‘Những thứ họ mang’ là ký ức về chiến tranh Việt Nam


‘Những thứ họ mang’ là ký ức về chiến tranh Việt Nam

Trần Văn Duy


Những tháng ngày chiến đấu gian khổ tại Việt Nam của những người lính Mĩ đã để lại trong tâm trí họ khi trở về nước kí ức về sự đau thương, về sự mất mát. Họ bị ám ảnh tột dộ bởi những mảng kí ức này và họ sẽ không thể nào có thể quên được chúng.

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, toàn bộ những người lính Mĩ trở về nhà, trở về quê hương thân thuộc mà họ luôn mong mỏi sau bao tháng ngày dài đằng đẵng. Họ mang theo hành trang kí ức chiến trận, nỗi niềm của kẻ thua cuộc, dư âm của cuộc chiến, mùi máu đạn và khói lửa,… Trong số đó đã hình thành nên những nhà văn thành danh nhờ vào những câu chuyện lấy đề tài chiến tranh và người lính làm nền tảng của sự viết, đó là những câu chuyện kể gắn liền một mạch suốt cuộc đời còn lại của họ cho đến khi nào họ kết thúc sự sống. Tim O’Brien là một nhà văn nổi tiếng trong những nhà văn như thế. Tim O’Brien lấy được bằng cử nhân đại học vào năm 1968, cũng trong năm đó ông bị soạn thảo vào trong quân đội Hoa Kì và sang năm 1969, ông đã bị gửi đến chiến trường Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, người lính dân sự Tim O’Brien đã trực tiếp tham chiến từ năm 1969 đến năm 1970. Quãng thời gian đó tuy không dài nhưng những ám ảnh kinh hoàng mang mùi chiến trận và chết chóc vẫn luôn ám ảnh trong kí ức của ông thông qua các trang sách ông viết.

Những trải nghiệm của Tim O’Brien tại Việt Nam đã trở thành những câu chuyện chiến tranh của một loạt tiểu thuyết và hồi ký. Ông đã sử dụng những câu chuyện chiến tranh của mình để trở lại quá khứ và suy ngẫm về hiện tại. Ông dệt chúng vào kết cấu tâm lí của các nhân vật và kể cho người đọc về những trải nghiệm chiến tranh ám ảnh ông cũng như những người lính ra sao, những tác hại của chúng thế nào và sự khó nhọc của mình và họ trong việc tìm thấy hòa bình nội tâm trong môi trường sau chiến tranh: “Việc kể những câu chuyện xem ra là một tiến trình tự nhiên, không tránh được, cũng như là hắng giọng. Một phần là tự thanh tẩy, một phần là giao tiếp, đó là một cách để túm áo thiên hạ mà giải thích cho họ nghe đích xác những gì đã xảy ra với tôi, tôi đã để cho mình bị lôi vào một cuộc chiến sai trái như thế nào, tất thảy những sai lầm tôi đã phạm, tất thảy những điều kinh khủng tôi đã thấy và đã làm”1. Vào năm 1973, Tim O’Brien đã xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình là một cuốn hồi ký mang tên If I Die in a Combat Zone, nói về những năm tháng phục vụ trong quân ngũ và các trải nghiệm chiến tranh của ông. Các tác phẩm tiếp sau đó cũng cùng đề tài về người lính và chiến tranh, xoay quanh những hồi ức lính đầy đau thương mất mát về thể xác lẫn tâm hồn những đứa con của nước Mĩ.

Những thứ họ mang là một tác phẩm quan trọng trong số đó. Nó nói lên những hành trang mà người lính Mĩ đưa vào trong cuộc chiến cũng như những gì họ phải mang theo sau khi chiến tranh kết thúc và một phần tiêu biểu trong đó chính là những kí ức về chiến tranh. Trong tác phẩm Vật chất và kí ức, Henri Bergson coi giữa những đối vật tác động trên kí ức và những đối vật chịu ảnh hưởng của kí ức, thân xác chúng ta chỉ là một vật truyền dẫn, phụ trách việc tiếp nhận và cấm đoán những vận động hoặc thông truyền những vận động ấy cho một số cơ chế vận động là được xác định rõ nếu hành động là sự phản xạ, những cơ chế ấy là được quyết định, nếu hành động là tuỳ hứng. Mọi sự phải xảy ra như thể là một kí ức biệt lập đã dần dần thu lượm các hình ảnh dọc theo thời gian, khi chúng diễn ra và như thể là thân xác chúng ta, với những gì bao quanh nó, bao giờ cũng chỉ là một hình ảnh nào đó trong các hình ảnh ấy, hình ảnh cuối cùng mà chúng ta luôn luôn có được bằng cách chặt ngang tức thời vào dòng biến dịch phổ quát. Trong hình chặt ngang ấy, thân xác chúng ta chiếm điểm trung tâm. Những sự vật xung quanh tác động trên nó và nó tác động trở lại trên chúng2. Chiếu theo quan niệm về kí ức của Bergson, tôi cho rằng trí não của nhà văn Tim O’Brien là nơi ghi dấu các kí ức chiến tranh, ông đã dồn nén các xúc cảm khó phai từ kí ức về cuộc chiến thảm khốc mà ông đã trải qua để tạo nên Những thứ họ mang và tất nhiên tác phẩm văn chương vĩ đại này chính là nơi lưu trữ một phần nào đó kí ức của nhà văn. Bài viết nhằm khảo sát các kí ức có tác động như thế nào đối với việc sáng tạo Những thứ họ mang lấy bối cảnh chiến tranh làm đề tài và sẽ đi tìm hiểu đặc điểm các mảng kí ức của nhà văn ẩn chứa trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ này.

