây để nhanh chóng chất đầy kho cho Chúa và để giành lấy từ trong tay kẻ thù cả một khối lượng lớn đó”. Qua đó cho thấy thái độ cởi mở của Lê Văn Duyệt đối với các Thừa sai, giáo dân ở Nam kỳ.

J.B. Chaigneau, người đã từng sống trong triều đình nhà Nguyễn cho đến những năm đầu đời Minh Mạng, chắc chắn đã từng trực tiếp gặp gỡ Lê Văn Duyệt. Trong tác phẩm Souvenirs de Huế (ký ức Huế) của Michel Đức Chaigneau, J.B. Chaigneau nhận xét: “Trong số những đại thần thân với người Pháp, chỉ có Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành là dám đương đầu với Minh Mạng và những người thân cận của nhà vua. Lê Văn Duyệt chỉ trích Minh Mạng một cách công khai về việc Minh Mạng đã chà đạp lên đường lối chính trị khôn ngoan và đáng tôn kính của vua cha (tức Gia Long – NMT), và đã đối xử quá bội bạc với những người từng đem lại ngôi báu cho dòng họ mình. Duyệt là người có nghị lực khác thường, có những năng lực đặc biệt của một ông tướng và một nhà chính trị. Mọi người đều gờm sợ Duyệt, nhưng Duyệt lại được dân chúng mến phục do tính thẳng thắn… ”20,

Ngoài Marchand và Chaigneau, còn có những người Pháp sống ở Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ XIX, khi mà những hình ảnh về Tổng trấn Lê Văn Duyệt chưa bị phai mờ trong ký ức người dân Nam kỳ như SII- vesire chẳng hạn. Silvestre là tác giả cuốn sách L’Empire d”Annam et le peuple annamite (Vương quốc An Nam và dân tộc An Nam) xuất bản tại Paris năm 1899 và bài La Révole de Khôi (Cuộc nổi đậy Lê Văn Khôi) đăng trên tập san Revue Indochinoise số 7 và 8 in tại Hà Nội năm 1915.

Theo Silvestre thì Lê Văn Duyệt có đủ sức để lật đổ Minh Mạng và thay vào đó một ông vua Nguyễn khác, nhưng Lê Văn Duyệt đã không hành động như vậy.

Và cũng theo Silvestre, trong những năm cuối đời của mình, Lê Văn Duyệt chỉ thừa hành những chỉ dụ của Minh Mạng mà ông thấy có lý và bác bỏ những chỉ dụ mà ông không tán thành, như những chỉ dụ sát hại giáo dân và thừa sai. Theo cách giải thích của Silvestre: Lê Văn Duyệt là người có bất bình lớn đối với chính sách cấm đạo của Minh Mạng, nhưng đó là sự bất bình của một người trung thực, không hề gợn ý đồ tranh quyền, thoán đoạt đen tối. Silvestre muốn phi lại cho hậu thế một Lê Văn Duyệt trong sáng, một người bạn thủy chung của nước Pháp, một ân nhân của các viên thừa sai. Dường như Silvestre muốn khẳng định rằng: Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi nổ ra chưa đầy một năm sau khi Lê Văn Duyệt chết hoàn toàn không phải là sự kế tục một mưu đồ lật đổ của Duyệt…

Năm 1919 tại Hà Nội, học giả Trần Trọng Kim xuất bản tác phẩm Việt Nam sử lược, một công trình sử học nghiêm túc đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ. Trong những chương cuối, tức chương XI, XII của Quyển IV và các chương đầu của Quyển V như chương I: chép về Thế Tổ (tức vua Gia Long) và chương II, II chép về Thánh Tổ (tức vua Minh Mạng) đều có chép về công lao của Lê Văn Duyệt đối với việc dựng nên vương triều Nguyễn nói chung và việc yên trị vùng đất phía Nam của nước ta nói riêng. Về vụ án Lê Văn Duyệt dưới triều Minh Mạng, học giả Trần Trọng Kim nhận định: “Cứ bình tĩnh mà xét, thì chẳng qua là vua Thánh Tổ (tức vua Minh Mạng – NMT) vốn có ý không ưa hai ông ấy (ý nói Lê Văn Duyệt và Lê Chất – NMT), rồi đình thần nhân đó mà bới việc ra để chiều ý ngài, cho nên thành ra cái án thật là không đáng”),

Marcel Gaultier chỉ trong vòng 3 năm đã xuất bản hai tập sách về hai ông vua đầu triều Nguyễn, đó là cuốn Gia Long xuất bản tại Sài Gòn năm 1933 và cuốn Minh Mạng xuất bản tại Paris năm 1935. Cả hai cuốn sách trên đều có nhiều trang đề cập đến Lê Văn Duyệt. Đặc biệt trong cuốn sách Minh Mạng, M. Gaultier có cả một tiểu mục phân tích về cái chết của Lê Văn Duyệt.

