“Tiếp biến văn hóa” trong một tác phẩm văn chương


“Tiếp biến văn hóa” trong một tác phẩm văn chương

Trần Văn Duy


Tiểu thuyết Mắt biếc của Toni Morrison đã mô tả kĩ càng biểu hiện của một cuộc tiếp biến văn hóa. Trong đó, những người da trắng mang tâm thức ủng hộ chế độ phân biệt chủng tộc luôn tìm cách đưa người da đen ra vùng ngoại biên, áp đặt họ trở thành kẻ ngoại tộc bẩn thỉu và đẩy họ đến tận cùng vực thẳm của sự đau đớn.

Nhắc đến những bản văn chương tiêu biểu về thế giới người da đen tại Mỹ, chắc chắn chúng ta phải kể đến những tác phẩm của Toni Morrison – người được coi là đại diện tiêu biểu cho nền văn học dân quyền da đen. Bà là nhà văn Mỹ gốc Phi đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1988 và đến năm 1993 bà trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên nhận giải thưởng Nobel Văn học vô cùng danh giá. Sinh ra ở Lorain, Ohio, Toni Morrison lớn lên cùng cuộc Đại suy thoái trong thập niên 30 của thế kỉ trước và trong không khí phát triển lên cao của chủ nghĩa cá nhân ở Mỹ.
Cuộc Đại suy thoái đã làm kiệt quệ nền kinh tế Mỹ cho đến tận chiến tranh thế giới thứ hai mới được phục hồi. Hoa Kỳ trở thành một nhân vật chính trên sân khấu chính trị thế giới, những người Mỹ thời kì sau chiến tranh thế giới thứ hai lần đầu tiên được hưởng sự phồn thịnh của chủ nghĩa cá nhân và tự do cá nhân. Sự thăng hoa của chủ nghĩa cá nhân đại chúng cũng như là các quyền dân sự và các phong trào chống chiến tranh của thập kỉ 1960 đã tạo thêm sức mạnh cho những tầng lớp không có tiếng nói trước đây. Các nhà văn khẳng định được bản chất bên trong sâu xa của họ, cũng như là kinh nghiệm cá nhân và tầm quan trọng của kinh nghiệm cá nhân ẩn chứa trong tầm quan trọng của cả nhóm xã hội gắn liền với cá nhân mỗi người. Người đồng tính, người theo chủ nghĩa nam nữ bình quyền và những người sống ngoài lề xã hội khác cũng lên tiếng kể về những câu chuyện của họ. Các nhà văn Mỹ gốc Phi hoặc theo đạo Do Thái nhận thấy rằng họ có độc giả ở khắp mọi nơi để thể hiện chủ đề phong phú của họ về giấc mơ, hoặc cơn ác mộng Mỹ1.
Vào thập niên 60 của thế kỉ trước tại Mỹ, các phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng, phong trào đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ, chống chiến tranh, hoạt động của cộng đồng ít người và sự phát triển của phong trào phản văn hóa diễn ra rầm rộ mà ảnh hưởng của nó vẫn còn dai dẳng trong xã hội Mỹ sau này. Tiêu biểu trong những tác phẩm về văn hóa xã hội, chính trị tại thời kì này là những bài diễn thuyết về quyền bình đẳng của nhà lãnh đạo biểu tình dân quyền da đen Martin Luther King,… Những điều kiện lịch sử, các sáng tác văn học và các hệ tư tưởng khác nhau của nước Mỹ thời kì này ảnh hưởng rất lớn đến tâm thế sáng tác của Toni Morrison, để rồi đến năm 1970, cuốn tiểu thuyết đầu tay đã ra đời và đánh dấu những bước đi vững chắc trên chặng đường văn nghiệp của bà.
Mặc dù năm 1862, năm 1863 đã có Tuyên bố giải phóng nô lệ da đen của Lincoln, năm 1865 Quốc hội thông qua Tu chính án thứ 13 của Hiến pháp, 1866 Quốc hội thông qua Dự luật các quyền dân sự và thành lập một Nha nô lệ được giải phóng, 1963 dự án về Quyền lợi công dân được Lindon Johnson thông qua,…nhưng tàn dư của nạn phân biệt chủng tộc vẫn hiện hữu trong xã hội Mỹ. Toni Morrison đã chọn con đường viết văn, với hi vọng góp thêm một tiếng nói nhỏ bé nhằm làm thay đổi thực trạng buồn đau đó. Bà tích cực tham gia các phong trào đòi bình quyền phụ nữ, bà thường phát biểu, nói lên tiếng nói của cộng đồng trong những đại hội của phụ nữ da đen. Morrison cho rằng mặc dầu các tiểu thuyết của bà thuần túy là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo nhưng chúng vẫn luôn chứa đựng những ý nghĩa về tranh đấu chính trị, mọi cuốn tiểu thuyết của bà đều có sự dung hòa giữa một áng văn xuôi chính trị đáng tin cậy và một vẻ đẹp tuyệt mĩ. Bà rất coi trọng việc cầm bút, đó là tất cả những gì bà cần, và mọi sự nghỉ ngơi, vui chơi, nguy hiểm, hào hứng,…tất cả đều ở trong tác phẩm của bà.
Năm 1970, Morrison cho ra đời cuốn tiểu thuyết The Bluest Eye, đã thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà phê bình và công chúng. Tác phẩm đầu tay này của bà có giá trị vô cùng to lớn nhờ việc mô tả sâu sắc cuộc sống và số phận những người Mỹ gốc Phi phải sống trong xã hội phân biệt chủng tộc lúc bấy giờ. Nổi bật trong tác phẩm là các câu chuyện bi thương về những đứa trẻ như Pecola Breedlove, Claudia và Frieda. Họ phải sống cuộc sống với một ông bố cục súc, một bà mẹ thô bạo và những người da đen, da trắng xấu xa. Những thành kiến chủng tộc và cuộc sống không có tình yêu đã ảnh hưởng lớn đến tâm lí cô gái da đen Pecola đáng thương, nên cô mơ ước mình có đôi mắt xanh biếc – biểu tượng về cái đẹp của người Mỹ da trắng. Cuối tác phẩm, Pecola tin rằng đôi mắt đen của cô đã biến mất, trở thành đôi mắt màu xanh da trời một cách kì diệu và chúng làm cô trở nên dễ thương hơn,…nhưng cô vẫn không được mọi người xung quanh yêu mến.

Tiểu thuyết Mắt biếc không chỉ nói lên đầy rẫy những bất ổn từ chính cộng đồng người Mỹ gốc Phi mà nó còn diển tả biểu hiện một lát cắt không gian tiếp biến văn hóa xung quanh người da đen và người da trắng trong thế kỉ 20 của xã hội Hoa Kỳ, mà sự tiếp biến này đã được thực hiện từ các thế kỉ trước đây lúc bắt đầu chế độ nô lệ tại Mỹ và kéo dài đến tận thế kỉ 20. Giao lưu tiếp biến văn hóa là khái niệm nhằm nhấn mạnh đến sự biến đổi văn hóa của tộc người trong xã hội đa tộc người. Giao lưu tiếp biến văn hóa là sự tương hỗ lẫn nhau giữa hai nền văn hóa, sự tương hỗ này có khi diễn ra không cân xứng và kết quả sẽ có một nền văn hóa bị hút vào trong một nền văn hóa khác, hoặc bị thay đổi bởi một nền văn hóa khác hay cả hai nền văn hóa cùng thay đổi. Trong Mắt biếc, người Mỹ da đen tuy đã thoát khỏi chế độ nô lệ nhưng họ vẫn chịu nhiều thiệt thòi từ hệ quả của chế độ đó gây ra, nên họ mong muốn tiếp xúc, gia nhập sâu vào nền văn hóa Mỹ, trở thành một người Mỹ thực sự, thực hiện quyền công dân, quyền làm người mà họ phải nhận được. Nhưng trên chặng đường đó, họ luôn gặp phải những khó khăn, lực cản cố gắng đẩy lùi họ về phía sau. Một bộ phận người da trắng luôn coi người da đen là những kẻ khác, kẻ ngoại tộc và tạo ra những chấn thương từ chế độ phân biệt chủng tộc tưởng chừng vô hình nhưng lại là con dao hữu hình để cứa vào mọi yết hầu của cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Trong khi đó, một bộ phận không nhỏ người Mỹ da đen do mặc cảm về chủng tộc đã khao khát đánh mất đi bản sắc của mình để có thể hòa nhập vào cuộc sống Mỹ đương đại. Toàn bộ Mắt biếc đầy rẫy đau thương, mất mát nhưng hơn hết nó là tiếng nói đòi nhu cầu được hưởng quyền sống, quyền bình đẳng và quyền hưởng thụ tình yêu thương đích thực. Thiên tiểu thuyết chứa đựng những kiến giải sâu sắc về biểu hiện của chủ nghĩa chủng tộc một màu da tại Mỹ và cả sự lệch lạc thẩm mỹ văn hóa mà Toni Morrison lên tiếng cảnh báo đối với đồng bào của mình.

