Một cách hiểu khác về “mối bất hòa” giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt


Một cách hiểu khác về “mối bất hòa” giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt

Lê Nguyễn


 

Trong lịch sử triều Nguyễn, và có lẽ trong cả lịch sử nước Việt, chưa vụ án nào có tính nghiêm trọng và kỳ lạ như vụ án Tả quân Lê Văn Duyệt, được tuyên sau khi ông đã mồ yên mả đẹp hơn ba năm trời. Giữa năm 1835, vụ nổi dậy tại thành Phiên An do con nuôi ông Duyệt là Nguyễn Hữu Khôi (sau bị đổi là Lê Văn Khôi) chủ xướng bị quân triều đình dẹp tan sau hơn hai năm vất vả, khó nhọc, thì cuối năm 1835, ông bị mang ra truy xét và bị kết 7 tội trảm (chém đầu), 2 tội giảo (treo cổ), ngôi mộ ở Gia Định bị xiềng lại, dựng bia đề hàng chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ”.

Nhatbook-Moi quan he giua Le Va Duyet va Vua Minh Mang-Tran Thuan-Vo Phuc Toan-2016
Cũng từ vụ án trên mà không ít tác giả đã kết nối nhiều sự kiện xảy ra từ lúc vua Minh Mạng chưa lên ngôi đến sau ngày Tả quân Lê Văn Duyệt qua đời thành một chuỗi xuyên suốt nhằm minh họa cho điều mà họ gọi là mối bất hòa nghiêm trọng giữa hai nhân vật lịch sử này.

Trong chuỗi sự kiện đó, có các câu chuyện sau:
– Chuyện Hoàng tử Đảm (sau là vua Minh Mạng) được chỉ định làm chủ tế trong lễ tang mẹ nuôi của ông là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu vào năm 1814.
– Chuyện đình nghị chọn Hoàng tử Đảm làm Hoàng Thái tử (sẽ kế vị ngôi vua) vào năm 1816
– Chuyện Tả quân Lê Văn Duyệt giết cha vợ vua Minh Mạng vào năm 1820.

Các sự kiện đó lần lượt được chính sử ghi lại như sau:
* Năm 1814, Thừa Thiên Cao hoàng hậu băng, khi bàn về việc chọn người chủ tự, sử chép rằng có người bàn chọn hoàng tôn Đán (con Hoàng thái tử Cảnh), nhưng vua Gia Long không thuận vì hoàng tử Đảm là con nuôi có văn tự của hoàng hậu, việc con tế mẹ không có gì không hợp lẽ. Sử cũng chép rõ là sau quyết định này của nhà vua, “Nguyễn Văn Thành tỏ ý không bằng lòng”. Và không có một dòng nào nhắc đến Lê Văn Duyệt hết.
– Năm 1816, tháng ba âm lịch, vua Gia Long triệu bầy tôi đến, giao cho Thượng thư bộ Lại Trịnh Hoài Đức viết chỉ lập hoàng tử Hiệu (Đảm) làm Hoàng Thái tử và hỏi ý kiến mọi người. Sử chép rằng :”Quần thần đều nói:’Ý thánh định trước, thực là phúc không cùng của Xã tắc, bọn thần xin noi theo mệnh lệnh’”. Không có dòng nào nói đến chuyện hai ông Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt chống lại việc lập hoàng tử Đảm làm Thái tử hết!
– Năm 1820, sau khi vua Minh Mạng vừa lên ngôi, Tả quân Lê Văn Duyệt xin và được nhà vua cho trở vào Gia Định, tiếp tục cương vị Tổng trấn Gia Định thành đã giao tạm cho người khác từ trước năm 1816. Nhà vua đã tiếp kiến ông Duyệt, cho phép tự quyết định “việc thành và việc biên cương, hưng lợi trừ hại, tùy nghi mà làm”, một hình thức tiền trảm hậu tấu dành cho những đại thần gánh vác việc quan trọng.
Ông Duyệt vào đến Gia Định, tiếp nhận nhiều oán thán của dân về sự nhũng nhiễu của Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý, cha của một trong những nàng hầu của vua Minh Mạng. Sau khi điều tra sự việc, nắm rõ việc làm tệ hại của Công Lý, Lê Văn Duyệt tâu về triều. Việc tống giam họ Huỳnh do triều đình trực tiếp quyết định và trong nhiều buổi chầu, vua Minh Mạng thường nhắc đi nhắc lại tội trạng của Công Lý để làm răn với mọi người. Cái chết của viên Phó Tổng trấn này cũng nằm ngoài tầm tay của ông Duyệt.

Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, một số cây bút đã nêu lên những sự kiện kể trên với nhiều sai lạc, nhằm tô đậm điều họ gọi là mối bất hòa giữa Tả quân Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng. Họ cho rằng mối bất hòa này bắt nguồn từ việc ông Duyệt (cùng Nguyễn Văn Thành) muốn đưa con trai Hoàng tử Cảnh (Hoàng tôn Đán, sau là Mỹ Đàng) lên kế vị thay vì chọn Hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng về sau), khiến sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng nuôi trong lòng mối ác cảm với vị Tổng trấn họ Lê. Trong khi đó, theo chính sử, ông Duyệt chưa từng có lần nào đề xuất ý kiến chọn con hoàng tử Cảnh làm chủ tế hay nối ngôi.

Chẳng những thế, các cây bút trên vẽ vời về chuyện bắt tội Huỳnh Công Lý, cho rằng ông Duyệt dùng quyền tiền trảm hậu tấu chém đầu Lý trước khi có chỉ của triều đình cho giải Lý về kinh. Chi tiết “giết cha vợ vua Minh Mạng” được nhấn mạnh thường xuyên để tạo sự giật gân và dùng để giải thích về mối bất hòa của ông Duyệt với nhà vua. Trên thực tế, Lê Văn Duyệt không hề giết Huỳnh Công Lý. Mặt khác, vua Minh Mạng có hàng trăm nàng hầu, không chắc nhớ mặt nhớ tên từng bà, chuyện liên quan đến sự phạm pháp của một trong hàng trăm cha mẹ của những nàng hầu ấy không có gì quan trọng cả.

Từ những thực tế lịch sử này, ta thấy rằng các yếu tố nòng cốt được sử dụng để minh họa cho điều gọi là sự bất hòa giữa Tả quân Lê Văn Duyệt và vua Minh Mạng đã bị làm cho méo mó, sai lạc rất nhiều.
Bên cạnh những yếu tố trên, có thể xét thêm một số chi tiết cần được làm rõ như sau:

* Không ít người cho rằng Lê Văn Duyệt ỷ mình công lớn, ăn nói bổ bả, coi thường cả vua Minh Mạng, nhưng những gì ghi trong chính sử cho thấy ông là một quan lại rất biết điều phải trái. Năm 1825, một viên thơ lại thuộc tào Binh ở Gia Định thành lỡ tay đóng triện ngược trong sổ binh dâng về triều, cho dù là một sơ xuất nhỏ của người dưới quyền, song khi hay tin, Tả quân Lê Văn Duyệt đã dâng biểu xin nhận tội vì lỗi không trông nom kẻ dưới.
Việc làm này thật quá khiêm cung của một bề tôi. Vua Minh Mạng đã miễn trách, lại còn ban dụ rằng:”Duyệt là bậc đại thần ở nơi bờ cõi, phàm trong hạt việc lợi thì làm, việc hại thì bỏ, người có tài thì tiến lên, người không tài thì bãi đi, khiến quan lại được xứng chức, nhân dân được yên nghiệp, như thế thì quan to sợ phép, quan nhỏ giữ liêm, ai là không biết khuyên răn, phép làm cho quan lại trong sạch như thế chẳng là đẹp tốt sao ? Điều mà trẫm đòi ở Duyệt là ở đó, mà Duyệt làm được xứng chức cũng là ở đó…” (Đại Nam thực lục). Những lời nói đó không ẩn chứa một điều gì có thể giúp suy diễn rằng nhà vua nuôi lòng oán hận hay đố kỵ với ông Duyệt hết.

* Đến như khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt có một việc làm tuy hợp tình hợp lý song không được nhà vua chấp nhận, như việc xuất kho gạo cứu đói cho người dân Chân Lạp, khi ông về Huế bệ kiến vào năm 1827, nhà vua cũng cho lên điện ngồi (một đặc ân hiếm hoi dành cho quan lại) và ôn tồn trách cứ:”Trước đây Chân Lạp kêu đói, khanh tiện nghi phát chẩn, không phải là việc nhỏ đâu. Quyền nghi thông biến ở khanh thì còn được, chứ người khác thì phải cẩn giữ pháp độ” (ĐNTL). Sử còn chép rằng:” Mỗi lần Duyệt vào chầu, vua còn đãi hậu hơn lên, từng nói với thị thần là bọn Trần Văn Năng, Tống Phước Lương rằng:” Người ta nói Duyệt tính bướng, nay trẫm xem ra là người trung thuận, cái nghĩa thờ bề trên có sẵn lúc ngày thường . Thì ra cái tính bướng bỗng đã gột sạch, không ngờ tuổi già lại tỉnh ngộ như thế” (ĐNTL)