M.Gaultier trong cuốn sách này, thường gọi Lê Văn Duyệt là “Vice Roi” (Phó Vương), mặc dù không chính xác, nhưng qua đó cho ta thấy quyền hành của Lê Văn Duyệt lớn tới mức nào. Là một tác giả Pháp,

  1. Gaultier chú ý nhiều tới thái độ của Lê Văn Duyệt với Ky tô giáo. Ông viết: “Khi Lê Văn Duyệt còn sống thì Minh Mạng chấp nhận đường lối của vị Phó Vương, bởi vì đường lối ấy duy trì được sự yên bình trong đất nước, nhưng nhà vua cũng không thể chịu đựng được mà không thấy cay đắng trước sự phát triển của những cộng đồng Thiên chúa giáo mà Lê Văn Duyệt đã khôn khéo dựa vào để cai trị. Minh Mạng chỉ mong khi cơ hội cho phép sẽ lập tức “An Nam hóa”? hoàn toàn dân chúng ở Nam kỳ “9%,

Gaultier muốn giải thích rằng Lê Văn Duyệt đã dựa vào một cơ sở khá vững chắc và rất đáng lo ngại đối với Minh Mạng, đó là cơ sở giáo dân mà chủ yếu là những dòng họ lớn có máu mặt theo Ky tô giáo.

Vào những thập niên 20, 30 của thế kỷ XX một số tác giả người Việt cho xuất bản một vài cuốn sách về Lê Văn Duyệt. Đó là các cuốn của tác giả dưới đây:

– Lê Văn Duyệt của Lê Văn Phát, Sài Gòn, 1924.

– Lê Văn Duyệt của Cao Hải Để, Sài Gòn, 1924.

– Việt Nam trung hưng công thần Lê Văn Duyệt của Đặng Thúc Liêng, Sài Gòn, 1934.

– Gia Định Tổng trấn Tả quân Lê Văn Duyệt của Ngô Tất Tố, Hà Nội 1937.

Trong số sách trên, trừ cuốn sách của Ngô Tất Tố khá dày đặn 144 trang khổ vừa, còn lại, các cuốn sách khác chỉ viết từ 20 đến 30 trang khảo cứu sơ lược, không có đóng góp gì mới.

Cuốn sách của Ngô Tất Tố được biên soạn trên cơ sở tư liệu rút ra từ Đại Nam thực lục và Đại Nam liệt truyện. Đáng chú ý là nhận xét dưới đây về Lê Văn Duyệt của Ngô Tất Tố: “Duyệt coi quân nghiêm ngặt, người nào hơi trái quân lệnh tức thì trị tội không hề khoan dung. Vậy mà đối với binh sĩ rất có ân tình, những kẻ đau ốm, bị thương, Duyệt săn sóc cẩn thận. Nhất là những ai chẳng may chết trận, Duyệt rất kính trọng và thương xót.

Tính Duyệt ưa hát bội mà ở Gia Định trước kia chưa có… Khi làm Tổng trấn, Duyệt mới lập ra một gánh hát bội riêng của mình để thỉnh thoảng hát chơi… Nam kỳ có nghề hát bội là tự bấy giờ ”.

Ngoài! những công trình vừa nêu trên, trong giai đoạn này còn có khá nhiều luận văn khoa học của tác giả người Việt viết bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Việt đăng trên các tập san, xung quanh cuộc đời Lê Văn Duyệt như:

– La Vie aqnecdotique de Lê Văn Duyệt (Những giai thoại về cuộc đời

Lê Văn Duyệt) của Lê Văn Phát trên tờ Revue Indochine lllustrée No 61, 1932.

– La Renconire (cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Ánh và Lê Văn Duyệt) của Việt Nam trên tờ La Tribune Républicaine. No 56, 1937.