1. Xung đột trắng đen và hệ quả khốc liệt
Sau khi Colombo khám phá ra vùng đất Châu Mỹ, người dân Châu Âu bắt đầu di cư đến đây ồ ạt. Đầu thế kỉ 16, giới thương nhân trung lưu ở Anh rất đông đảo, họ đã thành lập các công ty hữu hạn và có đủ thế lực để phát triển ra hải ngoại. Lý do để thương nhân Anh di cư ra nước ngoài trong thời kì này là họ cần tìm một lối thoát cho mưu sinh và cũng vì xã hội Anh lúc này quá đông đúc. Hơn nữa, sau cuộc cải cách tôn giáo của Martin Luther ở nước Anh, đã xuất hiện một nhóm lớn tín đồ Thanh giáo đang muốn tìm cách vượt khỏi sự kiểm soát của chế độ Công giáo Anh do nhà nước quản lý nên họ đã chạy trốn ra nước ngoài. Các năm từ 1629 đến 1640 có khoảng 75.000 người rời Anh, 1/3 trong số này đã đến Bắc Mỹ2.
Những người có nhiều tiền bạc đã mua hoặc chiếm một số lượng lớn đất đai trong vùng và những trang trại lớn từ đó bắt đầu xuất hiện. Còn những người nghèo khổ nếu không bị chết dọc đường mà đến được Mỹ thì họ cũng không trả nổi tiền tàu và do đó họ trở thành nô lệ. Trong khi đó, những người chủ trang trại giàu có đang cần dùng nhiều lao động, họ thường tìm đến các tàu để tìm mua nô lệ. Khi gặp ai không đủ tiền trả tiền tàu, họ trả thay và mang người đó về nông trại làm việc như một nô lệ. Những người da trắng phải chịu làm việc theo phương thức nô lệ này dù ngắn hay dài cũng chỉ trong một thời gian nhất định. Sau khi họ làm việc và thanh toán cả vốn lẫn lãi mà chủ trang trại trả tiền tàu cho họ, thì họ sẻ trở thành người tự do. Chính vì thế, các chủ trang trại phải tìm nguồn lao động mới và lúc này họ hướng về Châu Phi để tìm kiếm nguồn lao động cho mình.
Các thế kỉ 17, 18, 19 đã xuất hiện một nghề mới hái ra tiền: nghề buôn bán nô lệ. Những người lái buôn nô lệ liên tục vận chuyển người nô lệ – những người da đen mà họ dụ dỗ được hay dùng vũ lực bắt ép từ châu Phi sang châu Mỹ để bán cho các chủ trang trại3. Và sau đó, chế độ nô lệ da đen tại Mỹ cũng được hình thành gắn liền với nhu cầu xây dựng và khai thác thuộc địa của thực dân Anh. Chế độ nô lệ của chủ nghĩa thực dân phát triển mạnh từ đó, con số nô lệ không ngừng được tăng thêm. Những người nô lệ da đen được đưa từ Châu Phi sang đã bị các nhà thực dân, cũng như chủ trang trại sử dụng như những công cụ lao động, bị bóc lột tàn tệ mà họ phải phục tùng vô điều kiện.
Cuộc sống của những người đàn bà da đen từng là nô lệ trong Mắt biếc toàn những vất vả, khổ đau và cả bệnh tật đeo đuổi họ đến lúc xuống mồ. Ba người đàn bà Jimmy, Alice và bà Gaines ngồi lại với nhau, nói chuyện về nỗi bất hạnh, bệnh tật mà họ đã trải qua trong đời. Qua dòng hồi ức của những người đàn bà đã trải qua giai đoạn làm nô lệ, chúng ta thấy rằng những ngày tháng đó của họ gắn liền không ngoài gì những đồn điền: “lời của họ hòa trộn vào nhau thành những lời tụng ca của nỗi hoài niệm về bệnh tật. Họ dồn hết hồi tưởng về bênh tật vào trong lồng ngực mình. Họ liếm môi, chắc lưỡi với nỗi hoài niệm thiết tha về những đau đớn mà họ phải chịu đựng: mang nặng đẻ đau, bệnh thấp khớp, bệnh bạch hầu, bong gân, mỏi lưng,…”4
Những người đàn bà này phải chịu trên người nhiều sự đè nén, nhục nhã, mà họ phải vui vẻ chấp nhận “Lúc họ còn trẻ thì mọi người ở trên cõi đời này đều có thể ra lệnh cho họ. ‘Đàn bà da trắng bảo làm cái này. Con nít da trắng bảo cho tôi cái kia. Đàn ông da trắng lệnh lại đây. Đàn ông da đen lệnh nằm ngửa xuống’. Những người duy nhất mà họ không phải tuân lệnh là trẻ con da đen và giữa họ với nhau. Họ quán xuyến việc nhà cửa cho bọn người da trắng và thạo việc. Khi đám đàn ông da trắng đánh đập đàn ông da đen của họ, họ chùi sạch máu và quay trở về nhà để nhận sự lạm dụng từ họ. Lúc họ già đi, thân thể hao mòn, mùi thân thể họ chua đi, ngồi xổm trong các cánh đồng mía, còng lưng trên các cánh đồng bông, quỳ gối bên một bờ sông, họ đã mang nặng cả thế giới trên đầu họ”. Cuộc đời của họ đầy rẫy khổ đau vậy nên những người đàn bà đen đó tổng hợp ở trong đôi mắt mình: “một món hổ lốn của bi kịch, u mặc, giảo quyệt, trong sáng, sự thật và cuồng ngông”. Chế độ đồn điền chính là một trong những lí do quan trọng gây nên nạn phân biệt chủng tộc kéo dài trong lịch sử Hoa Kỳ.
Năm 1865, sau khi Abraham Lincoln bị ám sát, Andrew Johnson lên kế nhiệm tổng thống. Ông ta có một số quan điểm nhất trí với các chủ nô ở phía Nam và bênh vực họ. Đối với người da đen, ông không thừa nhận người da đen có quyền sử dụng đất đai để tự canh tác nên xuống lệnh cho người da đen mới được giải phóng phải trả tất cả những nông trại mà họ sở hữu nhờ chiếm đoạt được trong thời kì nội chiến cho chủ nô trước kia. Dựa vào sự ủng hộ đầu tiên này, cuối năm 1865 các tiểu bang xây dựng trở lại sau nội chiến đều đua nhau quy định pháp luật để ràng buộc người da đen. Những pháp luật đó được gọi là pháp luật đen, quy định người da đen không được quyền mua đất, thuê nhà và cấm người da đen đi vào các thành phố để làm những công việc ngoài nông nghiệp.
Họ phải làm nghề nông và chỉ có một lựa chọn là phải kí hợp đồng làm việc với người da trắng. Khi chưa được ông chủ cho phép, họ không được rời bỏ vị trí, nếu không sẽ bị cảnh sát bắt lại. Với những người da đen không chịu kí hợp đồng thì sẽ bị coi là lưu dân và hầu như đều bị bắt và bị tống giam vào ngục. Họ có thể dùng tiền dể chuộc nhưng vì điều kiện là lưu dân thì họ không biết lấy tiền đâu ra để chuộc mình. Trong trường hợp này, họ phải để cho người da trắng chuộc họ, dẫn họ về nông trại làm việc và trả nợ khoản tiền chuộc này. Như vậy xã hội không cho những người da đen lựa chọn con đường lao động thích hợp, trong hoàn cảnh nào họ cũng bị dồn vào công việc lẩn quanh là làm nông nghiệp, phục vụ người da trắng. Những người nô lệ mới được giải phóng này trong tay không có đất đai, không có nhân quyền mà chỉ là người lao động nông nghiệp cho chủ đồn điền. Như thế, họ chỉ cởi bỏ dược chiếc áo danh phận là nô lệ và chỉ được hưởng cái tiếng là người tự do suông5.