  1. Kí ức cá nhân và kí ức cộng đồng

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mĩ phát động là sự tiếp tục cao nhất của chính sách bành trướng đế quốc. Chính phủ Mĩ ban đầu đã lập nên chính quyền Ngô Đình Diệm để làm công cụ quản lí miền nam Việt Nam, làm bàn đạp tấn công chủ nghĩa Cộng Sản miền Bắc. Nhưng chính quyền Diệm đã không làm tốt phần việc được giao như những tính toán mà chính phủ Mĩ mong đợi. Đến năm 1963, Ngô Đình Diệm cùng em trai bị các tướng lĩnh của mình đảo chính và giết hại. Lúc này, người Mĩ nhận ra rằng, vấn đề tổ chức, sức chiến đấu của quân đội tại miền nam Việt Nam không có nhiều khả quan để thực hiện thắng lợi chiến tranh với quân đội Cộng Sản. Cho nên từ 1964 trở đi, Nước Mĩ quyết tâm dùng chiến lược sử dụng sức mạnh quân đội tinh nhuệ, quân sự hiện đại của nước mình với hi vọng sẽ kết thúc chiến tranh trong chiến thắng vẻ vang. Năm 1964, Quốc hội Mĩ đã thông qua Nghị quyết về vấn đề liên quan đến Vịnh Bắc Bộ và châm ngòi cho Chiến tranh Việt Nam. Đội quân được mang sang chiến đấu tại Việt Nam là những người đã được huấn luyện trong quân đội trước đó và lực lượng tổng động viên. Phần lớn số lực lượng quân đội được tuyển mộ từ dân thường. Một phần trong số họ mang theo ra chiến trường tinh thần tự hào của công dân thế giới tự do đi bảo vệ cho lí tưởng của đất nước mình, thoả mãn chí làm trai, hoài bão chiến đấu chống lại chủng tộc da vàng Bắc Việt và Việt Cộng để mang lại hoà bình cho những người da vàng miền Nam,…hay chỉ là để không phải trở thành kẻ hèn nhát, mang nỗi xấu hổ với đất nước, bạn bè, người thân, như nhân vật Tim O’Brien trong Những thứ họ mang.

Các lí tưởng của họ hướng đến được phủ men sáng bằng các diễn ngôn hào hùng của nước Mĩ lúc bấy giờ: chiến đấu vì tổ quốc. Một phần những người lính này tin vậy, tin vào sứ mệnh phải làm cho quốc gia và cả cho chính bản thân họ. Chính sách Quân dịch dự bị cũng là một công cụ quan trọng của chính phủ trong việc tuyển quân nhập ngũ, sinh viên đại học sẽ được chu cấp một khoản kinh phí học đại họ. Sau đại học họ phải phục vụ một thời gian trong quân ngũ nếu quân đội cần,…và còn có vô vàn lí do khác nhau để một bộ phận thanh niên Mĩ phải nhập ngũ, lên đường sang Việt Nam chiến đấu, đi vào cõi chết, thương tổn. Bên cạnh những người Mĩ ủng hộ, bênh vực, háo hức tham gia chiến trường là những người có tinh thần phản chiến. Họ ghét bỏ, căm thù đối với cuộc chiến tranh phi nghĩa. Nước Mĩ dường như bị chia cắt làm hai mảnh về hệ tư tưởng trong thời gian cuộc chiến leo thang. Các cuộc biểu tình, bạo động, đốt thẻ quân dịch, trốn lính,…tại Mỹ nổ ra liên tục để phản đối chiến tranh xuất phát từ nhiều lí do khác nhau: từ lòng nhân đạo, từ phong trào Dân quyền năm 1964: “quá khứ đau thương mà người da đen từng trải qua đã khiến họ không còn tin bất kì lời biện hộ nào của chính phủ rằng mục đích của chiến tranh là vì tự do”3,…và hơn hết là từ sự hi sinh, mất mát của chính xương máu người Mĩ trong chiến tranh mà không nhận được dấu hiệu sẽ có thắng lợi khả quan nào: “Đầu năm 1968, sự tàn nhẫn của chiến tranh bắt đầu tác động đến nhận thức của nhiều người Mĩ. Đối với nhiều người, vấn đề ở đây là Hoa Kì đã không thể chiến thắng trong cuộc chiến này, trong khi 40 nghìn lính Mĩ đã chết vào thời điểm đó, 250 nghìn người bị thương và con số còn tiếp tục gia tăng”4.

Câu truyện “Trên dòng sông mưa” được Tim O’Brien sáng tạo nên từ bối cảnh như vậy của nước Mĩ. Câu truyện đó chính là kí ức về sự trải nghiệm thực tế của cá nhân ông và hơn trên hết, nó cũng là câu truyện bao trùm mọi cách nghĩ, cách hành động trong hoàn cảnh éo le của một bộ phận những thanh niên phản đối chiến tranh lúc bấy giờ. Đó là những xúc cảm của câu chuyện mà theo Tim O’Brien là không dễ dàng gì để có thể kể ra. Năm 1968 khi 21 tuổi, nhà văn Tim O’Brien bị động viên đi đánh nhau vì một cuộc chiến mà ông căm ghét và ông đã trở thành một người lính dân sự bị mắc kẹt không tự nguyện vào chiến tranh.

Đối với nhân vật Tim O’Brien, đứng giữa hai lựa chọn là đạo đức và tình thân, ông đã rất băn khoăn, trăn trở. Chọn lựa đạo đức, ông phải tìm mọi cách để trốn chạy khỏi vòng xoáy cuộc chiến, nhưng nó cũng đồng nghĩa với việc ông bị gia đình, bạn bè và mọi người xung quanh cho là hèn kém, yếu đuối… Sự lựa chọn của Tim trước những đau khổ là chạy trốn nó. Ông quyết định lái xe đến Canada, nơi lái xe chỉ hết 8 giờ để thoát khỏi việc bị xoáy sâu vào trong cuộc chiến. Để có sự quyết định chạy chốn, Tim đã trải qua những cảm giác giằng xé về mặt đạo đức, không dễ gì quyết định được. Ông luôn băn khoăn, do dự giữa chọn lựa một bên là sự tự do một bên là sự ở lại. Ông sợ rất nhiều thứ, sợ cảnh lưu vong, sợ rời xa gia đình, cuộc sống, bạn bè, sợ luật pháp, sợ đánh mất sự tôn trọng của cha mẹ, sợ người khác trách móc chê cười ông là kẻ hèn nhát,….

Cuộc chiến mà những người lính này bị cuốn vào không chỉ là để bảo vệ thế giới tự do, duy trì nền độc lập tự chủ cho chính phủ, con người Việt Nam như nhà Trắng thông cáo. Điều này chúng ta có thể thấy trong bản báo cáo bí mật của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kì năm 1952: “Đông Nam Á, đặc biệt là Mã Lai và Indonexia, nơi có những nguồn tài nguyên quan trọng như cao su và thiếc và là nơi sản xuất dầu thô cũng như các nguyên liệu quan trọng mang tính chiến lược khác…”5 và năm 1963, trong bài phát biểu của Thứ trưởng Bộ ngoại giao Mỹ Johnson trước câu lạc bộ kinh tế Detroit: “Điều gì tại Đông Nam Á đã thu hút những thế lực hùng mạnh tập trung tại đây hàng thế kỉ nay? Vì sao nó lại đáng được ao ước và quan trọng như thế? Thứ nhất, Đông Nam Á có môi trường tươi tốt, đất đai màu mỡ, tài nguyên thiên nhiên phong phú, dân cư thưa thớt và có đủ không gian để mở rộng. Các quốc gia  Đông Nam Á luôn luôn dồi dào các sản phẩm có thể xuất khẩu như lúa gạo, cao su, ngô, gia vị, dầu mỏ và nhiều thứ  khác nữa”6. Vậy nên, ngoài các lí do chúng ta vẫn thường biết khiến cho quân đội và những người lính như Tim O’Brien đánh cược mạng sống để tham gia vào chiến trận còn có thêm một lí do khác nữa, chính là những khoản lợi nhuận kinh tế béo bở dành cho những kẻ mang danh nghĩa người đứng đầu nhà nước: “chiến tranh là trục lợi, dẫu cho nó cũng tốn kém […] bởi vì lợi nhuận là một trong những lí do quan trọng nhất để loài người vẫn cứ đánh những cuộc chiến tranh phi nhân”7.

