Tinh thần dân chủ ở Đông Phương


Tinh thần dân chủ ở Đông Phương

Trần Đức An


Dân chủ ở Đông Phương

  1. Đại cương về Dân chủ

Ngày nay, trào lưu dân củ đã được lan tràn khắp thế giới, và được nồng nhiệt ủng hộ. Người ta coi nhue một chế độ chính trị lý tưởng, một chế độ mà con người được sống hoàn toàn tự do, hạnh phúc và tự mình làm chủ được vận mệnh mình.

Nhưng thế nào là dân chủ?

Đây là một câu hỏi quan trọng, vì chính nội dung của danh từ dân chủ đã nảy sinh ra bao nhiêu chế độ, chế độ nào cũng tự gán cho mình là dân chủ thực sự!

Phe Cộng sản có Dân chủ nhân dân, Dân chủ xã hội, Dân chủ Mác-xít… và Khối Tự Do cũng có những phong trào Dân Chủ Quốc gia, Dân chủ tự do v.v…

Người ta thường định nghĩa:

Dân chủ là một chế độ trong đó chủ quyền thuộc về toàn dân. Nói khác đi nhân dân được quyền tham gia việc điều khiển bộ máy chính trị quốc gia một cách gián tiếp hoặc trực tiếp.

Dân chủ còn là một chế độ mà mọi công dân đều được bình đẳng về chính trị cũng như về kinh tế, về quyền lợi và phẩm cách, không có một giai cấp nào được ưu đãi. Chính từ chỗ bình đẳng này con người mới có tự do.

Trên đây là mấy ý niệm sơ khởi để chúng ta phân biệt rõ ràng tinh thần và chế độ dân chủ khác nhau như thế nào.

  1. Phân biệt tinh thần và chế độ dân chủ

Ta thường bảo rằng tinh thần dân chủ của người Anh đã có từ lâu và rất cao, dù họ sống dưới chế độ quân chủ.

Như vậy tinh thần biểu lộ một tư tưởng, một thái độ, hành động hoặc những phẩm tính…

Còn chế độ là cách thể hiện cụ thể của tinh thần đó. Một chế độ phải được xây dựng và tổ chức thành cơ cấu, hệ thống rõ ràng.

Tinh thần là phần tiêu cực, và chế độ là phần tích cực.

Phân biệt như vậy, ta mới có thể hiểu được tại sao Đông Phương suốt mấy ngàn năm sống dưới chế dộ quân chủ, nhưng đã có những sắc thái dân chủ, biểu lộ nhiều khi rất đặc biệt.

  1. Những sự kiện biểu lộ tinh thần Dân chỉ ở Đông Phương

Chế độ dân chủ mới đước thành hình chừng hơn một trăm năm nay, đặc biệt là ở Tây Phương.

Nhưng trước khi tiến tới một chế độ, nó đã được hun đúc bằng những tư tưởng, thái độ, hành động…

Ở Đông phương, ta thấy có nhiều sự việc đã chứng tỏ tinh thần đó:

  1. Tiêu biểu là Trung Hoa, đã có những thời kỳ dân chúng sống trong cảnh thái hòa, thịnh trị, không có những cảnh người đè nén người, xâm phạm quyền lợi của nhau: đó là thời Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.

Người Lãnh đạo không cứ phải cha truyền con nối, nhưng có thể do dân tiến cử, cốt sao là người được nhân dân tín nhiệm về tài về đức. Lịch sử đã ghi lại những truyện vua Nghiêu nhường ngôi cho ông Thuấn hay truyện Hứa Do, Sào Phủ…

  1. Kẻ quần thần cũng vậy, cốt sao tỏ được cái tài của mình, và nếu gặp đấng minh quân là được trọng dụng ngay (Quản Trọng, Báo Thúc, Sô Ky, Ngô Khởi, Tô Tân, Trương Nghi đều là những người tự tiến thân và được nhà vua trao cho những chức vụ quan trọng).

Hai sự việc kể trên đã chứng tỏ chính quyền không phải luôn luôn là tư hữu của một các nhân, một dòng họ.

  1. Dần dần sự tuyển chọn nhân tài được thể hiện qua chế độ khoa cử. Khoa cử là một hình thức khảo hạch công bình, cốt ứng cử viên chứng tỏ được tài đức của mình. Và khi đã trúng tuyển họ có quyền tham gia việc điều khiển bộ máy quốc gia.
  2. Ở triều đình lại đặt ra một cơ quan Giám sát, hay các quan Ngự sử có quyền dàn hặc cấp lãnh đạo một khi đi sai đường, kể cả nhà vua. Như vậy, đã chứng tỏ các quyền hạn của vua quan không phải là không vô hạn.
  3. Thêm vào đó Luật pháp mỗi ngày một tinh vi. Luật pháp phải chăng là một hình thức của nền dân chủ nhằm mục đích xác định trên giấy tờ vị trí cũng như quyền ạn của mỗi người. Khẩu hiệu: “Pháp bất vị thân” nhiều lần được nhắc nhở tới, cũng chứng tỏ mọi người đều được coi bình đẳng đưới với pháp luật…
  4. Nhưng đặc sắc nhất là tư tưởng của Mạnh Tử. ông có viết một câu bất hủ tiêu biểu cho tinh thần dân chủ: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, nghĩa là “ Dân phải được quý trọng hơn hết, rồi tới quốc gia, và cuối cùng mới là ông Vua”.