Theo nhà nghiên cứu Lê Nguyên Long, ở các giao lộ văn hóa sẽ có vùng tiếp xúc giữa các nền văn hóa. Ở đó một hiện tượng nổi bật là quá trình xuyên tiếp văn hóa: một quá trình tương tác văn hóa, ở đó các nhóm thực dân thống trị cố gắng thiết lập các biểu trưng về các nhóm ngoại biên là những kẻ Khác để củng cố cho các quyền lợi thực dân của mình6. Người da trắng là những người chiếm địa vị về kinh tế, xã hội, luôn coi mình là dòng chủng cao quý: “nỗ lực xây dựng hình ảnh của mình như là tác nhân quyết định đối với cái ngoại biên”7. Họ xây dựng hình ảnh của mình là những điều tốt đẹp, là trung tâm của mọi thứ, coi những kẻ ngoài mình là những kẻ khác, những kẻ ngoại tộc bẩn thiu.
Toni Morisson đã vẽ nên trong Mắt Biếc chân dung một chủng tộc da trắng tự coi chính mình là dòng giống cao quý và luôn luôn có ý thức bảo vệ địa vị tối thượng này. Đó là trường hợp của Soaphead Church. Tổ tiên của ông ta là một người quý tộc Anh quốc đã bơm cái dòng máu da trắng cho dòng họ vào đầu những năm 1800 thông qua người vợ da đen. Bà da đen cho rằng việc giữ gìn cái dòng máu da trắng mà mình nhận được là mục đích của đời mình. Và con bà ta ban phát ân huệ cho một cô gái 15 tuổi cùng huyết hệ. Cô ta phải tự cách ly trong thân xác, trong tâm hồn cũng như trong tư tưởng khỏi tất cả những gì gợi nhớ đến xứ Châu Phi. Họ truyền lại sự sùng mộ Anh quốc cho 6 đứa con cùng 16 đứa cháu kết hôn theo kiểu hướng đi lên làm sáng dần màu da của gia tộc và làm mỏng dần đi những góc cạnh sắc nét của một nửa màu da. Chúng chăm chỉ, trật tự, kiên trì để chứng minh cho giả thiết của De Gobineau ‘Tất cả mọi nền văn minh đều xuất phát từ giống da trắng, rằng không có nền văn minh nào tồn tại nếu không có sự giúp sức của dòng giống đó và rằng tự cổ chí kim, một xã hội chỉ vĩ đại và xuất sắc nếu nó gìn giữ được dòng máu của nhóm người cao quý đã tạo ra nó’. Nếu bọn chúng có hư hỏng trong công việc thì điều đó cũng được xem là cái quyền quý tộc của chúng và được tán thưởng cẩn thận bởi đa số đám dân đen kém cỏi.
Từ thế kỉ 17, các nhà thực dân Anh đã bắt đầu hợp pháp hóa chế độ nô lệ bằng những đạo luật nô lệ, để cho ra đời chế độ nô lệ chủng tộc. Càng ngày, người da đen không còn bị người da trắng coi là những công cụ làm việc biết nói nữa mà đã trở thành những kẻ ghê tởm, không bằng súc vật. Người da trắng coi những con người da đen là những uế tạp mãi mãi được truyền từ khởi thủy qua một chuỗi bất tận những cuộc giao phối ghê tởm, như chiếc chổi hắc ín vô hình, họ vĩnh viễn là người da đen. Người da đen dần dần từ thân phận nô lệ đã bị gán thêm lên giống nòi cái mác “dòng giống đen đúa bẩn thỉu”.
Để bảo vệ quyền lợi kinh tế, xã hội cho mình nên những người da trắng đã tạo nên những ý thức hệ cao quý cho mình và xác lập nên một thế giới những kẻ không thuộc chủng tộc mình. Đây là một trong những căn cốt của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Vậy nên, bản chất của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc có nguồn gốc từ các ý thức hệ giai cấp hơn là ý thức hệ dân tộc.
Người da đen từng là nô lệ sau năm 1865 đã được giải phóng hoàn toàn, nhưng đây chỉ là trên danh nghĩa pháp luật, giấy tờ. Người Mỹ da đen trước kia là nô lệ phải chịu những sự phân biệt chủng tộc có tiền đề từ chế độ nô lệ da đen Bắc Mỹ đến tận sau đó như chúng ta đã thấy trong Mắt biếc. Sự phân biệt đối xử đã ăn sâu bám chắc vào máu người da trắng. Những năm cuối tập niên 1850, cuộc giằng co giữa hai phái bãi nô và ủng hộ chế độ nô lệ trở nên quyết liệt. Stephen A. Dauglas đại diện cho cơ quan ngôn luận của miền Nam đã cùng Lincoln tranh luận bảy lần về chế độ nô lệ. Ông ta coi người da đen là dị giáo, gớm giếc và không thể trao quyền công dân cho họ với bất kì hình thức nào. Trong cuộc tranh luận lần thứ tư ông nói: “tôi chưa bao giờ ủng hộ để đưa đến sự công bằng về chính trị và xã hội theo bất cứ hình thức bất kì nào cho chủng tộc da đen. Tôi chưa bao giờ tán đồng để người nô lệ trở thành cử tri hay thành viên hội đồng thẩm đoàn, hoặc cho phép họ nắm quyền trong các cơ quan hay được kết hôn với người da trắng…sự thượng đẳng luôn giành cho người da trắng”8. Vào năm 1866, Quốc hội Mỹ đã ra đề án ban cho bốn triệu người da đen hưởng quyền công dân của nước Mỹ, nhưng tổng thống Andrew Johnson đã phủ quyết với lập luận rằng người da đen không có sự hiểu biết, không xứng đáng nhận một phần thưởng lớn là quyền công dân9.
Từ khi bắt đầu chế độ nô lệ, người da trắng vì lí do lợi nhuận đã bắt người da đen trở thành công cụ sản xuất, ép buộc họ phải phục tùng, không được phép chống cự nhưng sau năm 1865, khi chế độ nô lệ sụp đổ hoàn toàn trên khắp đất nước, những người da trắng, những tiểu bang ủng hộ chế độ nô lệ trước đó và sau này vẫn giữ sâu hận thù với tâm thế của kẻ thua cuộc sau nội chiến và họ đã áp đặt chúng lên đầu người da đen mới được giải phóng. Họ tìm mọi cách, đưa ra vô số luật lệ để có thể kìm hãm sự tự do, bình đẳng của người da đen. Một trong số những điều hà khắc mà họ tạo ra chính là chế độ phân biệt chủng tộc dành cho người da đen. Chế độ này tuy vô hình nhưng luôn hiện hữu, trở thành bóng ma ám ảnh cuộc sống người da đen trong xã hội Mỹ.
Trước khoảng thời gian ra đời Mắt biếc, xã hội nước Mỹ đang có sự phân biệt chủng tộc một cách rõ rệt. Đối lập lại với những lợi ích của người da trắng là sự đau khổ của người da đen. Qua sự mô tả sinh động của Toni Morrison, chúng ta có thể thấy rõ chế độ phân biệt chủng tộc ăn sâu như thế nào trong lòng xã hội Mỹ. Người da trắng quy giản kẻ thù về diện mạo sinh học của y, họ gọi Cholly là “thằng mọi”, “thằng mọi đen”- những danh từ mang đậm tính chất phân biệt chủng tộc dựa trên màu da dành cho những kẻ man di, dã man.
Biểu hiện của sự phân biệt màu da chúng ta sẽ còn thấy trong hành động của ông bán hàng da trắng dành cho Pecola. Khi cô bé Pecola phấn khích đi mua kẹo Mary Janes với vị ngọt dai dẳng hòa cùng vị bùi của bơ dầu phộng làm dạ dày cô bé xôn xao, nhưng cách cư xử của ông Yacobowski đã gây ra sự hụt hẫng và đau đớn cho cô bé. Ông không muốn trông thấy cô bé, bởi vì đối với ông thì cô bé chẳng có một chút gì đáng nhìn. Pecola đã nhận ra ánh mắt mà ông dành cho cô: “khoảng trống đó có một cạnh sắc, một nơi nào đó, tận cùng cái đáy của nó chính là sự ghê tởm dành cho cô và cho màu da đen của cô”. Chính cái màu da đen của cô đập vào mắt người ta, là cái tạo ra khoảng trống sắc cạnh cùng sự ghê tởm trong đôi mắt người da trắng. Trong lời nói của ông ta pha trộn sự phớt tỉnh, thiếu kiên nhẫn và ghê tởm dành cho Pecola. Lấy kẹo cho cô bé “bàn tay ông giật lung tung trong các ngăn kiếng giống cái đầu giật giật của con gà tức tối khi bị lìa khỏi thân”. Lúc thanh toán bàn tay ông lưỡng lự không muốn chạm vào tay cô bé, rồi cuối cùng ông ta cũng chồm ra dùng mấy ngón tay của mình chạm nhẹ vào lòng bàn tay cô bé để lấy tiền.