Là một trí thức tốt nghiệp đại học, nhà văn Tim O’Brien có đủ kinh nghiệm để thấy được rằng cuộc chiến này ẩn chứa nhiều sự sai trái và mơ hồ: “cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam tôi vẫn thấy hình như là sai trái. Máu rõ ràng đã đổ vì những lí do mơ hồ. Tôi chẳng thấy sự thống nhất nào về triết học hay lịch sử hay luật pháp”.  Một đất nước dấn thân vào cuộc chiến, theo ông: “nó phải có niềm tin hợp lẽ vào công lý và sự chẳng đặng đừng của việc mình làm”. Cuộc chiến gây chia rẽ nội bộ nước Mĩ và các sự kiện xung quanh nó gây ra cho người dân Mĩ và Tim  nhiều câu hỏi mơ hồ bất định: “Đó có phải nội chiến không? Chiến tranh giải phóng dân tộc hay chỉ là xâm lấn? Ai phát động nó, khi nào, tại sao? Điều gì đã  thực sự xảy ra với chiến hạm USS Maddox của Hoa Kì vào cái đêm đen ấy ở Vịnh Bắc Bộ? […] Hiệp định Giơneve là thế nào? SEATO và chiến tranh lạnh thì sao? Thuyết domino là gì?….”. Từ lúc nhận tờ thông báo động viên, những chàng trai trẻ như nhân vật Tim thật sự suy sụp vì những cảm xúc đau khổ đan xen. Cảm xúc ông chuyển từ phẫn nộ sang kinh hoàng, sang hoang mang, sang tội lỗi, sang buồn phiền, rồi quay trở lại phẫn nộ. Bởi ông là một người theo chủ nghĩa tự do, hơn hết ông khiếp sợ và ông không muốn chết. Cuộc đời đối với ông nhiều bế tắc, đầy rẫy tuyệt vọng “cảm thấy thương thân, nghĩ về cuộc đời tôi dường như đang suy sụp về phía sự chết chóc. Tôi thấy mình tê liệt. Quanh tôi những lựa chọn dường như đang thu hẹp lại, như thể tôi đang lao vút xuống một cái phễu cực lớn đen ngòm, toàn thế giới xiết chặt từ tứ phía”. Trên dòng sông Mưa, chiếc thuyền câu chở Tim cùng ông lão cách bờ biên giới Canada chưa đầy 20 mét. Tim đã nghĩ rằng mình sẽ lên bờ và chạy đến một thế giới tự do. Nhưng những lời đàm tiếu, nỗi ô nhục,… lời nhạo báng “đồ phản bội, thằng đào ngũ, quân hèn nhát” của những “kẻ ái quốc” đã kéo nhân vật Tim ở lại đất nước. Ông chấp nhận thực tế đen tối đó và sẽ mang theo nỗi đau khổ, dằn vặt khi sang tham chiến tại Việt Nam: “tôi đã là một thằng hèn. Tôi đã đi đến cuộc chiến tranh”.

Trước khi bước vào cuộc chiến, Tim O’Brien cũng như một phần thanh niên Mĩ là những người mang tinh thần phản đối chiến tranh quyết liệt và căm ghét thù hằn nó nhưng vì các tác động trái chiều khác nhau đã làm yếu mềm đi tinh thần phản chiến trong con người họ, buộc họ phải trao bản thân mình cho cuộc chiến. Dù biết chiến tranh là phi nhân, là sai trái nhưng chàng trai trẻ như nhân vật Tim O’Brien trong Những thứ họ mang cũng như nhiều thanh niên khác đành phải chấp nhận nó, trở thành “một thằng hèn” phản bội lại chính bản thân họ và hơn thế, họ trở thành những kẻ chán nản, buồn bã với bước đi tuyệt vọng lê lết vào trong cuộc chiến: “Họ mang thanh danh mình. Họ mang nỗi sợ lớn nhất của người lính là sợ phải hổ thẹn. Người ta giết, và chết, bởi nếu không họ sẽ phải hổ thẹn. Đó mới là lí do đưa họ đến cuộc chiến, chứ chẳng phải cái gì tích cực, chẳng ước mơ vinh quang hay danh dự, chỉ là để tránh nỗi hổ thẹn nhục nhã vì mất danh dự”. Khi đã bước vào cuộc chiến đó, họ càng cảm thấy nó vô nghĩa, đầy rẫy sự khổ đau, chán trường dành cho bản thân cũng như dành cho đồng đội: “Họ đi như những con la. Ban ngày họ bị bắn tỉa, ban đêm họ bị dội đạn cối, nhưng đó không phải giao chiến mà chỉ là hành quân bất tận, làng này qua làng khác, không mục đích, chẳng được gì chẳng mất gì”. Trong nỗi ám ảnh bủa vây cuộc sống như thế, họ đành phải tìm mọi cách để khiến cho bản thân có được niềm thanh thản tương đối, trong đó có cả việc sử dụng chất heroin. Khi Ted Lavender bị phục kích và chết thì những người đồng đội của anh ta không chỉ chia sẻ cho nhau niềm đau nỗi buồn vì mất đi một đồng đội thân thiết, mà họ còn chia cho nhau cả phần heroin của kẻ đã chết để họ có thể chìm vào hư ảo và quên đi cuộc sống khốc liệt tạm thời trong chốc lát.

