Lê Văn Duyệt: ân nhân của người Công giáo


Lê Văn Duyệt: ân nhân của người Công giáo

Lê Văn Chánh

Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ, nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2006

bản scan pdf: <LINK>


Lê Văn Duyệt

Nhân đọc một quyển sách viết về Huế, trong phần các ngôi nổi tiếng ở cố đô tác giả có kể: Tại chùa Từ Hiếu, bên trong cánh cửa đi vào nơi thờ Phật có đặt pho tượng thái giám Lê Văn Duyệt để ngày đêm nghe lời kinh tiếng kệ hầu giải oan.Thật là buồn vì cho đến nay vẫn còn có người gọi Lê Văn Duyệt là thái giám. Gọi như thế là quá đáng, là hạ thấp phẩm cách của ông và chạm đến lòng tôn kính của đồng bào Nam bộ.

Thái giám là những người tự nguyện hoặc bị bất buộc phải chịu thiến để vào cung vua làm nghề hầu hạ. Còn Lê Văn Duyệt thì từ lúc sinh ra đã bị khuyết tật ở bộ phận sinh dục (bộ nắp). nhưng lại có sức mạnh và tánh khí khác người. Do lòng dũng cảm và một dịp tình cờ Duyệt đã cứu Nguyễn Ánh thoát nạn chìm ghe trong thời bôn tẩu, được Ánh thu dụng và hết lòng tin cậy. Suốt đời Lê Văn Duyệt đi theo con đường binh nghiệp, từ một tướng cạnh trở thành một danh tướng oai trấn một vùng và chưa bao giờ mang lấy chức danh là thái giám. Nhóm từ “tên yễm hoạn Lê Văn Duyệt” được ghi vào bản án “xiêng mẩ” sau ngày ông chết, là cả một sự dụng tâm bêu nhục để trả hận của nhà vua và một số quan triều vốn nuôi lòng tị hiểm căm ghét đối với thái độ trung thực của một trọng thần ngoài biên trấn, mà lúc Duyệt còn sống không ai đám hé ra.

Nghe đến tiếng thái giám, mọi người có ấn tượng đầu tiên là không tốt, là liên tưởng đến lớp người không bình thường, với bản chất nịnh bợ, đâm thọc và chuyên hãm hại kẻ trung lương, thường được mô tả qua những nhân vật trong các bộ truyện tàu như Quách Hòe, Lý Liên Anh…

Trong lịch sử cũng đã có những nhân vật kiệt hiệt vốn xuất thân là thái giám như nguyên soái Lý Thường Kiệt và đô đốc Trịnh Hòa. Lúc sống họ đã lập nhiều công lớn với đất nước, sau khi chết được phong làm thần, người đời sau không ai dám gọi xách khóc các vị đó là thái giám. Nay còn gán ghép chức thái giám cho Lê Văn Duyệt là chẳng khác nào vô tình gia cố thêm sợi lòi tói bằng kim loại mới để tiếp tục xiÊng cái lăng mà dân chúng đã dựng lên thờ kính ông hàng trăm năm qua.

Nhân dân Gia Định (xưa) và Nam bộ (nay) đã có lòng ngưỡng mộ công đức Lê Văn Duyệt, nên dù cho triểu đình ngăn cấm họ vẫn lập miếu thờ ông, cái miếu đó được nâng cấp dần dần lên thành cái lăng. Họ luôn gọi ông là ngài Thượng công hoặc ngài Tả quân. Đặc biệt, mọi người đã tôn vinh Lê Văn Duyệt lên đến hàng “Ông” (không kèm theo tên họ), một chức danh của nam thượng đẳng thần, ngang hàng với Quan Vân Trường, nhân vật trung can tiết nghĩa của Trung Quốc – Chùa Ông, Lăng Ông (Bà Chiểu). Lòng sùng kính này rất hợp với đạo nghĩa của dân tộc, nhưng phải loại trừ những hủ tục mê tín dị đoan thừa cơ xâm nhập và ăn theo. Phía các nữ thượng đẳng thần cũng được tôn vinh là Bà  chùa Bà, miếu Bà, núi Bà.

So với Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, người thừa lệnh chúa Nguyễn (Hiền Vương) vào Nam lập công đầu trong cuộc kinh lý và xếp đặt nền cai trị trên vùng đất mới. Tiếc thay, Nguyễn Hữu Cảnh bị đột tử sau ba năm công cán. Thời gian quá ngắn đối với sứ mạng quá lớn. Lê Văn Duyệt là người bám trụ tại vùng đất này lâu năm nhất, ở vào thời kỳ mới đầy phức tạp khó khăn, nhưng ông cũng đã ứng phó và xếp đặt đâu đó an bài. Hai ông (Cảnh và Duyệt) kẻ trước người sau đều có công to trong việc mở mang bờ cõi và định an một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phương Nam. Là lớp hậu bối, chúng ta đã nối quyền thừa hưởng sự nghiệp đó đến ngày nay, thì cũng nên có những suy nghĩ và xử sự công bằng đối với tiền nhân.

So với các đại công thần triều Nguyễn, Lê Văn Duyệt xuất thân từ chốn điển dã nông thôn, không học vị khoa bảng mà lại là một người xuất sắc, được vua kính trọng, dân thương yêu nhưng cuộc đời lại có nhiều bị kịch, đến chết cũng không yên mả yên mồ. Động cơ nào đã giúp Lê Văn Duyệt vượt qua số phận làm nên nghiệp lớn và tác nhân nào đã tạo ra nhiều nghịch lý trong cuộc đời để cho hậu thế phải đắn đo bàn luận? Điều này rất cần ở sự giải đáp khách quan của những nhà khoa học lịch sử.