Pecola còn chịu đựng chế độ phân biệt chủng tộc qua lời ác ý của bà da màu đối với cô, làm cô nhận thêm nhiều đau đớn, tổn thương. Bà ta quát Pecola: “cút đi”, “cái con chó đen nhỏ dơ dáy này, hãy cút khỏi nhà ta”. Cách nhìn của bà ta đại diện cho đa số người da trắng nhìn những người da đen như Pecola. Dưới con mắt bà ta, những đứa trẻ da đen: “thường hay nhìn trừng trừng vào bà với những đôi mắt mở to ngơ ngác mà chẳng hiểu gì hết – Những đôi mắt chẳng biết gì – Những đôi mắt chẳng biết vấn nạn về điều gì, nhưng dường như lại muốn hỏi về tất cả. Không hề chớp mắt hay cụp mi xuống, những đôi mắt luôn dương lên trô trố nhìn bà. Ngày tận thế tiềm ẩn nơi những đôi mắt đó và ngày sáng thế và tất cả những phù du vô nghĩa giữa hai thời điểm đó”. Bà ta coi những con người đó là những thứ bẩn thỉu, cặn bã của xã hội. Trong tư tưởng của bà ta, người da màu như bà thì ngăn nắp, sạch sẽ, trầm lặng còn người da đen như Pecola thì là lũ da đen bẩn thỉu và ồn ào. Cô bé da trắng Maureen cũng nhận xét về vẻ xấu xí từ bộ dạng của Pecola, Claudia và Fredia rằng: “Tao xinh đẹp! Còn bọn bây xấu xí! Đen và xấu xí! Bọn mọi đen! Còn tao đẹp!”. Người da trắng luôn coi mình là chuẩn mực, khôn phép của vẻ đẹp, thế nên những con búp bê da trắng, cũng như những Shirley Temples, những Mary Janes và những Maureen Peals luôn là trung tâm của sự ngưỡng mộ và yêu mến từ người da trắng cũng như người da đen.
Cholly cũng là một nhân vật phải chịu đựng nhiều sự đau đớn từ nạn phân biệt màu da. Khi cậu đến quầy vé cho người da màu và mua vé xe, nhưng cậu lại thiếu một đô la tiền vé và có ý định xin người bán vé thì ông ta nói với cậu bằng thái độ khinh bỉ, đậm chất phân biệt màu da đen của cậu trong từng câu từng chữ: “tao nghĩ rằng mỗi lần tao gặp một thằng nhóc da đen là y như rằng tao gặp một thằng lếu láo, nhưng cứ cho rằng trường hợp của mầy không phải là thế, cứ cho rằng có một trong những con mụ đó thực sự đang nằm chờ chết mà muốn gặp mặt cái đám khói đen nho nhỏ của mụ trước khi đi chầu Chúa, thì thôi ông cũng mở lượng từ bi bố thí cho mày đây”.
Trong tâm trí một bộ phận người da đen đối với người da trắng vẫn chưa thoát ra được sự sợ hãi, bất an. Khi đối diện với người da trắng, họ chỉ biết có cam chịu sự sỉ nhục giống như hoàn cảnh của cậu bé Cholly. Sau khi bị hai người da trắng làm nhục trong lúc đang quan hệ cùng Darlene, Cholly rầu rĩ đến phát cáu và vun vén lòng hận thù với cô bé, mặc dù cô bé không có lỗi lầm gì. Cậu ta chưa một lần xem xét việc có nên hướng lòng thụ hận vào đám thợ săn da trắng. Đơn giản là vì lòng sợ sệt, cậu ta là người da đen, không có uy quyền gì trong xã hội hiện tại. Những người da trắng thì to lớn, lại có súng còn cậu thì bé nhỏ và tay không. Cholly mang theo mặc cảm mà xã hội đã gán cho chủng tộc của mình: một chủng tộc hèn kém, không có tiếng nói và không được xã hội da trắng đối xử bình đẳng.
Hầu như mỗi nhân vật mang màu da đen trong Mắt biếc đều phải hứng nhận sự phân biệt chủng tộc từ những người da trắng xung quanh. Tuy đó là những nhân vật trong một tác phẩm văn chương hư cấu, nhưng nó là sự hư cấu dựa trên những gì có thật, thật đến mức trần trụi, thật một cách khốc liệt đã từng diễn ra trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong Mắt biếc hiện lên đầy rẫy những cảnh huống người da đen bị cách li, bị phân biệt đối xử tàn tệ, bị nhìn bởi ánh mắt trước những sinh vật bẩn thỉu của người da trắng, đơn giản vì họ là người da đen. Thật đau đớn cho họ khi bé Pecola đi mua những chiếc kẹo mà mình yêu thích, nhưng đáp lại sự háo hức ban đầu là sự tủi hổ, nỗi cay đắng của cô khi nhận ra thái độ khinh thường, không chút thương xót của ông chủ cửa hàng người da trắng,…và những người da đen còn bị kêu, bị mắng chửi bằng những thứ danh từ đầy xúc phạm như “bọn mọi đen” đến từ người da trắng để thể hiện thái độ khinh bỉ tận cùng dành cho cộng đồng những con người mang trên mình sắc da đen. Nạn nô lệ chủng tộc và chế độ phân biệt màu da đã trở thành tấm thảm kịch khốc liệt dành cho cuộc sống của những người da đen tại Mỹ.


2. Vươn lên những giá trị văn hóa của chủng tộc thống trị
Sau khi nội chiến Hoa Kỳ kết thúc, những người Mỹ da đen tuy luôn bị chế độ phân biệt chủng tộc đối xử ngược đãi tàn tệ nhưng không vì thế mà họ khuất phục, chịu lép vế. Cuộc sống của họ luôn phải đối diện với nhiều khó khăn thử thách, nhất là trong việc trở thành một con người đúng nghĩa, nhưng bù lại, họ đã có cơ hội nhỏ bé là phần nào được chính danh tiếp xúc, hoà nhập cùng với cuộc sống của những người Mỹ da trắng luôn sẵn sàng đấu tranh ủng hộ họ. Và họ cố gắng hết sức mình thích nghi bằng mọi cách vào trong nền văn minh của cộng đồng người da trắng nhiều năm trước đây từng là chủ nô của họ, mà trước đó họ chưa từng nghĩ đến, để tạo nên lịch sử mới cho cộng đồng mình, tạo nên những ước mơ được sống, được đấu tranh để giành các quyền lợi cơ bản như một người Mỹ thực sự.
Ngay từ đầu cuốn tiểu thuyết, ta bắt gặp ngay cảnh Claudia trừng mắt nhìn cô bạn da trắng cạnh nhà, khi cô ta ngỏ ý không cho Claudia vào. Claudia muốn “móc cái ngạo mạn toát ra từ mắt ả và đập tan lòng kiêu hãnh sở hữu khiến miệng ả vênh lên. Cô muốn đánh cho ả ta một trận, gạch dấu đỏ lên làn da trắng của ả và ả sẽ khóc hu hu hỏi có muốn tụt cả quần của ả nữa không”. Đây là sự căm thù của Claudia đối với những người da trắng. Claudia cảm nhận được điều lạ lùng và đáng kinh hãi là lòng thù ghét đối với mọi cô Shirley Temples ở trên cõi đời. Cảm thấy kinh hoàng bởi những đôi mắt ngây ngô, khuôn mặt tròn trĩnh như cái bánh bao và mái tóc màu sâu cam cuả những con búp bê. Những con búp bê khác kế tiếp nhau mang lại sự thất vọng cho Claudia. Khi cô mang nó vào phòng ngủ, cô cảm giác tứ chi cứng nhắc của nó đụng vào da thịt cô. Nếu trong giấc ngủ cô quay đầu thì cái đầu lạnh ngắt của nó đụng vào đầu cô. Nó đúng là một người bạn cùng giường bất tiện đối với cô, sẵn sàng gây hấn trong lúc ngủ, ôm lấy nó thì không còn lấy làm phần thưởng nữa. Loại sợi bóng cứng trên áo vải của nó làm cô bực bội mỗi khi ôm nó vào lòng. Cô có ước muốn to lớn, khao khát mãnh liệt: “phá tung nó ra, để xem nó được làm bằng cái gì và để khám phá tính cách thân thương, để tìm cái vẻ đẹp người khác cảm nhận thấy, mà tôi chưa cảm nhận được những điều ấy”.