Chiến tranh qua đi và để lại hậu quả nặng nề trong hành tranng kí ức những nạn nhân của nó. Qua Những thứ họ mang, nhà văn Tim O’Brien đã cho chúng ta thấy rõ những đau khổ giằng xé từ nhiều chiều kích khác nhau trong quá khứ lẫn ở hiện tại, như thể chúng là mũi dao sắc nhọn cứa tận sâu trong nội tâm của một bộ phận thanh niên Mĩ xoay quanh việc chọn lựa quyết định sinh tử: có hay không tham gia chiến tranh Việt Nam. Kí ức của nhà văn Tim O’Brien khi viết Những thứ họ mang đã trải qua độ lùi thời gian nhất định, nên câu truyện “Trên dòng sông mưa” cùng những câu truyện khác đã cách khá xa cảm xúc dĩ vãng lúc Tim O’Brien mới bắt đầu tham gia chiến đấu, nhưng những câu chuyện được kể ra không vì thế mà mất đi sự tươi mới. Ra khỏi chiến tranh Việt Nam, ông đã có sự chiêm nghiệm, suy ngẫm sâu sắc hơn về quãng đời đã qua. Một số bản báo cáo, tư liệu về chiến tranh  được tôi trích dẫn trên kia và đặc biệt là tài liệu mang tên Báo cáo của Lầu Năm Góc do Daniel Ellsberg và Russo biên soạn (tờ New York Times chọn lọc và đăng năm 1971) đã gây chấn động khắp nước Mĩ khi được những người yêu chuộng hoà bình công bố. Những năm tháng sau khi từ chiến tranh trở về, Tim O’Brien chắc chắn đã tìm và đọc chúng. Qua những sự thực đó và chính trải nghiệm bản thân, ông hiểu rõ hơn về những điều bí ẩn, khó lí giải của cuộc chiến mà trước đó ông từng coi là hết sức mơ hồ, phi lí. Câu truyện về nỗi đau trong quá khứ đã được đúc kết nhiều thêm bằng những trải nghiệm, suy nghẫm sau cuộc chiến, chính vì thế, cảm xúc của ông thông qua các câu truyện đã có phần đau đớn hơn gấp bội.

Những thứ họ mang vừa kể về cuộc sống của nhân vật Tim O’Brien tại thời điểm hiện tại, lại vừa hồi tưởng lại nhân vật Tim O’Brien của những năm trước đây và cả những hồi ức về đồng đội của ông trong những năm tháng tham chiến tại Việt Nam, và nó còn diễn tả lại một không gian kí ức của nhà văn tạo tác nên chúng. Qua Những thứ họ mang chúng ta có thể thấy rất rõ chân dung của những người lính Mỹ trước, trong và sau khi tham gia vào chiến trận. Viết văn hướng đến kí ức về cộng đồng có lẽ chính là một trong những mục đích mà Tim O’Brien tạo nên Những thứ họ mang. Chính vì thế, văn chương của Tim O’Brien là văn chương mang tính đại diện, đại diện cho đối tượng những người lính trận mà ông hướng đến. Những nhân vật trong tác phẩm là hiện thân cho những người bạn của Tim O’Brien, đó là Jimmy Cross, Norman Bowker, Chuột Kiley, Mitchell Sanders, Henry Dobbins và Kiowa,…cũng như những người lính Mĩ khác đã trải qua cuộc chiến Việt Nam. Họ mang theo mình những vật dụng và vũ khí nặng nề cho các cuộc hành quân, và họ còn gánh vác cả những gì vô hình, là tình yêu nhưng cũng là nỗi ám ảnh, và cả sự hèn nhát,… Nhờ có tiếng nói của văn chương mà những người lính dù sống hay đã chết sẽ được sống lại thêm lần nữa. Nhà văn Tim O’Brien muốn người đọc hướng đến những nỗi lòng của mình dành cho cộng đồng người lính và muốn cho mọi người hiểu rõ về cộng đồng mình hơn, hướng con người đến gần những con người. Niềm hi vọng này của Tim O’Brien rất giống như lời tâm sự của Nguyễn Thanh Việt trong Kẻ li hương: “Chúng tôi muốn giãi bày tất cả những nỗi mất mát đau thương mà lẽ ra hãy còn chưa được nghe thấy ngoại trừ bởi chúng ta và những ai gần gụi thân thương với chúng ta”, “chúng tôi có thể nghe thấy những con người mà không ai khác muốn nghe này, ắt là chúng tôi cũng có thể khiến cho bạn nghe thấy họ”8.

  1. Từ kí ức đến bản văn chương hư cấu

Một điều đặc biệt trong tác phẩm của O’Brien là sự mờ nhạt giữa hư cấu và hiện thực. “Làm thế nào kể một câu chuyện chân thực về chiến tranh” là tiêu đề một câu truyện trong Những thứ họ mang. Nhìn tiêu đề và nội dung của câu truyện trên, có thể nhận ra Tim O’Brien là người khá quan tâm đến mức độ chân thực lẫn hư cấu của những câu chuyện chiến tranh đã được kể và sẽ được kể. Theo suy nghẫm của một người lính cũng như của một nhà văn thì: “một câu chuyện chân thực về chiến tranh chẳng bao giờ dạy đời. Nó không hướng dẫn, không xiển dương đức hạnh, không đưa ra những mẫu mực hay hành vi đúng đắn của con người, không kiềm chế con người đừng làm những việc con người vẫn luôn làm. Nếu một câu chuyện nghe có mùi dạy đời, đừng tin nó. Nếu đến cuối một câu chuyện về chiến tranh mà bạn cảm thấy có một chút gì công chính được cứu vãn khỏi sự tàn hại lớn, ấy là bạn đã bị biến thành nạn nhân của một sự dối trá khủng khiếp và cũ rích. Chẳng cái gì là công chính hết. Làm gì có đức hạnh”. Đê kể câu chuyện chiến tranh chân thực thì quy tắc đầu tiên cần phải tuân thủ là bằng cách “trung thành tuyệt đối với cái ác và sự tục tằn”.

Độc giả chắc chắn có thể rơi vào ấn tượng nhầm lẫn rằng tác phẩm này giống như một cuốn hồi ký. Đây sẽ là một sai lầm tự nhiên cho bất kỳ độc giả nào chưa tìm hiểu rõ nhà văn, bởi vì người mang tên Tim O’Brien là người kể chuyện trong hầu hết những câu truyện này có tên và một số sự kiện giống hệt tác giả Tim O’Brien. Bất cứ ai tìm hiểu về tiểu sử nhà văn sẽ chứng thực những điểm tương đồng này. Bởi lẽ Những thứ họ mang hoàn toàn không phải là một cuốn hồi kí chiến trường, mà nó là một tác phẩm hư cấu nghệ thuật dựa trên những kinh nghiệm từ bản thân nhà văn Tim O’Brien khi tham gia trận mạc và quãng thời gian chiêm nghiệm, suy nghẫm của ông sau chiến tranh cho tới khi tác phẩm này ra đời. Việc sử dụng hầu hết ngôi kể thứ nhất xưng “tôi” trong tập truyện (nhân vật “tôi” này cũng tên Tim O’Brien) và việc thỉnh thoảng tác giả lại nêu ra câu hỏi “đây có phải sự thật về chiến tranh hay không?”, đôi lúc lại kết luận “phần đó của câu chuyện là phần của chính tôi”,…và trong câu truyện “Ghi chú”, nhân vật Tim O’Brien đã đề cập đến hai cuốn sách về chiến tranh của mình là Nếu tôi chết ở vùng chiến sự và cuốn Đi tìm Cacciato, nhưng đó cũng chính là hai cuốn sách đã xuất bản của tác giả Những thứ họ mang. Qua đây, nhà văn Tim O’Brien đã khiến độc giả có cảm giác đó hoàn toàn là những câu chuyện mà chính tác giả đã trải qua và kể lại. Sử dụng nhiều lần ngôi kể thứ nhất này, có lẽ, Tim O’Brien muốn nhập vai vào nhân vật hư cấu của ông, muốn sống lại khoảng thời gian đã qua, trải nghiệm nó thêm lần nữa và kể lại chúng cho độc giả, bởi lẽ những câu chuyện chiến tranh đó nếu không có sự nhập tâm trực tiếp thì khó lòng có thể kể ra sinh động được như vậy. Những điều này đã góp phần làm mờ đi ranh giới giữa chân thực và hư cấu trong Những thứ họ mang, khiến độc giả đôi khi hiểu nhầm rằng mình đang được phép đi vào và khám phá chiều sâu thầm kín về những mảng kí ức trong đầu óc nhà văn Tim O’Brien.