Khi Tuyên vương hỏi ông: “Bầy tôi giết vua có được chăng?”. Ông đáp: “kẻ làm hại điều nhân gọi là giặc, kẻ làm hại điều nghĩa là ác. Kẻ ác, giặc cướp chỉ là người thường mà thôi, nên tôi chỉ nghe thấy người ta giết một người tên Trụ mà thôi”.

  1. Riêng ở Việt Nam, ta thấy cách tổ chức thôn xã, một phần nào cũng tỏ lộ tinh thần dân chủ. Mỗi làng xã là một cộng đồng tự trị, dân làn tự bầu ra những kẻ tài đức để cai trị lấy nhau. Cho nên ta mới có câu “phép vua thua lệ làng”.

Lịch sử còng chứng tỏ thêm tính cách dân chủ qua hội nghị Diên Hồng, nơi nhân dân tự định lấy số phận quốc gia cuar mình…

 

  1. Đặc tính của tinh thần Dân chủ Đông Phương

Tất cả những sự kiện trên đây mới chưng tỏ người Đông Phương có một tinh thần dân chủ từ lâu. Nhưng nó không xây dựng thành chế độ. Đó mới chỉ là những thái độ không có tính cách thường xuyên, hệ thống tổ chức hản hoi. Phải chờ đến đầu thế kỷ XX ngọn gió Tây phương đem lại những cơ cấu thực sự để thức tỉnh, vì rằng có nhiều yếu tố đã ảnh hưởng đến tinh thần đó:

  1. Tinh thần đó chịu ảnh hưởng rất nhiều của một nền Triết lý nhất là Nho giáo. Với thuyết “Vạn vật nhất thể”, Nho giáo coi Trời, Đất, Người đều cùng một nguồn gốc (lý), cho nên hợp với Trời là hợp với Người (dân). Vua đã là người được Trời trao sứ mệnh (thiên mệnh) chăm dắt dân (thế thiên hành đạo), nên vị thiên tử chỉ cần đừng làm trái đạo Trời là hợp ý nguyện chung của nhân dân rồi.
  2. Tinh thần đó lại xây dựng trên căn bản luân lý: Vua đã là con Trời nên là một người đầy đủ nhân nghĩa lấy lẽ phải làm quy tắc, không là trái ý dân. Hơn nữa, Khổng tử còn nhấn mạnh đến việc tu thân làm gốc. Tu thân là tạo co mình một căn bản luân lý, biết thơ]ng người, thương dân không làm điều gì đi ngược lại ý nguyện của dân. CŨng vì vậy mà ở Đông phương, cấp lãnh đạo là người có đức hơn là có tài…
  3. Xã hội Đông Phương được xây dựng trên tình cảm hơn là lý trí, trên bổn phận hơn là quyền lợi. Con người sống để hòa hợp với thiên nhiên hơn là dành lấy quyền lợi (đạo Lão) hoặc để thoát lý thế tục (đạo Phật). Vì vậy họ thiếu hẳn một tinh thần tranh đấu, tự xóa bỏ quyền lợi các nhân, thiếu sự phân tích rõ ràng, và điều quan hệ là thiếu hẳn một cơ cấu tổ chức theo hệ thống cụ thể.

Kết quả là tinh thần dân chủ đó có tính cách mơ hồ, rời rạc và co dần (tiêu cực)

  1. Kết luận

Bằng vào những dẫn chững và đặc tính trên, ta thấy tinh thần dân chủ ở ĐÔng Phương đã phát triển rất sớm, nhưng nó chỉ manh nha yếu ớt, vì thiếu một cơ sở vững vàng.

Xây dựng trên những tư tưởng tiêu cực, quá tin vào yesu tố nhân sự (lòng tốt của lớp người lãnh đạo), thiếu sự tổ chức hợp lý rõ ràng như luật pháp, hiến pháp là những giới hạn phân định quyền lợi để ngăn ngừa kẻ lãnh đạo đi đến chỗ độc tài. Cái tinh thần đó đã làm cho xã hội Đông hương chậm tiến hàng mấy thế kỷ so với Tây Phương.


Chinh tri pho thong

Chính Trị Phổ Thông, Sáng xuât bản, 1965

bản scan pdf: <LINK>


để lại phản hồi