Claudia thích phá hủy những con búp bê da trắng. Nhưng việc phá hủy những con búp bê da trắng chưa phải là nỗi kinh hoàng thực sự, mà điều đáng kinh hãi thực sự là những xung động thù ghét cuả cô chuyển dịch vào trong những đứa bé gái da trắng bằng da bằng thịt. Cô bé đặt ra giả thuyết nếu cấu vào mắt chúng như cô cấu vào mắt con búp bê thì chúng sẽ nhắm mắt lại trong đau đớn và tiếng la hét của chúng không giống như âm thanh của tiếng kẹt cửa mà sẽ là tiếng hét xé lòng đau đớn. Nhưng sau đó, cô bé đã nhận ra sự bạo lực này nó đáng tởm như thế nào và không có nhiều tác dụng: “Chúng tôi có thể huỷ hoại các con búp bê, nhưng chúng tôi không thể huỷ hoại giọng nói mật ngọt của cha mẹ hay của các cô dì, vẻ phục tùng trong đôi mắt của bạn bè đồng trang lứa, ánh sáng lướt qua trong đôi mắt của các thầy cô giáo khi họ chạm mặt những cô nàng Maureen Peal trên cuộc đời này”. Và rất lâu sau đó, cô đã tìm được cách để ái mộ, yêu quý Shirley Temple giống như cô bé tìm thấy hứng thú trong sự sạch sẽ, đó chính là: “sự chuyển hoán từ bạo dâm ban đầu đến lòng hận thù được chế tạo, rồi tình yêu gian dối”. Một lòng yêu giả tạo đã hiện ra và chi phối tâm trí cô bé. Cô là nhân vật đại diện cho những người da đen mang tư tưởng tranh đấu, không bao giờ chịu khuất phục trước nền văn minh và sự thống trị của người da trắng. Vậy nên, việc thay đổi trong hành động của cô chính là sự thỏa hiệp tạm thời của một bộ phận người da đen trước văn minh của người da trắng khi họ không thể triệt tiêu chúng: “sự thay đổi chỉ là thích nghi chứ không phải cải thiện”.
Trong Mắt biếc, chúng ta có thể thấy rõ điều mà Toni Morrison vẫn trăn trở về cái gọi là “sự sùng bái màu da”- trở thành người Mỹ “thực sự”. Morrison luôn lo lắng việc Ngoại tộc hóa về bản chất cho con người những tiện nghi gì? Đâu là sức hấp dẫn và quyền lực (về xã hội, về tâm lí hoặc về kinh tế) nó mang theo?10 Điều này được trả lời qua những quyền lợi kinh tế mà người da trắng có được khi dùng những ngừơi da đen làm nô lệ, bóc lột sức lao động của họ. Ngoại tộc hóa còn xảy ra trong cộng đồng những người có cùng màu da đen mà ta sẽ thấy trong cuộc sống của những cô gái da nâu đến từ Mobile. Họ học tập, sống và nhiễm cung cách sinh hoạt của người da trắng. Họ phải học hỏi, kiềm chế hết sức để giữ được địa vị của mình trong xã hội: “Họ không cáu kỉnh, đễ bực bội hay la hét chói tai, họ không có những cái cổ màu đen xinh xắn vươn ra trước như muốn chống lại một cái cổ áo vô tình nào đấy, mắt họ không tìm cách hớp hồn người ta. Những cô gái da nâu này đi qua đường phố chẳng hề ồn ào nhặng xị mà họ ngọt ngào và dung dị như những chiếc bánh bơ. Cổ chân tròn nhỏ, bàn chân dài, thon. Họ tắm rửa bằng xà bông có mùi cam thoa với phấn thơm. Mùi cơ thể của họ thơm tho, toát ra mùi gỗ, mùi giấy mới, mùi vani. Họ giữ tóc thẳng với kẹp, rẽ ngôi sang một bên và ban đêm họ cuộn tóc vào những cái túi nâu thắt một khăn quàng quanh đầu và ngủ với đôi bàn tay gấp lại để ngang trên bụng. Họ không uống rượu không hút thuốc, không chửi tục, họ gọi chuyện tình dục là chuyện ấy […] Họ học các trường cao đẳng địa bạ, các trường cao đẳng và học cách làm việc cho người da trắng một cách khéo léo. Họ học môn kinh tế gia đình để sửa soạn các món ăn, học môn giáo dục để dạy cho trẻ em da đen biết phục tùng, học âm nhạc để vỗ về và giải khuây cho ông chủ lúc mệt mỏi […] Họ được học cách ứng xử và sự phát triển cẩn thận những đức tính tằn tiện, kiên nhẫn, nghị lực, tinh thần và phong cách lịch thiệp, nói vắn tắt và làm cách nào để tránh sự bồng bột, thói thời thượng. Bất kì chỗ nào nông nổi phun trào ra thì họ lau sạch nó đi, nơi nào nó đông đặc lại thì họ phải hòa tan nó đi, nơi nào nó thẩm lậu, chảy tràn bám dính thì họ phải tìm cho ra và tiêu diệt. Họ phải lao vào cuộc chiến đó không mệt mỏi đến khi họ xuống mồ”. Một cô gái như thế đã chuyển đến Ohio cùng chồng, cô ta xây tổ ấm, là quần áo, chăm chút các chậu hoa tigon vui đùa với chú mèo và sinh ra bé Louis Junior. Nhu cầu về vật chất của cậu bé con luôn được bà mẹ chu toàn, đáp ứng. Chú bé luôn được chải răng, tắm rửa sạch sẽ và thoa dầu nóng, dầu thơm, mang giày vớ đầy đủ.
Toni Morrison đã có kiến giải rất tinh tế như sau: “Cơ chế văn hóa hòng trở thành người Mỹ được thấu hiểu một cách minh bạch. Một công dân nước Ý hoặc nước Nga nhập cư vào Hoa Kì, chị ta giữ lại nhiều hoặc phần nào ngôn ngữ và những phong tục của xứ sở quê nhà. Nhưng nếu muốn là người Mỹ – được nhìn nhận như thế và thực sự thuộc về nước Mỹ – chị ta phải trở thành một thứ không thể tưởng tượng trong sứ sở quê nhà của mình: chị ta phải trở thành da trắng. Việc này có thể thoải mái hoặc không thoải mái cho chị ta nhưng nó cho chị ta sự ổn định lâu dài cùng những lợi thế cũng như những tự do nhất định”11. Đó chính là lợi ích của sự sùng bái màu da mà những người coi mình là da nâu mà không phải da đen nhận được.
Những người da nâu không thể trở thành người da trắng, nhưng họ có thể tạo ra một ngoại tộc khác kém cỏi hơn bằng cách thiết lập ra lằn ranh ngăn cách và áp đặt những cộng đồng da đen khác là kẻ ngoại tộc. Họ coi người da đen là kém cỏi, bẩn thỉu vì thế địa vị xã hội của họ sẽ cao hơn, chỉ đứng sau người da trắng. Tất nhiên bằng những điều đó, những người coi nhân xưng của mình là người da nâu sẽ có những lợi lạc, ưu tiên. Điều này được tôn tạo và bảo vệ qua cách giáo dục dành cho cậu bé Junior. Mẹ cậu dạy cậu sự khác biệt giữa dân da màu và da đen: “người da màu ngăn nắp, trang nhã và trầm lặng, bọn da đen thì bẩn thỉu và ồn ào”. Bà mẹ luôn giữ khoảng cách màu da của cậu để không có sự lẫn lộn với những người da đen bẩn thỉu vì “đường biên giới giữa da màu và da đen không phải lúc nào cũng rõ ràng, những dấu hiệu tế nhị hay lẻo mép vẫn đe dọa xoá nhoà nó, cho nên cần thường trực canh chừng”.