Kể câu truyện mang màu sắc chân thực, Tim O’Brien đưa ra những chi tiết thống kê rất cụ thể về hành trang dành cho cuộc chiến, đó là những hành trang vật chất và tinh thần của người lính mà chúng ta có thể thây rõ nét, chân thực trong câu truyện mở đầu mang tên “Những thứ họ mang” và ở cả những câu truyện tiếp sau đó. Nội dung truyện kể của Tim O’Brien một phần chính là do những vốn sống thực tế của ông. Là người lính đã trải qua chiến trận, Tim đã khai thác rất thành công những điều mình chứng kiến, nhận biết từ cuộc chiến. Đó là về những mất mát, đau thương trong  tâm hồn của  mình và của đồng đội. Qua Những thứ họ mang , chúng ta sẽ thấy cuộc chiến của ông mô tả khó có vẻ khốc liệt bề ngoài, văn chương của Tim O’Brien dường như rất nhẹ nhàng trong mô tả cuộc chiến, nhưng nó lại tập trung vào chiều sâu, những gì đau khổ trong trái tim, tinh thần của những người lính Mỹ.

Cuộc sống thực tại sau cuộc chiến chỉ được xuất hiện ở một số câu truyện như “Yêu”, “Phục kích”, “Chuyến đi thực địa”,… Cuộc sống thực tại sau này làm nền và bổ sung cho những đau khổ của cuộc chiến. Nỗi đau của cuộc chiến không chỉ là quá khứ mà nó ám ảnh cả cuộc sống trọn đời mà người lính phải gánh chịu. Những tháng ngày chiến đấu gian khổ tại Việt Nam của những người lính đã để lại trong tâm trí họ khi về nước kí ức về sự đau thương, về sự mất mát. Họ bị ám ảnh tột dộ bởi những kí ức này và họ không thể nào có thể quên được chúng. Vậy nên, Tim O’Brien đã dồn nén các xúc cảm trong kí ức của mình để tạo ra các tác phẩm văn chương về cuộc chiến. Kí ức của ông thông qua các bản văn chương là kí ức được tạo ra từ hành động nhớ lại đơn thuần và từ dòng hồi ức tự động trào dâng vì quá khứ của nhà văn tồn tại dưới hai hình thức rõ rệt: “dưới hình thức những cơ chế vận động và dưới những hồi ức biệt lập”9.

Tôi nghĩ, công thức cô đọng để tạo ra Những thứ họ mang chính là: từ kí ức của tác giả cùng những câu chuyện khác của đồng đội, các cựu binh,… những nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam mà ông chịu ảnh hưởng; qua khối óc, động lực không ngừng thôi thúc nội tâm đến ngòi bút sáng tạo nghiêm túc của ông; rồi cuối cùng là sự chào đời của tác phẩm. Thế nên, Những thứ họ mang là sự tổng hòa của hư cấu và sự thực. Nhưng mức độ hư cấu có đến đâu đi chăng nữa, nó vẫn dựa trên cái nền sự thực của bản thân nhà văn Tim O’Brien và các câu chuyện về mảnh đời của những binh lính khác: “Bằng cách kể chuyện, ta khách thể hoá trải nghiệm của chính mình. Ta tách nó ra khỏi chính mình. Ta neo chặt lại một số sự thật nào đó. Ta tạo ra một số sự thật khác. Đôi khi ta khởi sự bằng một sự kiện có xảy ra thật, như cái đêm trên cánh đồng cứt, thế rồi ta đẩy nó về phía trước bằng cách tạo ra những sự kiện không xảy ra trên thực tế nhưng dẫu vậy lại giúp làm sáng tỏ và lý giải”.

Dù rằng, Tim O’Brien có sử dụng những sự hư cấu trong sáng tạo nghệ thuật ngôn từ nhưng điều mà ông hướng đến là sử dụng sự hư cấu không chỉ qua kinh nghiệm bản thân mà còn cả những câu chuyện về cộng đồng những người lính để nói lên những tiếng nói bị chìm khuất của mình và họ. Chính vì thế, những câu truyện hư cấu mà ông viết ra phần nào có thể trở thành những câu chuyện chân thực về chiến tranh.

  1. Chiến tranh, chấn thương và kí ức: những thứ không chết đi bao giờ

Mọi cuộc chiến tranh sẽ không bao giờ kết thúc vào lúc ngừng tiếng súng, mà nó vẫn tiếp diễn lần thứ hai ở trong kí ức của nhiều người, đặc biệt là những người lính trở về từ chiến trường. Theo ý kiến của Bergson về kí ức, ông không coi sự hư hỏng của bộ não có thể phá hỏng kí ức “người ta đi dần dần một cách không cảm thấy được từ những hồi ức xếp dọc theo dòng thời gian đến những vận động vạch ra trong không gian cái hành động chớm phát hay khả hữu của hồi ức ấy. Những sự hư hỏng của não có thể làm tổn hại những vận động ấy nhưng không gây tổn hại được các hồi ức10. Đúng như ý kiến của Bergson, chiến tranh để lại trong trong tâm hồn của những người trải qua nó sự chấn thương tâm lí không thể nào mất đi được. Những kí ức về chiến tranh sẽ luôn ám ảnh họ mỗi khi họ nhớ về cuộc chiến đó hoặc những dữ kiện kí ức trào dâng lại trong đầu óc họ. Cuộc sống mắc họ vào quá khứ và giam giữ họ trong căn phòng có những kí ức về quá khứ chiến tranh. Mọi chi tiết, mọi góc cạnh của ký ức trở thành bóng ma ám ảnh trong tâm hồn của họ. Những di chứng, vết sẹo mà nó để lại không bao giờ có thể ngày một ngày hai xoá nhoà được. Trong Nothing Ever Dies: Vietnam and The Memory of War, Nguyễn Thanh Việt cũng rất hợp lí khi cho rằng chiến tranh diễn ra hai lần: lần đầu tiên diễn ra trên bãi chiến trường và lần thứ nhì là trong kí ức. Kí ức của con người sẽ luôn là những gì thuộc về đầu óc, tinh thần, nó sẽ không bao giờ mất đi, mà chỉ đợi tín hiệu của sự nhớ để trở về trong sự suy ngẫm của con người. Và những câu chuyện về chiến tranh luôn luôn có sự góp mặt tranh đấu giữa các mảng kí ức chiến trường hiện lên trong dòng suy ngẫm hồi tưởng với những cá nhân trải nghiệm nó.