– Tả quân Lê Văn Duyệt của Nhật Nham (Trịnh Như Tấu) trên tờ Tri Tân số 28, 194].

– Tả quân Lê Văn Duyệt phải chăng là người Bắc kỳ? của Tiên Đầm (Nguyễn Tường Phượng) trên tờ Trị Tân, số 31, 1942.

– Tả quân Lê Văn Duyệt và Nguyễn Công Trứ của Vân Thạch trên tờ Trị Tân, số 32, 1942.

– Le Maréchal de Gauche Lê Văn Duyệt (Tả quần Lê Văn Duyệt) của Huỳnh Văn Chỉnh trên tờ Indochine Tiiusirée No 95, 1942…

Trong những luận văn trên, tác giả bằng nhiều cách tiếp cận, nhiều cách đặt vấn đề nhưng đều nhất trí đánh giá Lê Văn Duyệt là một tướng tài của Nguyễn Ánh, Gia Long, một người có nhân cách được đông đảo dân chúng và người ngoại quốc như Pháp, Xiêm, Chân Lạp… kính trọng.

Nhận định của các tác giả từ năm 1954 đến nay

Giai đoạn này đánh dấu sự thay đổi ý kiến, sự khác nhau trong việc đánh giá hành trạng Lê Văn Duyệt. Có tác giá đứng trên lập trường thân Pháp, ủng hộ việc truyền đạo Ky tô mà nhìn nhận Lê Văn Duyệt, có tác giả đứng trên lập trường dân tộc thuần túy để đánh giá Lê Văn Duyệt, lại có tác giả dựa hẳn vào lập trường vô sản chống phong kiến nhà Nguyễn để bình xét Lê Văn Duyệt. Dưới đây chúng tôi xin trình bày một vài tác giả tiêu biểu:

Lê Thành Khôi trong tác phẩm Le Việt Nam – histoire et civilisatfion (Nước Việt Nam – lịch sử và văn minh) xuất bản tại Paris, 1954 và kể cả cuốn Histoire du Việt Nam des origines à 1858 (Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1858) xuất bản tại Paris 1987 sau này, đều nhìn nhận Lê Văn Duyệt như một người có thái độ bênh vực giáo sĩ thừa sal, giáo dân và người đi đầu trong quan hệ với Pháp dưới thời Nguyễn. Lê Thành Khôi viết: “Lê Văn Duyệt có ý đồ xây dựng một cơ sở độc lập tách biệt hẳn với triều đình Huế, dựa trên sự ủng hộ của người Pháp, của thừa sai, linh mục và giáo dân. Cho nên, sau khi Duyệt chết, Minh Mạng tìm cách phá vỡ những cơ sở xã hội mà Duyệt đã tạo ra ở Gia Định. Và điều này đã làm nổ ra cuộc biến động Lê Văn Khôi, con nuôi của Duyệt. Và đến lượt Lê Văn Khôi lại tiếp tục dựa vào giáo dân và thầy dòng người Việt để thực hiện ý đồ trước kia của Duyệt… ”.

Việc dựa vào Pháp để xây dựng một cơ sở độc lập, dường như cũng được Trần Văn Giàu tán đồng. Trong tác phẩm Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước !858, Trần Văn Giàu cho rằng: ý đồ chính trị của Lê Văn Duyệt và phe cánh là muốn thực hiện chủ trương “địa phương phân quyền”, chống lại chế độ trung ương tập quyền khe khắt của Minh Mạng, muốn tách Nam kỳ ra khỏi triều đình Phú Xuân

Trần Văn Giàu cho rằng việc xâm chiếm Chân Lạp là xuất phát từ ý đồ của Lê Văn Duyệt. Ông viết: “Như vậy Lê Văn Duyệt quan niệm rằng muốn bảo vệ Gia Định thì phải đóng quân trên đất Chân Lạp, phải đặt bảo hộ ở Chân Lạp. Nguy cơ chính ở tư tưởng quân phiệt và xâm lăng ấy. Vua Gia Long cho rằng ý kiến của Duyệt là rất phải… “È?.