Nền văn minh của người da trắng luôn luôn có một lực hấp dẫn mãnh liệt dành cho cộng đồng người da đen. Đối với những người như Pecola và Pauline thì những thứ liên quan đến văn minh da trắng đều rất quý giá. Món quà yêu thích thời đó là con búp bê Baby Doll lớn, mắt xanh. Người lớn cho rằng nó là tiêu biểu, mơ ước cho lũ trẻ con. Người lớn, các cô gái lớn tuổi hơn Claudia, các cửa hàng, tạp chí, sách báo, các dấu hiệu bên cửa sổ – tất cả thế giới đều đồng ý rằng một con búp bê mắt xanh, tóc vàng, da dẻ hồng hào, đó là thứ mà mọi bé gái đều yêu thích. Họ nói với trẻ con “cái này thực là đẹp và nếu một ngày nào đó con ngoan, con xứng đáng thì con sẽ được nó”. Pecola luôn mê mẩn cái cốc có hình Shirley Temple và tìm mọi cách để uống cạn sữa để có thể mân mê nhìn ngắm khuôn mặt dịu dàng của Shirley.
Hiện hữu của người da trắng là sức mạnh, là tiếng nói của quyền lực tối cao, điều này được thể hiện qua sự chuyển biến trong cách nhìn nhận của Pauline với người da trắng. Ban đầu khi cùng Cholly mới tới Ohio, Pauline rất ghét những người da trắng nơi này: “những người tôi gặp trước đây cũng đáng ghét, nhưng họ không có quá nhiều ở gần chúng tôi […] Còn ở miền Bắc này, bọn họ ở khắp nơi”. Pauline phải sống rất gần với những người da trắng mà cô rất ghét, bọn họ ở khắp nơi, sát bên cửa, ở tầng dưới, ở khắp đường phố và xen lẫn cả dân da màu. Đối với Pauline, dân da màu ở nơi này cũng chẳng khác dân da trắng về sự bần tiện, bủn xỉn. Khi cô làm việc cho một nhà chủ da trắng ghắt gỏng, kiêu kì thì cô thấy ở họ toàn là sự bẩn thỉu, sáo rỗng, vô vị. Cô giặt giũ cho họ và cô nhận xét “không ai trong số họ biết cách chùi đít cho sao sạch” và “bọn chúng không biết cả đến đi đái như thế nào cho hợp vệ sinh. Cái đám dân da trắng tởm lợm đó thật đúng là những thứ tởm lợm nhất trên đời”.
Nhưng khi về già, Pauline đã đến làm việc cho chủ nhà người da trắng Fishers và bà cảm thấy đầy tự hào, khoái trá khi làm việc ở đây. Bà luôn nhân danh tư cách tối thượng của người da trắng khi có cơ hội: “những chủ nợ và những người phục vụ đã từng làm nhục Pauline khi bà đến với họ nhân danh chính mình, thì lại tôn trọng bà và ngay cả hơi khiếp sợ khi bà nói với họ nhân danh gia đình da trắng Fishers. Bà từ chối những miếng thịt bò hơi sẫm và thái không đúng quy cách. Bà chấp nhận mua cá có mùi ươn cho người nhà mình ăn, nhưng nếu người ta đem thứ cá đó bán cho nhà Fishers thì bà sẽ ném chúng vào mặt họ”. Với tư cách là người nội trợ giúp việc cho nhà người da trắng này, bà có trong tay quyền lực và những lời ngợi ca và sự sang trọng hào nhoáng mà ở chỗ khác không thể có. Họ cho bà một danh xưng thân mật: Polly. Bà cảm thấy sung sướng và hết mực hạnh phúc khi đứng ở nhà bếp vào cuối ngày và ngắm nhìn lại công việc mà mình đã hoàn tất trong ngày với “mọi thứ đều sạch sẽ và ngăn nắp”. Bà giữ gìn cái trật tự cho riêng mình trong một thế giới riêng tư, bà làm việc chăm chỉ để chiếm được cảm tình của chủ nhà. Họ sẽ không cho bà bỏ đi đâu cả vì đối với họ thì bà là một gia nô lý tưởng. Ở dưới cái bóng của người da trắng bà có “quyền lực, lời ngợi khen và sự sang trọng”, đó là những thứ xa xỉ mà trước đây bà không hề có.
Trước năm 1865, những người nô lệ bị nô dịch trở thành món đồ của người da trắng, họ không có tiếng nói cho mình và cũng không dám mơ đến điều đó. Nhưng sau 1865, người nô lệ da đen được giải phóng trở thành người tự do, thành công dân Mỹ, họ đã có ý thức khác đi về giá trị của mình. Từ sự sợ hãi, thuần phục của họ đã chuyển dần thành những sự ham muốn, phấn đấu để trở thành một bộ phận công dân Mỹ. Sự hoà nhập vào thế giới người da trắng tại Mỹ mang lại cho người da đen cũng như người da trắng nhập cư những lợi lạc nhất định về chính trị, văn hoá, kinh tế,…nhưng nó còn mang theo cả những mặt trái. Toni Morrison chỉ ra rằng: “những người nhập cư vào Hoa Kỳ thấu hiểu rằng nếu họ muốn trở thành người Mỹ, họ phải đoạn tuyệt hoặc chí ít phải tích cực xóa đi mối dây kết nối họ với xứ sở bản quán”12.
Sự ghê tởm của việc ngoại tộc hóa sẽ được thấy ở bọn con trai da đen, khi chúng tìm cách phản lại đồng loại mình để tìm ra sự an toàn cho bản thân. Chúng thực hiện việc này bằng cách bao quanh Pecola, làm tội cô bé bằng bài thơ chế biến từ hai vấn đề nạn nhân chẳng có quyền lực nào để kiểm soát là màu da của chính mình và thói quen ngủ nghỉ của ông bố: “con mọi đen nhỏ-con mọi đen nhỏ- ba nó ở chuồng”. Chính chúng cũng là người da đen mà bố chúng cũng như bố Pecola. Bọn trẻ nhảy nhót quanh nạn nhân, chuẩn bị đem Pecola hiến tế trên giàn thiêu để cứu chuộc cho thân phận của chính mình. Qua đây, Toni Morrison đặt ra vấn đề lớn của chủng tộc rằng còn có gì đau đớn hơn khi dòng giống da den tự chửi rủa dòng giống da đen: “hình như chúng đã thâm nhiễm sự ngu khờ đã chăm chút vun bón từ bao đời, lòng tự khinh ghét mình đã được tôi luyện, nỗi tuyệt vọng đã tạo mẫu một cách tỉ mỉ và đã hấp thu tất cả để tạo nên quả cầu lửa chứa đầy lòng khinh miệt đến độ bão hòa, cháy rừng rực từ hàng bao thế hệ trong hố thẳm tâm hồn họ”.
Thế nên, The Bluest Eye chính là công cuộc khám phá đầu tiên của Toni Morrison về sự tai hại của hành vi tự ghê tởm chủng tộc13. Để đạt được địa vị trong xã hội, được xã hội da trắng công nhận mình là những sinh vật người, một bộ phận người Mỹ da đen đã vô tình đánh mất đi bản thân, chạy theo lợi ích trước mắt và kể cả việc phản bội lại chính chủng tộc mình cũng không từ. Sự tiếp nhận, biến đổi văn hóa không chọn lọc này có thể khéo léo bịt mắt và dẫn họ tới tận cuối con đường, nơi sự suy tàn đang đón đợi cộng đồng người da đen tại Mỹ.

3. Hòa tan văn hóa và lời cảnh báo sự suy tàn
Toni Morrison luôn trăn trở với cộng đồng, chủng tộc da đen của mình: “chúng ta dễ bị mắc vào việc tự cách li bản thân, cưỡng áp những hình ảnh của chính chúng ta lên những kẻ xa lạ, cũng như tự mình mang theo cái nhân diện xa lạ, mà tự chúng ta có thể ghê sợ thế nào”14. Chính vì thế, trong Mắt biếc, Morrison dựng lên liên tục những cảnh huống người da đen muốn đánh mất đi bản chất của mình để chạy theo sự sùng bái màu da vì nỗi ám ảnh vẻ đẹp màu da trắng.