Chiến tranh qua đi, kẻ thắng người bại đều trở về nhà. Những năm tháng chiến cuộc, để lại trong kí ức của tác giả Tim O’Brien cũng như những người lính dấu ấn khó phai. Trong chiến trận, họ phải đối mặt với cái chết xảy ra bất cứ lúc nào, cuộc sống đầy lo âu, sợ hãi khi nghĩ về sự sống mong manh của mình giống như Ted Lavender, khi gục xuống, anh ta không chỉ gục cùng hành trang chiến trận trên thân thể mà còn gục theo cùng nỗi niềm sợ chết từng đè nặng trong tâm trí: ” hắn ngã gục dưới một gánh nặng khác thường, trên 20 pao đạn, cộng thêm áo chống đạn và mũ sắt và khẩu phần ăn và nước và giấy vệ sinh và thuốc an thần và mọi thứ khác, cộng thêm nỗi sợ không gì cân nổi”. Nhưng nỗi ám ảnh về sự sợ hãi cái chết chưa phải là tất cả, chiến tranh Việt Nam còn để lại những hậu quả khôn lường cho những binh lính Mĩ sống sót trở về. Nó đã mở ra một thời kì sau chiến tranh Việt Nam đầy đen tối cho nước Mĩ. Đi liền với cái chết, thương tật và những di chứng, binh lính Mĩ còn gặp phải những cú sốc, nỗi ám ảnh mang tên hội chứng Việt Nam. Nỗi đau mất đi người thân, đồng đội hoặc một phần thân thể, nỗi ám ảnh về những nghịch cảnh bạo tàn của quá khứ cứ đeo đuổi họ mãi, khiến cho vết thương tâm hồn ngày càng trầm trọng thêm trong khi vết thương thịt da đã được chữa lành. Nhiều người lính Mĩ trở về từ cuộc chiến đã mãi kẹt lại ở quá khứ với những day dứt, và ám ảnh. Họ đã gặp phải hai cú sốc nặng nề sau khi trở về từ cuộc chiến. Đầu tiên là khi cầm súng sang Việt Nam, họ được tuyên truyền là chiến sĩ bảo vệ tự do, bảo vệ Việt Nam khỏi họa bị cộng sản xâm lấn. Nhưng khi sang Việt Nam tham chiến, những đồng đội của Tim O’Brien mới vỡ lẽ rằng họ không có mục đích chiến đấu vì điều gì hết, họ “hành quân chỉ để hành quân”. Cú sốc thứ hai với những người lính Mĩ là khi trở về, thay vì được đón chào như những anh hùng dân tộc như những lớp cha anh họ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai, họ bị coi là những kẻ giết người, những kẻ thất bại. Rồi sau này, những ký ức khốc liệt của trận mạc đã trở thành bóng ma đầy ám ảnh người sống.

Những năm tháng tham gia chiến tranh Việt Nam đã trở thành khoảng tối trong tâm trí Tim O’Brien và nhiều cựu binh Mĩ. Qua nhân vật Tim Obrien, chúng ta thấy nhà văn luôn bị những ám ảnh về những cái chết của cuộc chiến mang theo. Đó có thể là cái chết của một người lính Cộng Sản chết trước mắt nhân vật của ông và cả những cái chết khác của những người đồng đội thân thiết,…Những tiểu thuyết, truyện ngắn mà nhân vật Tim O’Brien trong truyện viết ra luôn bị chi phối không ngừng bởi dư âm chiến tranh, bởi những cái chết khó xóa mờ: “Chính vì thế này mà tôi viết mãi những truyện về chiến tranh: Hắn là một gã trai thấp bé, mảnh khảnh chừng hai mươi tuổi. Tôi sợ hắn – sợ cái gì đó – và khi hắn đi ngang qua tôi trên con đường mòn tôi ném một quả lựu đạn, lựu đạn nổ dưới chân hắn và giết chết hắn”. Máu, cái chết, sự thất bại và những sai lầm cứ lởn vởn trong tâm trí người lính.

Đã trải qua cuộc chiến và rời khỏi Việt Nam, rời xa thuốc súng và đạn dược, trở về căn nhà quen thuộc nhưng đất nước đó vẫn có một sự gắn bó hữu cơ với những người lính Mĩ cho dù họ có muốn điều đó hay không. Đối với người lính như nhân vật Tim O’Brien, đất nước đó chính là nơi để lại nỗi đau khó phai nhòa trong tâm trí ông và cũng là nơi lấy đi mạng sống những người đồng đội của ông như Ted, Kiowa,…Nhiều năm sau chiến tranh, nhân vật Tim O’Brien đã đến Việt Nam cùng cô con gái để “du lịch” và muốn cho con gái thấy “cái nước Việt Nam thường khiến tôi thao thức về đêm, một con đường mòn rợp bóng râm bên ngoài làng Mỹ Khê, một chuồng heo cũng bên bán đảo Batangan […] đưa cháu đến mảnh đất này nơi Kiowa bạn tôi đã chết”. Trong trí nhớ, Tim O’Brien nhớ như in vị trí trên cánh đồng mà người đồng đội Kiowa nằm xuống. Và chính cánh đồng này khi xưa đã “tước đi con người trước đây” của nhân vật Tim O’Brien: “Sau cái đêm dài trong mưa ấy, dường như tôi đã đâm ra lạnh giá ở bên trong, mọi ảo tưởng đã biến mất, mọi khao khát và hi vọng xa xưa cho bản thân mình đã bị hút sạch vào bùn. Suốt nhiều năm, cái lạnh đó chẳng bao giờ hoàn toàn biến mất”. Trong chuyến đi thăm quan lại chiến trường xưa, nhân vật Tim O’Brien đã tự vùi mình cùng với kỉ vật của Kiowa xuống lớp bùn của cánh đồng nơi người đồng đội thân thiết đã hi sinh, đó chính là cách duy nhất để ông tự mình cứu rỗi bản thân khỏi những thất vọng, ám ảnh trong kí ức và kết quả là sau hai mươi năm, cuối cùng nhân vật Tim O’Brien cũng “đã ngoi lên được” để tiếp tục sống cho ra sống.