Nhận xét về Lê Văn Duyệt, có nhiều người khen và cũng không ít  người chê. Khen chê tùy thuộc vào chỗ đứng, cách nhìn và không gsian, thời gian của người đó đang sống. Có lẽ vì đã sinh trưởng trên mảnh đất này nên tôi được nghe nhiều tiếng khen hơn là chê. Đại loại, Ông là: – Một tướng lãnh tài ba – một nhà cai trị có bản lãnh biết tuân trọng mệnh vua và biết lấy dân làm gốc – một pháp quan nghiêm minh – một người chủ trương về kinh tế có căn cơ và thông thoáng – người có tầm nhìn mới mẻ trong đối ngoại biết vì lợi ích định an và phát triển đất nước… Và có lẽ vì là người theo đạo nên tôi có quan tâm tìm hiểu và nhận thấy: Ông là người thực thi đường lối tôn trọng tự do tín ngưỡng, không thiên vị hoặc bạc đãi một tôn giáo nào. Ông lập Văn Thánh miếu, cho tu sửa và xây cất chùa am, đồng thời bài trừ thói lề dị đoan mê tín, ngăn cấm kẻ lợi dụng tôn giáo làm điều xăng bậy. Riêng đạo Thiên Chúa thì lúc bấy giờ có nhiều chuyện phức tạp hơn. Triều đình bắt đầu thi hành lệnh cấm đạo: Các nhà truyền giáo bị trục xuất, nhà thờ bị đóng cửa và triệt hạ, nhiều nơi giáo dân bị bắt bớ giam cầm… Nguyên do là cả hai phía đều mang nặng đầu óc hẹp hòi bảo thủ – Phía giáo hội khư khư ôm lấy đường lối truyền đạo quá cũ, diễn tả đức tin không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc – Phía triều đình xem Công giáo là tà đạo của Tây dương, nhà vua cảm thấy quyền lực tối thượng của mình bị che khuất bởi quyền lực thiêng liêng duy nhất của Chúa trời. Lồng nghi kị càng tăng khi biết rõ các giáo sĩ thường lui tới bằng tàu buôn và chiến thuyền ngoại quốc.

Với tầm nhìn thông thoáng và đầu óc tỉnh táo hơn, Lê Văn Duyệt thấy rõ Công giáo là một trong hai tôn giáo có mặt lâu đời trên nhiều nước và đã trở thành dòng tín ngưỡng mạnh mẽ trong đân. Nếu xâm phạm đến tín ngưỡng (cấm đạo) thì sẽ xây ra những hậu quả nguy hại khôn lường, làm cớ cho ý đỗ xâm lược của ngoại bang. Ông dâng sớ về kinh hết lời can gián. Vua Minh Mạng có phần nhượng bộ, lệnh cấm đạo vẫn duy trì nhưng việc thi hành chưa đến mức độ triệt để gắt gao. Riêng trong vùng lãnh thổ ông cai quản người Công giáo vẫn còn hành đạo dễ dàng, không bị phân biệt đối xử. Trong vụ 3 giáo sĩ ngoại quốc từ Gia Định đi ra Huế bị cầm giữ, ông đích thân ngồi ghe bầu ra tận kinh đô để can thiệp và xin đón họ về Nam… Có thể nói Lê Văn Duyệt là một nhà cai trị sớm biết và đã thực thi đường lối tôn trọng tự do tín ngưỡng nhằm mục đích an dân. Ông đã để lại bài học này gần hai trăm năm qua. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam, nếu không có đường lối đúng đắn của Đảng về vấn để tôn giáo – tôn trọng tự do tín ngưỡng để đại đoàn kết dân tộc – thì nhiệm vụ giải phóng đất nước khó hoàn thành. Bài học này vẫn còn giá trị rất lớn trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Vì lý do nào đó một số quốc gia đã để cho mâu thuẫn tôn giáo bùng phát khiến họ phải tan rã, phân ly, nhân dân phải chịu đau khổ chết chóc.

Lê Văn Duyệt là ân nhân của người Công giáo. Nhờ ông người Công giáo trên vùng đất này có một thời không bị phân biệt đối xử và bức hại, có thời gian để củng cố đức tin, chuẩn bị đi vào một cuộc bách hại không đối kháng đây khốc liệt. Biết thế nhưng có mấy ai mạnh dạn bày tỏ lòng tri ân, dù chỉ làm một việc nhỏ là đến lăng thắp một nén nhang trước linh vị của Ông. Giáo luật cũ xem việc thờ kính ông bà cha mẹ và những người có công với làng nước đồng nghĩa với mê tín dị đoan. Nay giáo hội Công giáo đã có nhiều đổi mới, đã nêu cao tỉnh thần sám hối về những sai lầm trong quá khứ của mình, trong đó có nhìn nhận diễn tả đức tin không phù hợp với truyền thống dân tộc, thì cũng nên nghĩ đến món nợ ân nghĩa đối với người đã từng giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho mình trong quá trình truyền đạo.


Nhatbook đặt lại tựa


*

để lại phản hồi