Những hậu quả của sự sùng bái màu da đã trở thành chủ đề của “sức mạnh hủy diệt tàn khốc”15. Sự sùng bái màu da mang lại sự tàn phá khủng khiếp lên nhân vât chính của sự sùng bái này, đó là tấm bi kịch Pecola. Cô bé Pecola là người tiêu biểu phải gánh chịu hậu quả của việc thiếu thốn tình thương của gia đình, cộng đồng và sự áp chế từ chế độ phân biệt chủng tộc, cô luôn là người cô đơn trong con đường đi tìm tình yêu từ gia đình, cộng đồng và xã hội. Cái nhìn của Morrison đối với Pecola là hướng về phía nhu cầu xã hội tâm lí của một “kẻ xa lạ”, của một kẻ ngoại tộc nhằm xác định cái tự thân bị li cách (kẻ đi tìm đám đông luôn luôn là một kẻ cô đơn)16.
Khi đi mua kẹo, cô đã bị ông chủ cửa hàng da trắng khinh bỉ, miệt thị. Điều này gây ra cho Pecola tổn thương không hề nhẹ, cô cảm thấy “sự xấu hổ lùi dần như ngọn triều mơ hồ rút xuống”. Cô hết sức cảm thấy lạc lõng, nhận ra những đám bồ công anh vô tri vô giác không để ý đến cô, nên cô cho chúng là xấu xí, đồ cỏ dại mà trước đó cô đã từng coi chúng là những thứ rất đẹp đẽ. Cô há to miệng như con chó con sủa toáng lên để che phủ sự bộc lộ của lòng xấu hổ. Khi nhận thức được hệ giá trị của bản thân và nghĩ đến đôi mắt khinh bỉ và giọng nói lạnh lùng của ông Yacobowski thì sự giận dữ và xấu hổ lại trào dâng với “những ngọn lạch đầy bùn của nó lại trào lên thấm vào mắt cô bé”.
Sự bỏ rơi của xã hội mà Pecola phải nhận lấy ngay cả ở trong trường học bởi thầy cô giáo cũng như bởi cả bạn bè. Cô bé là thành viên duy nhất phải ngồi một mình ở cái bàn đôi tách biệt với các bạn. Cô luôn phải ngồi ở đầu lớp nhưng thầy cô giáo không bao giờ để ý đến cô và chỉ gọi cô trong tường hợp là mọi học sinh đều phải trả lời.
Do sự xấu xí về mặt hình thể, cũng như về chủng tộc của mình nên Pecola bị phớt lờ, bị coi thường vì thế Pecola hay ngồi hàng giờ trước gương để ngẫm nghĩ, cố gắng khám phá ra cái bí ẩn của sự xấu xí của mình do đâu mà ra. Pecola đổ hết tội lỗi cho đôi mắt mình – đôi mắt mà bao nhiêu tia nhìn của mọi người đã từng biết. Cô thầm ước ao: “nếu như đôi mắt ấy khác đi, nghĩa là đẹp ra thì có lẽ mình cũng khác đi”. Cô luôn mơ tưởng ra cảnh tượng hình dạng của mình thay đổi và vui sướng vì hiệu quả đáng ngạc nhiên của sự thay đổi này với “hàm răng đầy đặn, trắng bóng, mũi của mình trông không bự, dẹt”. Đôi mắt mà Pecola ước mơ là: “Đôi mắt đẹp – đôi mắt xanh đẹp – mắt xanh, to đẹp – đôi mắt màu xanh da trời – xanh như màu xanh của bà Forrest – mắt xanh của buổi mai vinh quang – những đôi mắt xanh của buổi mai vinh quang”. Từ sự bỏ rơi, không nhận được tình yêu thương từ gia đình và đặc biệt quan trọng là bị sự cô lập, chối bỏ từ xã hội người da trắng nên Pecola ước ao có đôi Mắt biếc.
Đôi Mắt biếc là hiện thân cho cái đẹp là hiện thân của những con búp bê da trắng mà mọi người yêu mến cũng như của những tài tử, nữ thần da trắng được xã hội thần tượng, nên Pecola có khát khao cháy bỏng muốn được sở hữu đôi mắt đó, hi vọng một ngày nào đó mình sẽ được xã hội công nhận, không bị xa lánh, hắt hủi. Đối với ước mơ lớn lao này, cô bé đã rất thành tín, cầu nguyện suốt cả năm ròng. Để chờ đợi điều kì diệu này xảy ra thì cho dù có lâu, có nhụt chí đến đâu thì cô bé cũng không mất hi vọng. Nhưng sự sùng bái màu da này lại đem tới cho Pecola kết cục hết sức bi thảm.
Đôi mắt xanh tuyệt vời mà Pecola ao ước chỉ có thể dựa vào các thế lực ảo tưởng, thần thánh mới tạo ra được, trên thực tế thì không thể nào Pecola có thể sở hữu đôi mắt này. Nhưng trong tác phẩm của mình Toni Morrison đã cho nhân vật Pecola có được đôi mắt xanh, nhưng cô bé sở hữu đôi mắt tuyệt diệu như thế không phải trong hoàn cảnh bình thường mà là khi cô bé đã bị điên. Lúc ấy cô bé còn đang mang thai giọt máu của ông bố tội lỗi, nên mọi người nói xấu, đặt điều và xa lánh cô. Cô đã có đôi mắt xanh cho riêng mình, nhưng cô vẫn cảm thấy cô đơn, lạc lõng và phải nói chuyện một mình. Như vậy, cô tưởng rằng mắt mình chưa được xanh đến mức để mọi người yêu mến và cô lại ghen tị, ước muốn có đôi mắt xanh hơn của người khác. Pecola đã tự đánh mất đi bản thân và bù lại, cô nhận được thứ nhân dạng xa lạ với bản sắc văn hoá vốn có của mình.
Nhà văn hóa Hữu Ngọc đã chỉ ra rằng: “nếu như bản sắc văn hoá và nhân cách của dân tộc bị trị không đủ mạnh thì rất có thể phần tiếp biến văn hoá mong manh đến mức dân tộc ấy bị đồng hoá bởi nền văn hoá thống trị. Trong trường hợp ngược lại, sẽ có một quá trình diễn biến biện chứng vừa gạt bỏ nền văn hoá của kẻ chinh phục, đồng thời thu lượm biến cải một số yếu tố của nền văn hoá mới lạ của đối phương”17. Điều này rất giống với lời cảnh báo dành cho cộng đồng người Mỹ da đen của Toni Morrison khi xây dựng nên tấm gương bi kịch văn hoá – Pecola với ước mơ Mắt biếc. Những người như Pecola do bản lĩnh hấp thụ vốn văn hóa của cộng đồng rất yếu kém và đó còn là sự khinh rẻ bản sắc dân tộc, nên cô dễ dàng trở thành con mồi bị văn hóa của người Mỹ da trắng đánh bại, bị cuốn sâu vào chúng và cô bé đã trở thành con người mang nhân dạng thê thảm đen không ra đen, trắng không ra trắng.
Pecola tưởng rằng sự hòa tan văn hóa sẽ mang lại những điều tốt đẹp cho cô nhưng thực tế thì lại phản tác dụng. Tạo ra cảnh huống bi kịch như thế, chắc chắn đây chính là tiếng cười mỉa mai, chua xót từ Toni Morrison dành cho cộng đồng người Mỹ gốc Phi của mình. Nếu họ cứ mơ tưởng hão huyền, ao ước cầu Chúa che trở (như bác Tom trong Túp lều bác Tom), hay dựa dẫm vào những cái gì mà trên thực tế không bao giờ trở thành hiện thực thì sẽ có kết cục thê thảm, khốc liệt như chính Pecola. Hình thức tự hoà tan văn hoá của những người như Pecola đã bị thất bại, vậy nên họ chỉ còn một con đường duy nhất, đó là phải tự tranh đấu. Người da đen, nếu muốn được cộng đồng đón nhận thì họ phải thực tế hơn, phải đấu tranh, miễn không được ảo vọng, mơ mộng vào những điều không có thực. Cộng đồng Mỹ gốc Phi và các dân tộc khác trên thế giới nếu như đã để đánh mất bản thân, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc thì họ cũng sẽ đánh mất luôn cả linh hồn cũng như lẽ sinh tồn.
Từ cuối thập kỉ 1950 đến đầu thập kỉ 1960, những người Mỹ gốc Phi do Martin Luther King lãnh đạo đã dùng tẩy chay, biểu tình và dùng các hoạt động phản kháng phi bạo lực khác để đòi quyền được luật pháp đối xử bình đẳng và đòi chấm dứt tình trạng phân biệt chủng tộc. Đỉnh điểm của phong trào đòi quyền dân chủ này là ngày 28 tháng 8 năm 1963 khi hơn 200.000 người đủ các màu da tập trung trước đài tưởng niệm Lincoln tại Washington DC để nghe bài phát biểu Tôi có một giấc mơ của Martin Luther King18.