Những thứ họ mang có kết cấu xuyên xuốt từ những liên truyện ngắn nối kết liền mạchvới nhau bằng những nhân vật lính Mĩ có tính cách và xuất thân khác nhau từ mọi miền đất nước, bị xô vào cuộc chiến mà họ không thấy chút ánh sáng nào. Những chàng trai trẻ đó mang không chỉ là quân trang, là lương thực, là súng đạn, đó còn là nỗi sợ hãi, sự đớn hèn, lòng khát sống và nhất là thèm khát yêu thương. Nhưng yêu thương không thể tồn tại trong chốn địa ngục trần gian ấy. Tình thương yêu, sự trong trắng, tất cả rồi sẽ bị đánh mất đi như mối tình say đắm của trung úy Jimmy Cross đối với cô bạn gái Martha,… Những thứ họ mang vì thế không chỉ là những thứ họ mang theo mà còn là những thứ họ bị đánh mất và họ sẽ còn nhớ mãi những thứ phải chịu đánh mất này. Anh chàng Norman Bowker là người được trao nhiều thứ huy chương vì lòng dũng cảm và chẳng phải chịu vết thương ghê gớm gì, chẳng để lại vết sẹo nào, cũng chẳng đau về thể xác. Nhưng anh ta không chỉ đem theo trên ngực mình những tấm huy chương mà còn đem theo đấy cả sự dằn vặt, cắn rứt vì không cứu được chàng trai da đỏ Kiowa, người chết chìm và mất xác trên “cánh đồng cứt”. Thật sự rằng, anh ta rất đau đớn trong tâm trí vì cái chết thê thảm của đồng đội nên những năm sau đó, anh ta không thể hòa nhập đượcvới cuộc sống thời hậu chiến và anh ta đã chọn cách treo cổ tại phòng thay đồ YMCA để kết thúc mạng sống và nỗi dằn vặt của mình.

Câu chuyện ám ảnh về anh lính Việt Cộng bị giết chết được trỗi dậy nhiều lần và nhiều khoảng thời gian khác nhau trong đầu óc nhân vật Tim O’Brien: “thỉnh thoảng, khi đang đọc báo hay chỉ ngồi một mình trong phòng, tôi lại nhìn lên thấy gã thanh niên từ trong làn sương sớm bước ra. Tôi sẽ lại nhìn hắn bước lại gần với tôi, vai hắn xuôi xuôi, đầu hắn nghếch sang bên, và hắn sẽ đi ngang qua cách vài mét trước mặt tôi rồi bất ngờ mỉm cười với một ý nghĩa bí ẩn nào đó và rồi lại tiếp tục tiến theo con đường mòn tới khúc nó uốn cong mà khuấy vào trong sương”. Để cho nhân vật Tim O’Brien tiếp xúc và đề cập nhiều về anh lính đã chết đó chắc chắn nhà văn của cuốn sách này không chỉ muốn nêu lên cảm giác của người chứng kiến cái chết mà còn muốn nhấn mạnh đến trải nghiệm của của một kẻ giết người, một kẻ mang trong tim những tội lỗi. Anh lính Việt Cộng với một mắt nhắm, mắt kia là lỗ hổng hình ngôi sao sẽ không bao giờ mất đi trong hành trình kí ức của nhân vật Tim O’Brien. Vì nó là mảng kí ức tự động dâng trào nên nó luôn luôn sống mãi theo kí ức của nhân vật Tim O’Brien và cả những người lính Mĩ khác đã từng giết người trong cuộc chiến dù họ có muốn hay không muốn điều đó xảy ra. Những thứ không bao giờ chết đi trong câu chuyện về chiến tranh không chỉ có những nỗi đau thương, mất mát mà còn có cả những niềm vui, niềm hạnh phúc. Niềm vui của những người lính Mĩ chỉ là khi tìm được xác đồng đội, không bị phục kích trên đường hành quân, không bị chết trong chiến trận và được trở về nhà cho dù có tự bắn mình bị thương,…Những ước mong đó của những người lính Mĩ hiện lên hết sức giản dị, trần trụi nhưng cũng rất cần thiết, đáng trân trọng trong cuộc sống thực tại chiến tranh khốc liệt lúc bấy giờ.

Với Những thứ họ mang, các câu chuyện về chiến tranh và những vết thương từ cuộc chiến hiện lên rất chân thực đối với người đọc. Chúng ta thấy rằng những kí ức khốc liệt về cuộc chiến tranh Việt Nam sẽ không mất đi trong đầu óc những người lính Mỹ năm xưa. Những bóng ma quá khứ luôn lảng vảng và ám ảnh tác giả Tim O’Brien và nhân vật của ông đến mức các tác phẩm của họ đều là những câu chuyện, hồi ức về cuộc chiến đã xoáy họ vào đó. Những bóng ma của quá khứ mãi mãi ẩn náu trong đầu óc những cá nhân đã trải qua các chấn thương từ cuộc chiến và rồi, bất chợt một lúc nào đó nó lại xuất hiện trở lại và gây ra những nỗi đau khó chữa lành cho họ. Những vết thương của họ rất khó có thể lành được ngày một ngày hai khi họ cất giữ nó tận sâu đáy lòng. Để những nỗi đau có thể được giảm bớt nhất thiết cần phải có tiếng nói của văn chương. Trong khi gây dựng, tái tạo lại khung cảnh xa xưa của chiến trận trên mảnh đất văn chương, Tim O’Brien đã làm sống dậy những chân dung của bạn bè, đồng đội đã cùng nhau tham gia chiến đấu với những năm tháng gian khổ. Ông viện dẫn đôi lúc cả những câu chuyện riêng và những mảng kí ức của chính cá nhân các đồng đội, chính vì thế nên những người đồng đội của ông đang còn sống hay đã khuất sẽ luôn luôn sống mãi qua những hình tượng nghệ thuật đầy vẻ đẹp cá tính rất riêng mà họ sở hữu. Nhờ vào những cuộc đời này mà những câu chuyện đã được kể ra luôn rất sống động, đa dạng, đầy cuốn hút vì nó không chỉ là riêng câu chuyện của nhà văn mà nó còn là những câu chuyện chung của các cá nhân khác trong cộng đồng lính chiến. Hơn hết, đó là ý thức trách nhiệm đối với những câu chuyện, mảng hành trang kí ức đa dạng qua bút lực mang nặng nỗi lòng của nhà văn. Có thể nói rằng, trách nhiệm đối với sinh mạng, cuộc sống của đồng đội được người lính hết sức trân trọng, nâng niu kể cả khi họ đã xa khỏi chiến tranh và trở về nhà. Đó chính là thứ tình cảm vô cùng trong sáng, đẹp đẽ trong nội tâm mỗi người lính và trở thành một phần trong những thứ không chết đi bao giờ. Trong niềm tuyệt vọng không sao thoát ra khỏi quá khứ, xuất phát từ sự thôi thúc nội tâm không thể kiểm soát, Tim O’Brien đã cố gắng để cứu rỗi cuộc đời sau này của mình và đồng đội bằng những câu chuyện kể. Một khi những câu chuyện đó đã được kể ra thì những ám ảnh mà họ mang sẽ có thể nhẹ bớt đi phần nào.