Ngay việc Lê Văn Duyệt tổ chức đào kênh Vĩnh Tế, cũng được Trần Văn Giàu nhìn nhận nghiêng về ý đồ quân sự của triều Nguyễn đối với Chân Lạp. Trần Văn Giàu nhận định: “Việc đào kênh Vĩnh Tế là một trong những bước của Minh Mạng toan phát triển thế lực ở miền Tây Nam. Duyệt động viên 39.000 người Việt, 16.000 người Chân Lạp để đào kinh đó. Dân tình thán oán, việc đào kênh đình đi, làm lại mấy lượt mới xong ”,

Từ năm 1954 đến năm 1975, có một số bộ sử Việt Nam được xuất bản như các bộ dưới đây:

– Lịch sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX) của Đào Duy Anh, Hà Nội, 1956.

– Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam (tập 3) của Phan Huy Lê – Chu Thiên – Vương Hoàng Tuyên, Hà Nội, 1960.

– Việt sử tân biên của Phạm Văn Sơn, Sài Gòn, 1961 và có thể kể thêm cuốn:

– Kinh tế xã hội Việt Nam dưới thời các vua triểu Nguyễn của Nguyễn Thế Anh, Sài Gòn, 1968.

Các bộ sách trên đều có chép về Lê Văn Duyệt, ý kiến đánh giá về Lê Văn Duyệt đều căn cứ vào các bộ sử cũ viết dưới triều Nguyễn, chủ yếu ghi nhận công lao sự nghiệp của ông.

Các tác giả Nguyễn Phan Quang – Đặng Huy Vận – Chu Thiên trong bài: Tìm hiểu một điểm liên quan đến nguyên nhân cuộc bạo động Lê Văn

Khôi: Vấn đề Lê Văn Duyệt ?° và Nguyễn Phan Quang trong tác phẩm Cuộc khởi binh Lê Văn Khôi ở Gia Định ( I833 – 1835) đã coi quan hệ cha con nuôi giữa Lê Văn Duyệt và Lê Văn Khôi là một trong những nguyên nhân nổ ra cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi. Trong cuốn sách của mình, Nguyễn Phan Quang khẳng định: “Cuộc khởi binh Lê Văn Khôi không những có liên quan chặt chẽ về nhiều mặt trực tiếp và sâu xa đến nhân vật Lê Văn Duyệt mà hơn thế nữa: Lê Văn Khôi đã nổi dậy với danh nghĩa là người kế tục ý đồ của Lê Văn Duyệt trước kia ”,

Ở đây tác giả muốn nói tới ý đồ muốn tách Nam kỳ ra khỏi tầm kiểm soát của triều đình Huế của Lê Văn Duyệt trước đây.

Từ năm 1975 đến nay, có không ít tập sách, bài báo hoặc viết riêng về Lê Văn Duyệt hoặc có nhiều trang, nhiều dòng chép về Lê Văn Duyệt như:

– Một vài nhận định về Lê Văn Duyệt của Nguyễn Đồng Chi trên tờ Sài Gòn giải phóng số ngày 6-2-1977.

– Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng – Nguyễn Bá Thế, Hà Nội, 1991.

– Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh – Tập I, Lịch sử của một nhóm tác giả do Trần Văn Giàu – Trần Bạch Đăng… chủ biên, Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.

– Lịch sử khẩn hoang miễn Nam của Sơn Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.

– Bến Nghé xưa của Sơn Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.

– Lê Văn Duyệt – Từ nấm mô oan khuất đến Lăng Ông của Hoàng Lại Giang, Hà Nội, 1999,

Ở đây chúng tôi xin trình bày kỹ về hai tác giả Nguyễn Đống Chỉ và Hoàng Lại Giang, vì đó là hai tác giả có quan điểm trái ngược nhau về Lê Văn Duyệt.

Trong luận văn Một số nhận định về Lê Văn Duyệt, Nguyễn Đồng Chi đặt vấn đề như sau: “Cho đến gần đây thì ngôi đền và ngôi mộ lộng lẫy của Lê Văn Duyệt ở Bà Chiểu vẫn có đông người đến lễ bái nhất (thời điểm tác giả nói trong bài là mùa xuân năm1977 – NMT). Thử hỏi con người ấy như thế nào mà được bao nhiêu người không tiếc thì giờ, công, của, cầu, cúng luôn canh, đã đến lúc tưởng nên đứng trên lập trường của Tổ quốc, của dân tộc, của nhân dân thử đánh giá lại Lê Văn Duyệt”.