* Giữa năm 1828, Tả Tham tri bộ Hộ (như Thứ trưởng bộ Tài chánh) Trần Nhật Vĩnh khi còn ở Gia Định thành được Lê Văn Duyệt tin dùng nên đã làm những chuyện bại hoại như ăn của đút, chiếm đoạt tài sản của người…, khi vừa mới đổi đi, dân nộp đơn kiện. Tả quân Lê Văn Duyệt đã đem việc này tâu lên, xin giải Vĩnh về Gia Định để đối chất, lại xin cử quan ở Huế về cùng hội xét, đồng thời làm tờ tâu xin nhận tội đã tin dùng kẻ làm bậy. Nếu đã sẵn mối bất hòa thì đây là cơ hội vàng cho nhà vua xuống tay, song vua Minh Mạng cũng chỉ nói với ông Duyệt:” …có lỗi mà biết lỗi thánh nhân còn tha, nữa là trẫm đối với khanh à. Việc khanh xin nghị xử thì gia ân miễn cho. Vậy ban dụ này ân cần chỉ bảo cho được yên lòng” (ĐNTL). Nhận được chỉ dụ, ông Duyệt vô cùng mừng rỡ.

* Thân phụ Lê Văn Duyệt là Lê Văn Toại chưa một ngày ở chốn quan trường, dưới triều Gia Long-Minh Mạng đã được phong Thống chế, hàm chánh nhị phẩm (ngang Thượng thư), vậy mà cho rằng như thế còn chưa xứng, đến đầu năm 1828, vua Minh Mạng còn thăng ông Toại lên chức Đô thống, hàm tòng nhất phẩm, bà Toại được phong làm Nhất phẩm phu nhân. Nếu không một lòng trọng đãi ông Duyệt, nhà vua không bao giờ làm thế.
Những chi tiết lịch sử trên không cho thấy một dấu hiệu bất hòa rõ ràng nào giữa hai nhân vật lịch sử Minh Mạng và Lê Văn Duyệt , ít nhất là trong lúc ông Duyệt còn tại thế. Sau khi ông Duyệt đã qua đời, Bố chánh Bạch Xuân Nguyên lấy cớ có mật chỉ của triều đình truy xét việc làm của cố Tổng trấn, việc này còn là một chi tiết mơ hồ, vì không ai rõ trên thực tế có mật chỉ không, nếu có thì nội dung ra sao, và họ Bạch có làm đúng mật chỉ không? Chỉ biết rằng việc tác oai tác quái của Xuân Nguyên đã làm nổ ra vụ nổi dậy của Lê Văn Khôi và binh lính thành Phiên An, khiến cho binh triều lắm phen vất vả.

Mãi sau khi lấy lại được thành Phiên An, triều đình mới làm cái việc giận cá chém thớt, một số quan lại được lệnh “làm án” Lê Văn Duyệt với những lời kết tội hàm hồ, như “sai người đi Diến Điện âm kết ngoại giao”, “giấu chứa giấy ngự bảo”, “mộ cha tiếm gọi là lăng”…, mỗi việc như thế là một tội chết!

Theo thiển ý của người học sử này, bản án Lê Văn Duyệt xuất phát từ tấm lòng ganh tỵ, thù ghét ông Duyệt của một số quan lại triều đình từ khi ông còn sống, nay được dịp thừa gió bẻ măng, và chủ yếu từ vụ nổi dậy ở thành Phiên An mà người chủ xướng là con nuôi ông Duyệt, sau khi vị Tả quân đã qua đời. Tất nhiên, nhà vua phải chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định của triều đình đối với một bậc khai quốc công thần đã chết, song đó là một quyết định u mê đúng hơn là hành vi xuất phát từ một mối bất hòa chất chứa từ hàng chục năm trước.

Từ vụ án Lê Văn Duyệt, có thể xác định là bên cạnh những việc ích nước lợi dân to lớn mà triều Minh Mạng đã làm được, từ việc đào sông Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế ở An Giang, lập hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải ở phía Bắc, bảo vệ biên cương và mang lại cơm no áo ấm cho nhiều người, vua Minh Mạng đã chuốc lấy ít nhất hai vết nhơ sâu đậm trong đời làm vua của ông, một là u mê hành xử theo kiểu giận cá chém thớt trong vụ án Lê Văn Duyệt (và Lê Chất), hai là nhẫn tâm sát hại trên một ngàn người chỉ trong một ngày, bất kể binh dân hay nam phụ lão ấu, trong vụ “mả ngụy” đã được đề cập đến trong một bài khác.


Nguồn:  Facebook Lê Nguyễn


*

để lại phản hồi