Lời kết: “Những thứ họ mang” trong Những thứ họ mang không chỉ là những hành trang vật chất, hành trang tinh thần của người lính trong chiến trận mà còn chính là những hành trang kí ức của họ sau khi ra khỏi đó. Những mảng kí ức đó luôn là những mảng màu tối gây ám ảnh đối với những cá nhân sở hữu chúng. Cuộc chiến tranh Việt Nam và những hệ lụy từ nó đã khắc ghi dấu ấn sâu đậm trong trí óc những người lính Mĩ với những mất mát, đau thương. Chính từ những nỗi đau do cuộc chiến phi nghĩa đó gây nên, đã xuất hiện các nhà văn chuyên hướng ngòi bút viết về những điều ẩn khuất của nó. Kể về những câu chuyện chiến tranh, Tim O’Brien cố gắng không xa vào những điều “dạy đời hay răn đe” mà ông đi vào những gì đen tối nhất, khuất lấp nhất trong lòng những người lính. Qua Những thứ họ mang, sự yếu đuối của những người lính như nhân vật Tim O’Brien được bộc lộ khá chân thực khi ông ta không có chính kiến vững chắc trong việc nên chạy chốn hay ở lại và nhập ngũ tham chiến tại Việt Nam. Cuối cùng ông cũng phản bội bản thân để mang hành trang phẫn nộ đối với cuộc đời vào nơi bom rơi lửa đạn. Những hành động hèn nhát trong chiến trận qua ngòi bút của nhà văn được bộc lộ rõ nét như việc Chuột Kiley tự bắn một chân của mình để được trở về nhà. Việc làm của anh ta có thể là hèn kém nhưng nó lại chính là hành động bất chấp tất cả để có thể thoát khỏi cuộc chiến vô vị khi mà người lính đã quá chán ngán với mùi súng đạn và chết chóc. Đối với nhân vật Tim O’Brien, bóng ma tăm tối từ quá khứ là hình ảnh xác chết anh lính Việt Cộng nổ tan tành ám ảnh ông không nguôi khi chợt nhớ về. Đó là hình ảnh thảm khốc khó quên và không bao giờ quên được do chiến tranh gây ra dành cho những nạn nhân của nó.

Các câu chuyện về chiến tranh của Tim O’Brien thường được xây dựng trên các sự kiện xoay quanh sự hư cấu. Nhưng đó không hẳn là những sự việc hư cấu bịa đặt mà là những hư cấu dựa trên kinh nghiệm sống của ông cũng như của cộng đồng lính chiến mà ông được biết và chịu ảnh hưởng. Khi sáng tạo văn chương lấy đề tài chiến trận, các nhà văn như Tim O’Brien đã phần nào làm sống lại cuộc sống của cộng đồng lính Mĩ từ dòng hồi ức sinh động tưởng chừng như có thể bị chìm vào quên lãng và có thể “đã chấm dứt trong sự tê liệt hoặc còn tệ hơn”. Chính vì Tim O’Brien không chỉ sử dụng kí ức của mình mà ông còn đề cập đến những câu chuyện về kí ức của những người lính khác nên tính chân thực của những câu chuyện được nhân lên gấp bội. Tim O’Brien luôn chuyên tâm viết về những điều khuất lấp của người lính trong và sau chiến tranh. Mục đích của ông khi viết về những đối tượng đó nhằm nói lên những điều họ khó có thể nói ra, ẩn chứa tận sâu trong đáy lòng họ. Những tâm tư, tình cảm ẩn sâu trong tim những người lính cần được chia sẻ để có sự cảm thông từ mọi người xung quanh. Cuộc sống của họ tuy bề ngoài có vẻ rất bình thường như bao người khác nhưng sâu thẳm trong tâm hồn họ là những chấn thương, mất mát do chiến tranh gây ra mà khó có thể ngày một ngày hai chữa lành được. Những thứ không chết đi bao giờ bởi chiến tranh không chỉ có riêng niềm đau, nỗi buồn mà còn có những niềm vui vô cùng nhỏ bé và cả ý thức trách nhiệm cao thượng dành cho cộng đồng. Những thứ họ mang đã ẩn chứa trong mình sứ mệnh làm giảm bớt đi vết thương chiến tranh của chính tác giả và những đồng đội của ông sau khi đã bước qua khỏi cuộc chiến thảm khốc. Tim O’Brien đã dám thẳng thắn đối diện với những bóng ma của quá khứ để ông có thể nhận diện và làm rõ chân tướng của nó qua sự viết. Một khi đã đưa nó ra khỏi kí ức, chắc chắn một điều rằng nỗi đau từ quá khứ trong tâm hồn những người lính như ông sẽ nhẹ bớt đi phần nào. Với Những thứ họ mang và các tác phẩm khác của mình, Tim O’Brien đã đóng góp một tiếng nói an ủi nhỏ bé trong sự nghiệp hàn gắn vết thương do chiến tranh gây nên.

Chú thích                                                                                           

  1. Tim O’Brien, Những thứ họ mang, Nxb Văn học, HN, 2018. Trong bài viết, các trích dẫn đặt trong dấu ngoặc kép mà không ghi chú thích đều được lấy từ nguồn này.
  2. Henri Bergson, Vật chất và ký ức, Nxb Đại học Sư phạm, HN, 2018, tr.112.
  3. Horwad Zinn, Lịch sử dân tộc Mỹ, Nxb Thế giới, HN, 2010, tr.587.
  4. Horwad Zinn, sdd, tr.586.
  5. Horwad Zinn, sdd, tr.573.
  6. Horwad Zinn, sđd, tr.577.
  7. Nguyễn Thanh Việt, Không gì chết đi bao gi, tr.204 -205. https://www.dtv-ebook.com/khong-gi-chet-di-bao-gio-viet-thanh-nguyen_8488.html
  1. Nguyễn Thanh Việt, Kẻ li hương, Nxb Hội nhà văn, HN, 2019, tr.23.
  2. Henri Bergson, sđd, tr.113.
  3. Henri Bergson, sđd, tr.115.

Tác giả gởi Nhatbook

duy0121519@gmail.com


*

để lại phản hồi