Sau đó Nguyễn Đồng Chỉ vạch ra 5 điểm hạn chế của Lê Văn Duyệt là:

 

  1. Theo lực lượng phản động: “Là khai quốc công thần nhà Nguyễn, Lê Văn Duyệt xuất thân chỉ là một chân thái giám hầu hạ vợ con Nguyễn Ánh. Sau đó vì chúng có yêu câu đẩy mạnh chiến tranh phản cách mạng nên được cất nhắc lên tướng cầm quân. Chỉ mấy trận giao phong với Tây Sơn, y đã bước dần trên nấc thang danh vọng… Lúc này vị anh hùng Nguyễn Huệ của chúng ta đã qua đời, y nhờ liều lĩnh xông pha, nổi tiếng nhất là trận thủy chiến ở Thị Nại năm 1801, mà sử thần nhà Nguyễn đã ca ngợi là “võ công đệ nhất”. Rồi đó, từ “nước cờ thí xe” ở cho đến khi chiếm được Thăng Long (1802), Lê Văn Duyệt đã chễm chệ ở địa vị Khâm sai Chưởng Tả dinh, Bình Tây đại tướng quân với tước Quận Công.

Qua đó, có thể thấy Lê Văn Duyệt có khả năng và trình độ quân sự, nhưng lại dùng cái khả năng ấy để phục vụ cho trận tuyến phản động cần trở con đường tiến của lịch sử.”

  1. Đàn áp các cuộc khởi nghĩa: “Lê Văn Duyệt đã đem quân đàn áp những cuộc khởi nghĩa của người Kinh cũng như người Mường, hai lần đàn áp những cuộc bạo động của người thượng, Đá Vách phía Tây Quảng Ngãi (1803, 1807)? một lần đần áp cuộc bạo động do nhà sư Chân Lạp cầm đầu (1820) v.v… Như vậy là Duyệt thường có mặt ở những cuộc khủng bố đàn áp quần chúng mà bọn phong kiến địa phương không đàn áp nổi”.
  2. Tư cách kém, tính cách tàn bạo: “Duyệt cũng có một số hành động mị dân, bênh vực sĩ tốt, giúp đỡ con côi vợ góa sĩ tốt… nhưng dân và sĩ tốt cũng rất gờm Duyệt vì “dụng hình hay quá lạm”. Quan, dân, lính, thơ lại, thị vệ, cho đến trẻ em có thể bị lôi ra chém cổ rất đột ngột theo cách phán xét chủ quan của Duyệt”.
  3. Âm mưu với mục đích cá nhân: “Dựa vào cương vị và quyền hạn trong thời kỳ làm Tổng trấn, y đã xây dựng phe cánh, xây dựng lực lượng võ trang, xây dựng cơ sở xã hội trong số quần chúng giáo dân, vun đắp uy tín cá nhân… ”.
  4. Thân Pháp: “Việc Lê Văn Duyệt chống lại vấn đề chọn Minh Mang làm kẻ nối ngôi không phải đơn thuần xuất phát từ nguyên tắc chọn dùng dòng đích của chế độ tông pháp, mà còn xuất phát từ chủ đích sâu xa hơn. Đó là sự tiếp tục dựa hẳn vào thực dân Pháp để bảo vệ lâu dài quyền lợi và địa vị của đại quí tộc lúc bấy giờ”.

Cuối bài, Nguyễn Đổng Chi nhận xét rất nghiêm khắc về Lê Văn Duyệt, như sau: “Chừng ấy cũng đủ tố cáo tính chất tối phần động của Lê Văn Duyệt, còn phản động hơn cả bọn vua phản động nhà Nguyễn. Có thể nói, những tên thực dân da trắng trên bước đường đi tìm thuộc địa hẳn xoa tay thích thú khi gặp những mẩu người như Duyệt”.

Tháng 8-1999, tác giả Hoàng Lại Giang cho ra đời bộ tiểu thuyết lịch sử Lê Văn Duyệt – từ nấm mô oan khuất đến Lăng Ông, do Giáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm viết Lời giới thiệu. Đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, song tác giả Hoàng Lại Giang luôn trình bày các sự kiện liên quan tới Lê Văn Duyệt bám sát với các bộ sử triểu Nguyễn như Đại Nam thực lục và Đại Nam liệt truyện.