Vấn đề ước mơ tự do, đấu tranh đòi quyền bình đẳng dành cho chủng tộc Mỹ da đen mà Toni Morrison đặt ra trong Mắt biếc cũng rất giống khát khao của Luther King trong bài phát biểu đi vào huyền thoại đòi tự do nhân quyền: “tôi có một ước mơ rằng một ngày kia trên những ngọn đồi đất đỏ của bang Geogria, con cái của người từng là nô lệ và con cái của những người từng là chủ nô sẽ có thể ngồi cạnh nhau như những người anh em…Tôi còn có một ước mơ rằng bốn đứa con nhỏ của tôi một ngày kia sẽ sống trong một quốc gia mà chúng sẽ không bị đánh giá bằng màu da mà bằng nhân cách của chúng”.
Vào những năm 1966 đến 1968, trong số những người da đen đấu tranh đã xuất hiện một nhóm nhỏ cực đoan có những hành động khủng bố, giết người, đốt nhà19,…Điều này cho thấy thời kì trước khi Toni Morrison hoàn thành Mắt biếc, xã hội người da đen đầy rẫy bất ổn, họ luôn phải phản kháng, đấu tranh. Hành động của họ không khác gì việc phá huỷ những con búp bê da trắng của Claudia và cô đã nhận ra đó là thứ bạo lực vô vị lợi đáng tởm, đáng tởm vì nó vô vị lợi. Nhưng thực sự họ đã bị chế độ phân biệt chủng tộc đè nén, áp bức, đưa đẩy đến tận cùng vực thẳm nên họ mới nảy sinh những hành động như vậy.
Những người như Pecola cũng như toàn thể người Mỹ gốc Phi trong xã hội Mỹ nếu muốn giải phóng bản thân, muốn được mọi người quý trọng, yêu thương thì họ không được phép chịu đựng đàn áp bất công của xã hội người da trắng, không được ỷ lại vào người khác, cũng như không được ỷ lại vào những lĩnh vực siêu hình thần thánh, họ phải tự tạo ra tiếng nói, tạo nên trọng lượng, tự tranh đấu để mang lại hạnh phúc cho mình cũng như cho cộng đồng. Chính vì thế, đa số người da đen như Toni Morrison vẫn tranh đấu bằng nhiều cách khác nhau để tạo ra lịch sử riêng dành cho cộng đồng mình.
Lời kết: Mắt biếc tuy là tiểu thuyết đầu tay của Toni Morrison, nhưng giá trị của nó thật vô cùng to lớn, tạo nên tên tuổi, tiếng nói cho bà với tư cách nhà văn và nhà hoạt động vì xã hội. Toni Morrison đã mô tả kĩ càng cuộc tiếp biến văn hóa, trong đó, những gười da trắng mang tâm thức ủng hộ chế độ nô lệ luôn tìm cách đưa người da đen ra vùng ngoại biên, áp đặt họ trở thành kẻ ngoại tộc bẩn thỉu, đẩy họ vào Bước đường cùng. Nhưng người da đen trong những tình huống đó không chịu để mình bị động, họ vươn lên văn minh của những người da trắng bằng mọi cách có thể. Qua đây, Toni Morrison đã góp phần kiến tạo thêm một tiếng nói phê phán chế độ phân biệt chủng tộc đang rất nhức nhối của xã hội Hoa Kỳ mà những người Mỹ gốc Phi phải chịu đựng biết bao cay đắng, tủi hờn trong cuộc sống của họ từ nó và đồng thời bà cũng lên án việc sùng bái màu da – sức mạnh của sự hủy diệt tàn khốc.
Năm 1963, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua luật cấm phân biệt đối xử trong bầu cử, giáo dục, lao động, nhà ở và dịch vụ công cộng…Với cơ hội nhỏ nhoi đó, những người da đen đã nghiêm túc đăng kí vào danh sách cử tri, nghiêm túc bỏ phiếu, nghiêm túc học hỏi và làm việc, bước những bước vững vàng về dòng chảy của xã hội để tranh thủ tạo dựng địa vị bình đẳng cho mình. Đây chính là những thành công bước đầu xác lập tiếng nói của cộng đồng người da đen ở Mỹ. Trong những năm trở lại đây, nước Mỹ đã từng tám năm liền được lãnh đạo bởi vị Tổng thống tối cao người da đen: ông Barack Obama. Điều này khẳng định rằng hiện tại những người da đen tại Hoa Kỳ đã được sống một cuộc sống dễ chịu và có được vị thế cao hơn so với ông cha họ trước kia.
Tuy hiện tại chế độ phân biệt chủng tộc ở Mỹ có vẻ đã bị đẩy lùi vào quá khứ, nhưng nó vẫn chưa hoàn toàn bị loại trừ ra khỏi đời sống xã hội Mỹ. Trong cuộc sống của cộng đồng người Mỹ da đen vẫn còn nhiều nhức nhối về vấn đề văn hóa, kinh tế, xã hội,…tồn tại sự phân biệt trong nhiều lĩnh vực, dưới nhiều hình thức tinh vi hơn trước và người da đen vẫn phải chịu đựng nhiều thiệt thòi. Cho dù những cơ hội chưa từng có đã giúp người Mỹ da den tiếp cận hệ thống chính trị, giáo dục đại học và tuyển dụng nhân lực,…nhưng do những tàn dư của chế độ nô lệ và sự kì thị chủng tộc, người da đen vẫn là cộng đồng tụt hậu về nhiều mặt nếu so sánh với người da trắng. Chính vì thế, chừng nào những hệ lụy nhức nhối ảnh hưởng đến người Mỹ gốc Phi vẫn còn chưa được giải quết thỏa đáng thì vấn đề phê phán chế độ phân biệt chủng tộc và sự sùng bái màu da trong Mắt biếc của Toni Morrison vẫn còn sức sống mãnh liệt.

***
Tài liệu trích dẫn
1. Kathryn Van Spanckeren, Tóm lược Văn học Hoa Kỳ, Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2007, tr.31.
2. Trần Bách Hiếu, Phong trào đấu tranh đòi quyền tự do và bình đẳng của người nô lệ da đen ở Mỹ, Tạp chí Nghiên cứu con người số 5, 2009, tr.39-40.
3. Trần Bách Hiếu, đd, tr.40.
4. Toni Morrison, Mắt biếc, Nxb Trẻ, HCM, 1995. Mọi trích dẫn tiểu thuyết của Toni Morrison ở những phần tiếp theo được đặt trong dấu ngoặc kép mà không chú thích đều lấy từ nguồn này.
5. Trần Bách Hiếu, đd, tr.44-45.
6. 7. Lê Nguyên Long, Dịch, chiến tranh và ký ức văn hóa: tiếp cận thể loại tự thuật về đời sống bị cầm tù trong văn học Mỹ từ cuối thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XVIII từ điểm nhìn dịch văn hóa, Chuyên san Văn học – Văn hóa đương đại Hoa Kỳ số 7, HN, 2015, tr.142.
8. Nguyễn Ngọc Dung, Chế độ nô lệ và sự chia rẽ xã hội Mỹ trước cuộc nội chiến Nam-Bắc (1861-1865), Tạp chí Khoa học Xã hội số 8, 2013, tr.62.
9. Trần Bách Hiếu, đd, tr.45.
10. Toni Morrison, Nguồn gốc của ngoại tộc, Nxb Hội nhà văn, HN, 2018, tr.41.
11. Toni Morrison, đd, tr.84-85.
12. Toni Morrison, đd, tr.43.
13. Toni Morrison, đd, tr.40.
14. Toni Morrison, đd, tr.46.
15. Toni Morrison, đd, tr.87.
16. Toni Morrison, đd, tr.41.
17. Hữu Ngọc, “Chế độ thực dân và tiếp biến văn hóa” in ở Lãng du trong văn hóa Việt Nam (tập 3), Nxb Kim Đồng, HN, 2019, tr.174.
18. George Clacrk, Chân dung nước Mỹ, Nxb Thanh niên, 2006, HN, tr.5-8.
19. Trần Bách Hiếu, đd, tr.47.


*

để lại phản hồi