Chất hư cấu trong bộ tiểu thuyết lịch sử không làm méo đi hình ảnh thực của Lê Văn Duyệt. Đây là một trong vài bộ tiểu thuyết lịch sử rất thành công, khắc họa nhân vật lịch sử khá sống động, chân thực của nước ta mấy năm gần đây. Tác giả Hoàng Lại Giang có những cái nhìn mới về Lê Văn Duyệt so với các tác phẩm trước kia viết về ông. Đúng như Giáo sư Định Xuân Lâm viết trong Lời giới thiệu: “… Đặc biệt đối với Lê Văn Duyệt, tác giả Hoàng Lại Giang đã chú ý khai thác một số điểm trước đây chưa được chú ý tới đúng mức như các chính sách mở cửa giao thương với bên ngoài, tự đo tín ngưỡng, ngoại giao kết hợp biện pháp răn đe cứng rắn với cách xử lý mềm dẻo, trên tinh thân hòa hiếu giữa các dân tộc, đặc biệt là lòng dân hướng về Lê Văn Duyệt”,

Chúng ta có thể thấy được chủ ý của tác giả Hoàng Lại Giang ngay trong cái “Titre ” của cuốn sách: Lê Văn Duyệt Từ nấm mô oan khuất đến Lăng Ông, Hoàng Lại Giang muốn minh oan cho Lê Văn Duyệt. Tác giả viết: “Không bao giờ gặp kẻ khó mà Lê Văn Duyệt không giúp, không bao giờ gặp bất công mà Lê Văn Duyệt không bảo vệ. Đối với Lê Văn Duyệt, huân cựu đại thần và người dân xiêu tán các nơi tới khẩn hoang lập nghiệp đều được tôn trọng như nhau: Đối với Lê Văn Duyệt, đám dân bị ức hiếp đói khổ làm giặc, theo man, theo phỉ… biết hối cải đều được ông bao dung, tha thứ.

Lê Văn Duyệt quả ngang ngược. Nhưng trong cái ngang ngược của ông vẫn có điều øì đó đáng kính trọng. Suy cho cùng Lê Văn Duyệt chỉ ngang ngược, quyết liệt với đám nịnh thần, đầm quan văn đặt ra những luật lệ, lễ nhạc tâng bốc nhà vua quá đáng. Là vị khai quốc công thần, Lê Văn Duyệt không dễ chịu những áp lực của bọn này. Ông luôn coi thường bọn chúng. Thậm chí có khi ông còn cứng rắn cả với nhà vua nữa. Cái việc ông chặt đầu Huỳnh Công Lý, cha đẻ thứ phi mà Minh Mạng

yêu chiều nhất, rồi muối bỏ tráp gửi ra triều đình quả là ngang ngược. Nhưng chưa một đại thần nào đám kêu oan cho Công Lý ”. Dường như để khẳng định giá trị văn hóa, giá trị tỉnh thần của khu lăng mộ Lê Văn Duyệt, trả lời cho điều thắc mắc nêu trên của Nguyễn Đống Chị, tác giả Hoàng Lại Giang đã khép lại thiên lịch sử về Tả quân Lê Văn Duyệt bằng những nhận định dưới đây: “Nhiều năm đã trôi qua, “Lăng Ông” vẫn sừng sững trên quả đổi hình lưng qui ấy. Ngày hội, ngày lễ, ngày tết, hơn bất kỳ nơi nào ở miễn Nam này, “Lăng Ông” là nơi hội tụ đông người đến viếng, đến cầu nguyện cho những oan hồn được thanh thoát, xin “Ông” phù hộ cho họ tránh được mọi tai họa và cầu được hưởng phúc lành cho đời đời con cháu”),

Qua những điều trình bày trên đây, chúng ta thấy nhân vật lịch sử Lê Văn Duyệt quả là có nhiều vấn đề đặt ra cần được trao đối, cần được đánh giá lại trên cơ sở khoa học vừa thận trọng, vừa nghiêm túc. Làm được như vậy, không những chúng ta có thể làm sáng tỏ những công lao đối với lịch sử dân tộc, những hạn chế do lịch sử qui định của nhân vật đầy mâu thuẫn Lê Văn Duyệt, mà còn qua đó hiểu được thấu đáo hơn những nhân vật lịch sử khác gần gũi với ông như: Trương Tấn Bửu (1752 – 1827), Lê Văn Khôi (2 – 18534), Minh Mạng (18520 – 1540) và nhiều người khác.

***

(1) Sách Đại Nam nhất thống chí được biên soạn vào cuối thế kỷ XIX xếp ông thuộc vào số những nhân vật của tỉnh Quảng Ngãi.

(2) Đại Nam liệt truyện, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1993, Tập II, Tr.373.

(3) “Ấn cung hình” tức bộ phận sinh dục quá nhỏ và hình như con tầm, không thể sinh con được.

(4) Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1992, Tập II, tr.444.

(5) Về ngày mất của Lê Văn Duyệt, chúng tôi theo Đại Nam thực lục, tập XL, tr. 140, nhưng sách Đại Nam liệt truyện lại cho biết ông chết ngày 30-7 năm Nhâm Tuất (29-8-1832) (xem Đại Năưm liệt truyện, Tập ÌT, tr.401, 402).

(6) Đại Nam thực lục, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1964, tập XTL, tr. 140.

(7) Xem Đại Nam thực lục chính biên, Nxb Khoa học Xã hội, các tập từ III đến tập XI.

(8) Đại Nam thực lục, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1963, tập 5, tr. 96-97,

(9) Đại Nam thực lục, Nxb. Khoa học Xã hội, Sđd, tập 6, tr.179.

(10)(11) Đại Nam nhất thống chí, Sđd, tập 2, tr. 444, 445.

(12) Ngoài ra còn: Đại Nam liệt truyện tiền biên chép về các bề tôi của các chúa Nguyễn (từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần) và Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập chép về các bề tôi của vua Minh Mạng.

(13) Đại Nam liệt truyện, Sảd, Tập 2, tr.8.

(14) Đại Nam liệt truyện, Sảd, Tập 2, tr.396.

(15) Đại Nam liệt truyện, Sảd, Tập 2, tr.398.

(16) Đại Nam liệt truyện, Sảd, Tập 2, tr.402.

(17) Đại Nam liệt truyện, Sảd, Tập 2, tr.403.

(18) Minh Mạng, Neự chế văn (Dụ văn), Trung tâm KHXH và NVQG, Viện nghiên

cứu Hán Nôm II, 1999, tr.404.

(19) Đại Nam liệt truyện Sảd, tập 2, tr.407, 408.

(20) Đại Nam liệt truyện Sảd, tập 2, Tr.413, 414.

(21) Michel Đức Chaigneau, Sowvenirs de Huế, Paris, I867.

(22) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Văn hóa – Thông tin, HI, 1999, tr.476.

(23) Người Pháp hồi đầu thế kỷ XIX gọi miền Nam kỳ là Cochinchine, Trung kỳ là An Nam và Bắc kỳ là Ton Kin.

(24) Marcel Gaultier, Minh Mạng, Nxb. La rose, Paris, 1935, tr.109.

(25) Ngô Tất Tố, Gia Định Tổng trấn Tả quân Lê Văn Duyệt, Nhà in Mai Lĩnh xuất bản, II, 1937, tr.141,142.

(26) Tham khảo: Trần Văn Giàu, Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm I856, H., 1958.

(27) Trần Văn Giàu, Cuộc khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 656, Sđd, tr.102.

(28) Trần Văn Giàu, Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm /656, Sđd, tr. 07.

(29) Xem Nguyễn Phan Quang – Đặng Huy Viện – Chu Thiên, Tìm hiểu một điểm liên quan đến nguyên nhân cuộc bạo động Lê Văn Khôi: Vấn đề Lê Văn Duyệt, Nghiên cứu lịch sử số 105 tháng 12-1967.

(30) Nguyễn Phan Quang, Cuộc khởi binh Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833 – 1835), Nxb. TP Hồ Chí Minh, 1991, tr.52.

(31) Ý nói Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành vào năm I801. Chủ trương không giải vây thành Bình Định, bỏ mặc Võ Tánh cho Trần Quang Diệu vây hãm, tiến quân ra Bắc, chiếm Huế, chiếm Thăng Long.

(32) Thực tế, Lê Văn Duyệt tiến hành 4 lần: 1803, 1805, 1808 và 1816.

(33) Hoàng Lại Giang, Lê Văn Duyệt – từ nấm mô oan khuất đến Lăng Ông, NXB Văn hóa – Thông tin, II, 1999.

(34) Hoàng Lại Giang, Sđd, tr.248, 249.

(35) Hoàng Lại Giang, Sđd, tr.31 5.


 

*

để lại phản hồi